31. Thiền Sư La Hán Quế Sâm

12/10/202118:07(Xem: 28577)
31. Thiền Sư La Hán Quế Sâm

131_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Que Sam




Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học về Thiền Sư La Hán Quế Sâm (bài pháp thứ 180). Ngài là vị Thiền Sư đặt nền móng vững chắc cho Thiền phái Pháp Nhãn .

Ngài quê ở Chiết Giang , nơi sinh ra những Thiền Sư nổi tiếng.

Từ lúc còn bé, Ngài có túc duyên thiện căn từ kiếp trước, chỉ ăn một bửa cơm chay mỗi ngày, không ăn thịt , và  Ngài nói ra những điều khác thường.
Lớn lên, Ngài xin xuất gia và giỏi trì giới , ngăn ngừa nghiệp ác phát sanh.
Sau đó, Ngài lên đường tham vấn học thiền , và đến đảnh lễ TS Tông Nhất Huyền Sa.

Tổ Tông Nhất Huyền Sa hỏi Ngài hiểu sao về "Ba cõi do tâm tạo", 
Ngài chỉ cái ghế dựa, hỏi: Sư Phụ gọi nó cái ấy là gì?
Tổ Tông Nhất Huyền Sa đáp: Đó là ghế dựa.
Ngài thưa: Hòa thượng không hiểu “tam giới duy tâm” là gì rồi.
Tổ Tông Nhất Huyền Sa bảo: Ta gọi cái ấy là cây trúc, con gọi là gì?
Ngài thưa: Con cũng gọi là cây trúc
Tổ Tông Nhất Huyền Sa bảo: Tận đại địa này tìm không ra nổi một người hiểu Phật pháp.
Ngai do đây mà tổ ngộ, liền sụp lạy lễ tạ Sư Phụ.
Ngài ngộ được cái "thể" (bản chất thật) của cây trúc là để làm ghế dựa, ghế trụi, ghế dài.... nhưng có tên gọi dựa theo cách sử dụng (dụng) mà có tên gọi khác nhau, chúng sanh cũng vậy, do nghiệp tướng, nghiệp dụng có khác nhau về tướng trạng, cảnh giới, nhưng đứng trên mặt thể đều đồng đẳng với nhau về Phật tánh, Chơn Như, tức là tự tánh trong sáng hằng có bên trong của tất cả chúng sanh vạn loài, trùm khắp hư không. Có chứng mới biết được điều này.

Cuối đời ,Ngài có chút bệnh, rồi ngồi kiết già mà an nhiên thị tịch vào năm 928 thọ thế 62 tuổi.Vua ban tặng danh hiệu cho ngài là Chơn Ứng Đại sư. Thiền Sư Hư Vân có làm bài thơ để tán thán công hạnh của Ngài, do HT Minh Cảnh dịch và Sư Phụ diễn ngâm cuối buổi giảng rất hay:

Hội gì trong các cõi quần sanh
Ghế gỗ trúc này thật giả danh
Ông đã không còn vương ý tưởng
Tôi thì cũng chẳng chấp ngôn hành
Hư không đại địa ai người biết
Biển cả vi trần ít mắt xanh
Chân Ứng thiền sư thường tỏa sáng
Môn đồ bốn chúng thảy vây quanh.


Kính mời xem tiếp



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/11/2010(Xem: 13679)
Các Sa-di-ni thân mến, Chọn “đi tu” làm Sa-di-ni (P. Sāmaṇeri, S. Śrāmaṇeri, 沙彌尼), sau đó, làm Thức-xoa (P. Sikkhamānā. S. Śikṣamānā, 式叉摩那),[1] Tỳ-kheo-ni (P. bhikkhuni, S. bhikṣuṇī, 比丘尼), các con đang đi theo lý tưởng cao cả và hạnh nguyện độ sinh của đức Phật, các bậc Bồ-tát, các Thánh tăng trong lịch sử hơn 2.600 năm của đạo Phật. Đó là diễm phúc lớn của các con và gia đình các con ở đời này. Sa-di-ni có nghĩa đen là “Sa-môn tử” (沙門子), tức người đang tập hạnh làm Sa-môn (P. Sāmaṇa, 沙門). Các Sa-di-ni tuổi thiếu nhi được gọi là “cô tiểu” ở miền Nam, hay “cô điệu” ở miền Trung hoặc “sư bác” ở miền Bắc. Sa-môn là từ chỉ cho các tu sĩ vô thần tại Ấn Độ trong thời cổ đại, không chấp nhận đạo Bà-la-môn đa thần, không chấp nhận Thượng đế, không chấp nhận số phận, cách tu tín ngưỡng và ép xác của đạo Bà-la-môn. Đạo Phật do đức Phật Thích-ca sáng lập là một trong các trường phái Sa-môn, mở ra con đường tỉnh thức, giác ngộ và giải thoát cho nhân loại khỏi tất cả nỗi khổ và niềm đau.
08/10/2010(Xem: 7708)
Truyện thiền không những có tính tôn giáo, triết lý mà còn có giá trị văn học cao. Nó mang ý nghĩa siêu hình, với hình thức ngụ ngôn, bố cục giản lược, trào lộng, kết thúc đột ngột, lại dùng những phương pháp tu từ đặc biệt như điệp ngữ, nghịch lý, đa nghĩa, chữi để mà khen, buông thỏng nửa chừng không kết thúc, lấy câu hỏi để trả lời câu hỏi vv…Đó là đặc sắc của truyện thiền. Cho nên đọc chuyện thiền là vừa học đạo[1] vừa thưởng thức một tác phẩm văn chương kỳ thú.
20/09/2010(Xem: 10898)
ĐứcThế Tôn thường nói: “Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là 'Cái này khôngphải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã củatôi.'” Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao tư tưởng vô ngã lại được diễn đạt như là hệ quả từ thực tế khổ? Lý do để giải thích có thể rút ra từ Tiểu kinh Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta), Trung Bộ kinh... Mặc dầu hư vọng phân biệt là một khái niệm liên quan mật thiết với đối cảnh sở duyên của chỉ quán, nhưng thực ra, hư vọng phân biệt là thức và thức là duyên sinh...
28/06/2010(Xem: 32266)
Bản dịch Việt Bích Nham lục được thực hiện với một tấm lòng tôn kính, cảm phục tài đức của giáo sư Wilhelm Gundert (12. 4. 1880-3. 8. 1971). Vì W. Gundert đã giới thiệu tường tận về tác phẩm độc nhất vô nhị này nên dịch giả người Việt hạn chế tối đa những lời dư thừa, chỉ đề cập đến nguyên tắc dịch, một vài nét đặc biệt cũng như kĩ thuật được áp dụng trong bản dịch Việt:
08/01/2009(Xem: 17423)
Trong tập sách này, tác giả Nguyễn Tường Bách trình bày lại các chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển của ngành vật lý và triết học về khoa học tự nhiên trong hơn 25 thế kỷ qua. Tác giả chú trọng đặc biệt đến sự phát triển của hai lý thuyết vật lý quan trọng nhất trong thế kỷ 20, thuyết tương đối và thuyết lượng tử cũng như ý nghĩa triết học của chúng. Chính những lý thuyết này sẽ giúp bạn đọc hiểu được mối liên hệ với triết học và tư tưởng Phật giáo ở phần sau. Vẫn xoay quanh những câu hỏi muôn đời của loài người "vũ trụ là gì, từ đâu mà có?", "thực tại trước mắt chúng ta thực chất là gì?", "bản chất của thực tại vật chất là gì?"…, tác giả dẫn dắt chúng ta theo một hành trình từ vật lý đến triết học rồi gõ cửa và dừng chân ở tư tưởng Phật giáo để lý giải thế giới hiện tượng. "Cuộc sống là một dòng tâm thức bất tận, không đầu không đuôi… Hãy đơn giản hóa một đời thành một ngày. Đời này của chúng ta như là ngày hôm nay…"