Chướng Duyên

05/05/201807:29(Xem: 7125)
Chướng Duyên


hoa_sen




CHƯỚNG  DUYÊN


Cuộc sống không ai tránh khỏi những phiền muộn, rắc rối. Phước duyên lớn thì chướng duyên nhẹ. Thế gian xem nhẹ phước báu, hành động tội lỗi, gây nhiều ác nghiệp, dĩ nhiên sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong cuộc sống.Người tin nhân quả, cân nhắc từng lời nói, ý nghĩ, hành động tránh gây đau khổ cho kẻ khác, làm nhiều việc thiện, chướng duyên cũng sẽ giảm thiểu.

Nơi đây, trong phạm vi những người tu tập, thường gặp lắm chướng duyên, lý do từ đâu?

Thế nào là người tu tập? cuồng nhiệt với tín ngưỡng có phải là tu tập? thành kính siêng năng tụng niệm, thực hiện lễ nghi tôn giáo là cách tu tập? Bố thí cúng dường, tạo lập cơ sở tín ngưỡng, đúc chuông tạo tượng là thực hiện việc tu tập? siêng đi đền chùa nhà thờ, thánh thất…là tu tập…Tóm lại thực hiện mọi hình thức mang tính tín ngưỡng, tôn giáo mà phần lớn được xem là tu tập?

Những việc làm cho dù là thiện lành, mang tính hình thức đều thuộc lĩnh vực phước báu.Nếu việc làm thiện lành mà dụng ý cầu danh hay lợi dụng thì việc làm đó tạo thêm nhân xấu.

Mọi việc làm thể hiện như sựsùng kính tôn giáo, tín ngưỡng, lễ nghi chỉ thuộc đức tin chứ không thể gọi là hành trì về tâm linh.Những việc như vậy chỉ gieo duyên lành cho niềm sùng kính; đức tin hình tướng sẽ gặp những chướng duyên ngoại cảnh do tập khí đã gieo trồng trong quá khứ;dù thể hiện sự sùng kính tín ngưỡng hay không, chướng duyên đủ điều kiện vẫn xảy đến.

Người chuyên tu về tâm linh, gọi là thiền sinh,hoặc hành giả, bất cứ tông phái nào, có những trường hợp như:

1/ Được hướng dẫn bởi một vị minh sư chứng đắc, thiền sinh dễ vượt qua những chặng đường khúc mắc do nghiệp chướng tạo ra; vị thầy đủ kinh nghiệm giải tỏa những chướng duyên hoặc khai thị cho thiền sinh biết những chướng duyên do từ tập khí quá khứ để hóa giải.

2/ Hành giả hoặc thiền sinh không có căn bản lý thuyết việc hành trì, tự đọc sách, tìm hiểu, không được những bậc thầy đủ kinh nghiệm dẫn dắt, trong quá trình hành tập, hạt giống bất thiện tiềm ẩn trong tạng thức xuất hiện, cản trở việc tu tập, không biết cách hóa giải, lúng túng giữa pháp hành ngũ ấm xuất hiện, dễ đưa đến “tẩu hỏa nhập ma”. Khi tâm định, tưởng thức lắng đọng, cũng là lúc hạt giống bất thiện từ A lạ da trổi dậy.

Từng có những hành giả than phiền trong thời gian hành tập thì những tập khí cứ xuất hiện. Những tập khí có thể là tánh sân, có thể là tánh dục, có thể là một hình tướng hay động vật nào đó làm cho hành giả thiếu tập trung hoặc sợ hải…mặc dù hành giả không bao giờ khởi ý nhưng nó vẫn xuất hiện mỗi khi công phu thiền tập.

Có một hành giả khi nhập định là thấy con rắn xuất hiện trong ánh sáng mờ từ xa.Có hành giả cứ thấy mỹ nhân mỗi khi thiền tọa, cũng không thiếu hành giả khởi dục cho dù vẫn cố gắng công phu. Tóm lại, chính những chướng duyên đó đã làm chướng ngại trên đường tu của hành giả. Ngay cả thái tử Tất Đạt Đa trước giờ thành đạo cũng bị ma vương đến đe dọa, quyến rũ đủ thứ.

Nhiều hành giả tìm cách dụng công đối trị càng bị khủng hoảng, hoặc càng tránh né càng bị lún sâu, dùng pháp hành đè nén nó càng ngấm ngầm bộc phát, buông xuôi xem như tự đầu hàng nghiệp thức.

Cái nguy hiểm hành giả bị lừa dối, cứ tưởng mình đứng ngoài vọng tưởng lúc hành tập, thấy rõ mọi diễn tiến của tâm thức xuất hiện như  một khách quan đứng ngoài quan sát, chính trạng thái này nguy hại hơn những chướng duyên đối diện thực sự. Đừng tự mãn khi ở trạng thái an định ảo, đưa hành giả vào con đường tưởng thức xuât hiện những ảo ảnh mà cứ ngỡ là thể nghiệm chứng đác ở một tầng bậc nao đó.

Đời hay đạo, sùng tín hay hành tập, mỗi vị thế đều có một chướng duyên, chướng duyên nguy hại nhất là chướng duyên của những hành giả tâm linh, dễ lạc dẫn vào con đường ảo tưởng. Vì thế, người tu tập thiền định cần có một vị minh sư hay một vị thầy đủ kinh nghiệm hướng dẫn vượt qua những chặng đường chướng duyên khởi từ nghiệp thức. Tự mình đi vào con đường thiền định là hành động liều lĩnh. Phải biết tập khí nặng nhất của mình là gì, tìm cách hóa giải hạt giống đó trước khi bước vào đạo lộ mênh mông của tâm thức.


MINH MẪN

04/5/2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2025(Xem: 2523)
Có những ngày không chỉ được ghi lại bằng hình ảnh hay lời nói, mà bằng chính sự rung động trong tim. Ngày truyền thống của Gia Đình Phật Tử Miền Bắc California năm nay là một ngày như thế – một ngày Chủ nhật tháng Mười, trời trong xanh lạ thường, như lòng người đang mở ra để đón nhận ánh nắng của ân tình và đạo nghĩa.
31/10/2025(Xem: 2828)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 4285)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 3467)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 2441)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 2798)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 3675)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 3555)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.
27/10/2025(Xem: 3630)
Thời gian đó Hòa thượng Tông trưởng vẫn còn sinh tiền khỏe mạnh. Về thính chúng ngoài chư Tăng, Ni tại Tổ Đình ra, còn có một số quý Phật tử tại gia bên ngoài vào tham dự. Vì tôi giảng vào mỗi buổi tối hằng ngày. Chúng tôi dựa vào những lời khuyến nhắc của Tổ mà triển khai thêm. Xét thấy những lời Tổ dạy rất thiết yếu cho việc tu học, nhất là đối với những người mới xuất gia vào chùa.
27/10/2025(Xem: 3090)
TÍNH CẢM TRI VÀ TÂM PHẬT: LÀM SAO ĐỂ NHẬN RA CHÚNG? Nguyên tác: Sentience and Buddha-Mind: How Do We Recognize Them?*1 Tác giả: Gereon Kopf Việt dịch: Quảng Cơ Biên tập: Tuệ Uyển