Thương nhớ thi sĩ Bùi Giáng

29/03/201317:28(Xem: 10303)
Thương nhớ thi sĩ Bùi Giáng

Thương nhớ Thi sĩ Bùi Giáng

Sa môn Thích Đức Nhuận



Thầy Chỉnh Tuệ, sư cô Trí Hải và một số thi văn hữu định làm một tập văn về cố thi sĩ BÙI GIÁNG. Chỉnh Tuệ biết Bùi Giáng thường tới thăm tôi nên đã ngỏ ý xin tôi viết ít dòng tưởng niệm?

Cách đây vừa tròn ba mươi năm (1968-1998), anh Huy Trâm? Nguyễn Hồng Nhuận Tâm, lúc ấy làm thẩm phán ở Gò Công, đón tôi tới nhà anh chơi, thì thi sĩ Bùi Giáng cũng đến Gò Công và nghỉ lại đây một tối; lần đầu tiên, tôi gặp Bùi Giáng, nhân một đêm trăng sáng, chủ nhân cho kê bàn ghế ngoài sân, rồi ba chúng tôi cùng ngồi uống trà, ngắm trăng, Bùi Giáng khẩn khoản yêu cầu tôi nói kinh Hoa Nghiêm cho ông nghe. Do đấy, tôi đã giảng về nội dung triết lý kinh Hoa Nghiêm ? bộ kinh lớn của đại thừa Phật Giáo gồm 80 cuốn ? Bùi Giáng tỏ ra am hiểu và tâm đắc lắm! Khi trở về Sài Gòn, ông thường tới thăm tôi ở chùa Giác Minh, có thể là nói hàng tháng.

Ông hay lang thang ngoài đường phố với y phục rất kỳ dị nên bất cứ ai mới nhìn thấy cũng cho ông là điên khùng?, nhưng điều lạ lùng là mỗi khi cùng tôi đàm luận thì ông rất bình tĩnh và tỉnh táo, ông, bề ngoài tuy thế mà chiều sâu của tâm- thức Bùi Giáng thì thật là trong sáng!

Tôi nhớ, khoảng những năm một 1977-1980, có lần, ông bày tỏ muốn xin tôi đi tu ? Tôi thưa: Hoàn cảnh lúc này chưa thuận lợi, vấn đề "hộ khẩu" là một cản trở lớn, ta hãy chờ một dịp khác vậy. O�ng im lặng. Nhưng tôi biết Bùi Giáng buồn, tuy không nói ra. Thật tội nghiệp cho một tâm hồn cao thượng muốn nương thân nơi cửa Phật để nuôi dưỡng cho tâm tịnh, thân an, mong điều hòa cuộc sống mà suốt mấy mươi năm ông đã gặp nhiều nỗi gian truân, cay đắng của kiếp nhân sinh. Thầy Mạnh Tử xưa nói: "Khi trời sắp trao vận lớn cho ai, thì bắt người đó phải khổ cực, ruột héo gan mòn, thiên ma bách chiết, ngày quên ăn đêm quên ngủ, để thử� chí người đó có bền gan sắt đá chịu đựng nổi những nỗi đắng cay của cuộc đời để làm tròn trách nhiệm mà sứ mệnh đã trao cho người ấy". Nói như Mạnh Tử nói (cũng có nghĩa là) tôi mong cho sự nghiệp văn chương của Bùi Giáng hằng sống mãi với không và thời gian và với núi sông dằng dặc.

Ngày 6 tháng 8 năm 1985, tôi bị nhà cầm quyền CS bắt về tội "tổ chức chống cách mạng". Kể từ đó, Bùi Giáng và tôi xa nhau suốt 9 năm trời đằng đẵng? Khi nhà nước cộng sản trả tự do cho tôi, chiều ngày 22 tháng chạp năm Quý Dậu (1993) thì, ba ngày sau sáng sớm này 25, Bùi Giáng tới và viết tặng bài thơ mừng tôi đã thoát nạn, nguyên văn:

"Trận đầu ký thác Rừng Thiêng

Sông xa ở lại cơn phiền dây dưa

Rải lên đường cỏ mộng thừa

Về thăm Viễn phố tin vừa mới dâng

Nắng hồng trẫm triệu phân vân

Bấm cung lục ngạn thành thân mối buồn

Cập bờ phỉ thúy đúc un

Tầm sương sái diện ?"quên nguồn hóa sinh"

Bùi Giáng - 1993

Riêng có điều tôi ân hận là, trong thời gian Bùi Giáng bị đau, nằm điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy, tôi không được biết để tới thăm và an ủi ông, mãi khi linh cữu (đã) do thân tộc họ Bùi đưa về quàn tại Nghĩa Đường chùa Vĩnh Nghiêm thì tôi và mấy thầy , cũng là bạn thân của ông, mới biết tới dâng hoa kính viếng và cầu nguyện cho anh hồn thi sĩ Bùi Giáng, nhờ ơn Đức Phật từ bi cứu độ, sớm siêu sinh cõi Tịnh.

Bùi Giáng đã ra đi vào cõi thiên thu vĩnh biệt, thân ngũ uẩn trả về cho cát bụi:

Bỏ trăng gió lại cho đời

Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa?

(Mắt buồn - Mưa nguồn)

Nhưng trên tinh thần tư tưởng nhà thơ thì thật sáng láng bao la, dù biết trần gian này là phiền não, tối tăm, khổ đau mà vẫn vui vẻ NGUYỆN đi vào cõi người:

Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi

Vì nơi đây sống đủ vui sầu

(Phụng Hiến-Bùi Giáng)

Tôi tin tưởng thi sĩ BÙI GIÁNG vẫn sống hoài trong tâm thức chúng ta. Và dưới đây, xin có câu đối kính viếng anh hồn thi sĩ BÙI GIÁNG chứng tri:

Nghe tin Bùi thi sĩ ra đi

Ngày tháng Rong Rêu

Cuối hạ Mưa Nguồn

Thần trí bay về cõi Phật;

Chợt nhớ bậc tài hoa lúc sống

Nắng mưa dầu dãi

Ngàn Thu Rớt Hột

Bút nghiêng bỏ lại cuộc đời.

---o0o---


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/11/2025(Xem: 3300)
(1):Long Thần, Hộ Pháp ở quanh ta. Lành, dữ ta làm khó giấu qua. (sưu tầm) Phải nhớ làm gì, dù thật nhỏ. Biết là việc ÁC, phải lìa xa!
04/11/2025(Xem: 3390)
Ăn mặn, cứ nghĩ con vật: thân nhân mình. Tự nhiên thấy ớn nhợn, rùng mình dừng ngay. Thực tập như vậy trong bữa ăn hàng ngày. Rồi chắc chắn bỏ mặn, ăn chay mấy hồi.
01/11/2025(Xem: 3381)
Có những ngày không chỉ được ghi lại bằng hình ảnh hay lời nói, mà bằng chính sự rung động trong tim. Ngày truyền thống của Gia Đình Phật Tử Miền Bắc California năm nay là một ngày như thế – một ngày Chủ nhật tháng Mười, trời trong xanh lạ thường, như lòng người đang mở ra để đón nhận ánh nắng của ân tình và đạo nghĩa.
31/10/2025(Xem: 3706)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 5511)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 5047)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 3273)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 3793)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 4693)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 4640)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.