Tu Tâm và Tu Tướng

13/10/201908:05(Xem: 9554)
Tu Tâm và Tu Tướng

duc the ton-11

Tu Tâm và Tu Tướng


Trong cuộc đời này, nói rộng ra ở cõi Ta Bà này, từ Đông sang Tây, con người thường bị mê mờ hay mê luyến vào hình tướng bề ngoài và quên mất hay đồng hóa nó với thực tướng/bản  chất/nội tâm ở bên trong. Nguyên do chỉ vì chúng sinh vọng chấp vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sanh tâm mình (Kinh Viên Giác). Thí dụ:

-Một cậu thanh niên thấy một cô người mẫu, hoa khôi, á hậu…đẹp như tiên nga giáng thế… tưởng đó là “người trong mộng” hay “người yêu lý tưởng”. Khi lấy về thì bao nhiêu tính xấu mới lộ ra, bao xung đột vì khác tính tình. Mối tình trong mộng nay biến thành  “oan gia trái chủ” khiến cười đau khóc hận.

-Một cô gái thấy một anh chàng hào hoa, đẹp trai, cử chỉ lịch sự…tưởng đó là “hoàng tử của lòng em”, lấy về mới tá hỏa ra đó là anh chàng Sở Khanh, tốt mã giẻ cùi…thôi thì vỡ mộng.

-Vào siêu thị thấy trái cây vỏ ngoài còn xanh tốt. Mua về bổ ra, cắt ra mới thấy bên trong đã hư thối. Đi các chợ rẻ tiền không tín nhiệm thường bị lường gạt là như thế.

-Nghe quảng cáo các món hàng, dịch vụ trên truyền hình, đài phát thanh…thấy mà mê. Háo hức mua về dùng thử mới thấy đó là đổ dỏm hay đồ giả.

            Tất cả những thứ này người ta đã dùng hình tướng tốt đẹp bề ngoài (sắc,thanh, hương, vị) để che dấu thực tướng tức cái không tốt, cái xấu ở bên trong.  Ngay trong đường lối tu hành ngày nay, một số rất đông cũng đã và đang mải mê theo con đường tu tướng, tức lấy hình thức, hình tướng để hành đạo… mà cho đó hoặc tưởng đó là con đường tu hành chân chính. Một số rất đông Phật tử không phân biệt được thế nào là Tâm (thực chất) và thế nào là Tướng (hình thức bề ngoài) vô tình đã bị các vị này mê mờ. Thậm chí tại California nơi tôi ở, một số chùa làm cơm chay miễn phí thật ngon để “câu” Phật tử. Một số bà khi gặp nhau thì bình phẩm chùa nào nấu cơm chay ngon rồi rủ nhau đi chùa đó. Nghe cả trăm thầy giảng và băng đĩa, thậm chí hành hương cả Tứ Động Tâm nơi Đức Phật sinh ra, thành đạo, hành đạo và nhập diệt… mà tu hành mà như thế thì đúng là cười ra nước mắt. Vậy thì đâu là tu tướng và đâu là tu tâm?

1) Tu tướng tức là dựa vào hình tướng bên ngoài:

-Tụng kinh cho hay, cho hấp dẫn…

-Thuyết giảng cho hay cho hấp dẫn…vẫn chỉ là hình tướng.

-Lễ nghi trang trọng, huyền bí vẫn chỉ là hình tướng.

-Phát hành cả trăm băng đĩa, viết cả chục cuốn sách…

-Thậm chí có cả triệu tín đồ đi theo vẫn chỉ là hình danh sắc tướng. Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy rằng, “Bồ Tát trụ vào nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng đều không phải là Bồ Tát.” Xin nhớ cho tín đồ đi theo chính là chúng sinh tướng.

-Được báo chí phỏng vấn bốc lên tận mây xanh, trao giải thưởng…vẫn chỉ là hình tướng. Giải thưởng, thậm chí như Giải Nobel, nhiều khi chỉ vì nhu cầu chính trị và trao lầm không biết chừng. Thụy Điển đã đe dọa thu lại Giải Thưởng Nobel Hòa Bình trao cho Bà San Suu Kyi vì bà này không ngăn cản quân đội đàn áp người thiểu số Hồi Giáo Rohingya tại Miến Điện. Rồi thế giới lại hối hận vì đã trao lầm Giải Thưởng Nobel Hòa Bình cho Ô. Obama khi ông mới nhậm chức tổng thống được vài tháng, sau đó tiến hành cuộc tiến công vào Libya giết chết Ô. Gaddafi khiến đất nước này tan nát cho tới bây giờ.

-Thậm chí cố gắng lấy cho được văn bằng Tiến Sĩ Phật Học…thì cũng chỉ là sắc tướng. Ngài Thần Tú văn chương uyên bác mà vẫn chưa ngộ. Trong khi Huệ Năng không biết một chữ mà tâm đã là tâm Phật. Vậy thì chữ nghĩa, kiến thức, bằng cấp không phải là nhân tố quyết định trong việc tu học. Ngộ và quyết tâm tu học mới là yếu tố quyết định.

-Trụ trì chùa thật to, thật đồ sộ…vẫn chỉ là hình tướng.

-Chức vụ thật cao trong giáo hội…vẫn chỉ là sắc tướng.

-Thậm chí cả “Thiền trà, thư pháp” cũng vẫn chỉ là hình tướng, nó chẳng biểu lộ sự chứng đắc của Thiền sư.

-Làm thơ rồi nhờ nhạc sĩ phổ nhạc, ca sĩ nổi tiếng hát…chính là “bệnh” phô trương. Kinh Phật , kệ tụng của chư Tổ …có cần nhờ ai phổ nhạc, ca sĩ hát, thu vào băng đĩa…sao đọc tụng cho tới bây giờ?

-Đi đâu cũng đòi phải có lọng che như “vua quan võng lọng ngày xưa”, tức lụy vào hình danh, sắc tướng…mà giảng về “thiền chánh niệm” về “tỉnh thức” là…phỉ báng Thiền.

-Thậm chí có 32 tướng tốt như Phật vẫn chỉ là nhan sắc, chưa phải là Phật. Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề, “Chuyển Luân Thánh Vương có 32 tướng tốt cũng gọi là Phật sao?”

-Hoa hậu, hoa khôi, á hậu, ca sĩ, MC, người mẫu, tài tử nổi tiếng, ăn mặc đẹp như Tiên, nữ trang đeo đầy cổ, đầy tay…đứng khép nép, chắp tay cung kính trước tượng Phật, trông dịu hiền như Phật Bà Quan Âm…rồi hình chụp đăng tràn lan trên các báo…nhưng nhiều khi chỉ là “đóng kịch”, chưa chắc đã là Phật tử chân chính giữ được năm giới cấm. Chớ có lụy vào hình tướng bề ngoài này. Các cô nên thay một bộ áo lam bình dị, tới chùa quét dọn, lau chùi nhà vệ sinh, phục vụ cơm chay cho các cụ già, các khóa tu mùa hạ… như thế mới chính là tu hành theo Phật và tu tâm. Tu tướng chỉ mang tội vì lừa dối chính mình. Tu tâm mới vun trồng phước báu và phát triển trí tuệ. Tu tướng làm mê mờ trí tuệ.

2) Như vậy thế nào là tâm tướng và tu tâm?

-Nguy nhiên, tự tại, tâm không động…đó là hiện bày của tâm tướng.

-Từ bi hiện ra trên nét mặt, qua hành động cử chỉ, lời nói…đó là hiển lộ của tâm tướng.

-Trước cảnh khổ, oan trái… nhẫn nhục không kêu than giống như “Tiểu Kính Tâm”…đó chính là biểu lộ của tâm tướng.

-Coi quyền chức, danh vọng như phù vân…đó chính là hạnh của tu tâm.

-Thấy tiền bạc phải thấy sợ vì muôn ngàn tai họa xảy đến đều do tiền bạc. Đức Pháp Chủ Thích Phổ Tuệ nói rằng ngài sợ hãi, lánh xa tiền bạc…đó chính là biểu hiện của tâm thanh tịnh hay tâm Phật.

-Tiền của đàn na thí chủ, Phật tử cúng dường…chỉ dùng vào Phật sự, chu cấp cho kẻ nghèo khó, phát học bổng cho học sinh hiếu học…không giữ làm của riêng…đó chính là tu hạnh thanh tịnh và bố thí Ba-la-mật.

-Thấy sắc đẹp của nam-nữ phải thấy đó là ngục tù và tai họa.

-Nghe lời khen không động tâm, nghe lời chê không tức giận…là tâm đã đi vào Định.

-Chùa nghèo, dù trong hang động, nơi thâm sơn cùng cốc…không Phật tử cúng dường, không các bà giàu có đến thăm viếng, không cơm chay chục món…mà vẫn thong dong tự tại…đó chính là Bồ Tát ẩn tu.

-Thuyết pháp cả trăm ngàn người nghe mà tâm vẫn không cao ngạo… coi đó như “giấc mộng ngày hôm qua”, không coi thường Phật tử, không nghĩ mình đã là Thánh, là Phật…đó là tâm địa của Bồ Tát. Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy rằng, “Bồ Tát diệt độ được vô lượng vô  biên chúng sinh, nhưng không có chúng sinh nào được diệt độ. Như thế mới gọi là Bồ Tát.”

-Chùa rộng biến thành quán trọ cho học sinh nghèo tá túc trong mùa thi. Rồi cơm chay miễn phí…đó là công hạnh từ bi.

-Xây nhà tình nghĩa, xây cầu, giếng nước cho các thôn bản, gia đình nghèo khó…đó là huân tập hạnh “hằng thuận vì lợi ích chúng sinh”.

-Phát áo ấm cho học sinh nghèo trong mùa lạnh, thăm hỏi cô nhi quả phụ, người già trong bệnh viện…là thể hiện tinh thần cứu khổ.

-Cùng các bạn trẻ, sinh viên xuống đường thu dọn rác, làm sạch môi trường chính là “làm trang nghiêm cõi Phật”. Cõi Phật không có uế trược, không có ô nhiễm, không có xả rác bừa bãi.

-Mở mang trí tuệ cho mọi người, không mê mờ chúng sinh bằng những chuyện mê tín, huyễn hoặc như …xin xâm, bói quẻ, xem ngày giờ tốt-xấu, tuổi nào hợp với tuổi nào, người chết phải chôn vào giờ nào. Phật tử và người tu hành chân chánh phải “Duy tuệ thị nghiệp”. Thiền Sư Bảo Giám đời Lý (1173) dạy rằng, “Muốn thành Phật cháng đẳng chánh giác phải nhờ trí tuệ”. Chúng sinh sống bằng tình cảm, mê tín và gom góp của cải. Các bậc đại sĩ, hiền thánh, Bồ Tát và Phật sống bằng trí tuệ (Bát Nhã). Tài sản của các ngài là lòng Từ Bi.

- Tổ chức các khóa tu mùa hạ, xuất gia gieo duyên cho giới trẻ …là gieo trồng căn lành, gầy dựng hạt giống Phật cho ngày mai, là góp phần xây dựng xã hội. Đó là hạnh cứu thế. Đức Phật ra đời cũng chỉ vì hạnh nguyện cứu độ chúng sinh.

Tóm lại, đạo Phật không phải là đạo của thời trang, kiểu cọ, hình thức bề ngoài. Đạo Phật không bao giờ dùng hình tướng hay nghi thức tế lễ huyền bí để lòe mị chúng sinh. Như Tổ Đạt Ma đã nói, cốt tủy của đạo Phật là, “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” hay “Tức tâm tức Phật” hay “Ngoài tâm không Phật”. Ngày xưa, khi Đức Phật còn tại thế, các đệ tử của Phật kể cả hàng tục gia (cư sĩ) chỉ tu theo Bát Chánh Đạo và Thiền Định mà đắc quả. Không hề có chuyện Đức Phật cúng vong, cúng mông sơn thí thực, cầu siêu, làm lễ chôn cất người chết. Cũng không hề có chuyện Đức Phật làm lễ thành hôn (nay gọi là hằng thuận) cho ai. Các đệ tử của Phật cũng không hề cầu nguyện để được giải thoát mà chỉ nương theo lời chỉ dạy và công hạnh của chư  Phật và các hàng Bồ Tát để tu tập. Khi du nhập vào Trung Hoa và Việt Nam, đạo Phật đã biến thể và đẻ ra rất nhiều nghi thức cầu nguyện và cúng tế không khác gì các pháp sư, thầy cúng, thầy bói.

Nhập thế và độ sinh không có nghĩa là chiều theo và dung dưỡng tinh thần mê tín, dị đoan của chúng sinh. Chúng ta phải coi lại và biết dừng lại và đánh giá xem đâu là chánh pháp và đâu là tà pháp. Cột trụ “Trí Tuệ”, “Tánh Không” và “Trí Tuệ Bát Nhã” của Phật Giáo sẽ gẫy đổ nếu chúng ta cứ sa đà vào các hình tướng cúng kiếng cầu nguyện đầy hình thức như thế này.

Đạo Phật nổi bật và hi hữu trên thế gian này  là vì nó không dựa và Thần Linh và những nghi thức cúng tế, cầu nguyện. Đạo Phật cũng nổi bật vì lời dạy của Đức Phật “Tự thắp đuốc lên mà đi”. Điều đó có nghĩa là, nghe lời giảng dạy của Phật, của chư Tổ.. rồi như con chim đủ lông đủ cánh, lìa tổ và tự lo cho cuộc đời mình…tức không cần thầy nào, chùa nào độ cho mình cả. Cầu nguyện chỉ là trợ lực, nhưng sẽ là vô ích nếu mình không tự tu, tự chứng.  Đã đến lúc chúng ta phải giảm bớt và thanh lọc bớt nhưng nghi thức, tế lễ, cúng kiếng trong tinh thần “độ sinh nhưng không xa lìa trí tuệ”. Đó là công việc vô cùng nặng nề và bức thiết của Giáo Hội. Xin nhớ cho,  mất Trí Tuệ thì Đạo Phật cũng giống hệt như các tôn giáo khác.

Riêng đối với người Phật tử hay người xuất gia tu hành chân chính… phải soi rọi vào tâm mình, nhìn thẳng vào tâm mình và phải thấy trong tâm mình có Phật. Khi đã nhìn thấy tâm mình là tâm Phật (kiến tánh, thấy tánh) thì quyết tâm tu hành để hiển lộ tâm ấy. Tâm Phật là tâm “bất nhị”, bản tế bình đẳng, thân tâm vắng lặng, viên mãn mười phương cõi, tịch mịch chiếu soi mà hiện ra các Tịnh Độ (Kinh Viên Giác). Tâm Phật không huyền bí mà có thể hiển lộ ra ngoài bằng những gì nói ở phần trên. Do đó người Phật tử chân chánh phải xa lìa lối tu tướng mà phải hướng về tu tâm. Tu theo chánh đạo là tu tâm. Tu theo tà đạo là tu tướng. Chính vì thế mà trong Kinh Kim Cang, Đức Phật dạy rằng, “Kẻ nào dùng âm thanh cầu ta, dùng sắc cầu ta, kẻ ấy hành tà đạo, không thể thấy Như Lai.” “Không thể thấy Như Lai” ở đây có nghĩa là dù tu cả ngàn năm vẫn chỉ là phàm phu và có khi mang tội không biết chừng.


Thiện Quả Đào Văn Bình

(California ngày 12/10/2019)

Ý kiến bạn đọc
12/10/201922:49
Khách
Excellent reminder to look within critically and see what is there beyond our clinging and delutions....
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/11/2025(Xem: 3227)
(1):Long Thần, Hộ Pháp ở quanh ta. Lành, dữ ta làm khó giấu qua. (sưu tầm) Phải nhớ làm gì, dù thật nhỏ. Biết là việc ÁC, phải lìa xa!
04/11/2025(Xem: 3318)
Ăn mặn, cứ nghĩ con vật: thân nhân mình. Tự nhiên thấy ớn nhợn, rùng mình dừng ngay. Thực tập như vậy trong bữa ăn hàng ngày. Rồi chắc chắn bỏ mặn, ăn chay mấy hồi.
01/11/2025(Xem: 3313)
Có những ngày không chỉ được ghi lại bằng hình ảnh hay lời nói, mà bằng chính sự rung động trong tim. Ngày truyền thống của Gia Đình Phật Tử Miền Bắc California năm nay là một ngày như thế – một ngày Chủ nhật tháng Mười, trời trong xanh lạ thường, như lòng người đang mở ra để đón nhận ánh nắng của ân tình và đạo nghĩa.
31/10/2025(Xem: 3644)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 5440)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 4710)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 3211)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 3751)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 4640)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 4312)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.