Thư số 25

25/12/201113:22(Xem: 16767)
Thư số 25
TUYỂN TẬP THƯ THẦY
Tác giả: Viên Minh

[Thư số 25]

Ngày ........ tháng ........ năm ........

L mến,

Chà, trông L đường đường một đấng nam nhi như thế mà sao hơi yếu đó nghe! Ai lại đi mơ một cảnh Tịnh Độ ở ngoài cuộc đời nắng lửa như một kẻ mê tín vậy. Lại còn mê ba cái ông du tăng trong Thiền Luận nữa chứ ! Không biết các ông du tăng ngày xưa ra sao chứ cứ mà làm biếng, vô trách nhiệm cái kiểu ông VT với một số du sĩ ngày nay thì đáng được lãnh năm bảy chục hèo mới xứng.

Thầy lại thấy khác: dường như bây giờ mất rồi cái thời mà những bậc tu hành lấy phiền não làm bồ-đề, tức là sẵn sàng chấp nhận giáp mặt những phiền lụy với một sức mạnh chánh niệm tỉnh giác đầy kiên định.

Đã đành rằng cuộc đời là nắng lửa nhưng nếu ai ước mong ở ngày mai hay một nơi nào khác cái cảnh giới không còn nắng lửa thì chính đó mới là khổ sầu to lớn nhất! Giống như một người trông đợi một cái gì đó người ấy càng bồn chồn nóng nảy hơn là một kẻ đang chăm chú một công việc nặng nề, có phải thế không?

Vậy bí quyết của giải thoát không phải là ước mơ hay chạy trốn (bằng mọi hình thức) mà là phải đối mặt với chính cuộc đời. Còn đau khổ là tại vì còn có cái tađể đau khổ, mà còn cái tađể đau khổ thì dù ở bất cứ đâu cũng vẫn cứ đau khổ như thường. Người đời có câu nói rất thực tế là :

Gánh cực mà đổ lên non
Cong lưng mà chạy cực còn chạy theo

Thế mà khi chúng ta vui lòng gánh lấy trách nhiệm, vui lòng đỡ gánh cho người khác, vui lòng từ bỏ những dục vọng ích kỷ, cá nhân v.v... thì chúng ta lại thấy tất cả đều là nhẹ nhàng. Người đã thấy cái nhẹ nhàng đó sẽ đủ sức lấy phiền não làm bồ-đề. Chúa nói:“Hãy vác thập tự giá mà đi vào nước Chúa”,thật ra, có nghĩa là hãy làm tròn bổn phận với đầy đủ phiền não của nó một cách sáng suốt, định tĩnh, trong lành thì sẽ thấy bổn phận ấy, phiền hà ấy thật nhẹ nhàng và thật dễ thương biết bao. Và chính ở đó chúng ta hân thưởng được sự thanh tịnh giải thoát (vào Thiên đàng) giữa những phiền não cuộc đời.

Giống như một người mẹ, có thể làm mọi việc khó khăn nhất cho đứa con nhỏ bé của mình, dù phải trải bao nhiêu gian khổ, chỉ vì ngay lúc đó bà ta đã quên mình đi trong tình thương yêu vô hạn. Nếu mọi người đều biết quên mình đi trong tình thương yêu vô hạn ấy thì cuộc đời sẽ trở nên thiên đàng ngay lập tức dù lúc đó vẫn là nắng lửa dãi dầu.

Thầy có nghe một câu chuyện nho nhỏ dễ thương về tình bạn: có một hôm, một người bạn rủ L đi uống rượu. Lúc đó có M.A ngồi chơi. M.A đã cố ý (nhưng làm như vô tình) ngồi nán lại chơi với L tới khuya, để giúp L thoát khỏi một sự cám dỗ không mấy tốt lành. Chỉ vì thương bạn, vì muốn bạn mạnh khỏe mà phải hy sinh sức khỏe của mình dù M.A vốn đã suốt ngày này qua ngày khác làm lụng cực nhọc để đỡ cho mẹ mình một gánh nặng nuôi con.

L ạ, không phải là hạnh phúc, tịnh độ hay giải thoát cho cái bản ngã của mình, mà chính phá bỏ bản ngã để làm những việc quên mình lợi người, dù nhỏ nhặt đến đâu cũng ẩn chứa một thiên đàng tuyệt diệu. Vâng, đau khổ để đem lại hạnh phúc cho người (bạn bè, cha mẹ, anh em, xóm giềng và cho cả cỏ cây, sỏi đá) đấy chính là thiên đàng tuyệt diệu.

Tuyệt diệu làm sao khi sư GĐ cố gắng lo lắng thêm một chút để chư sư được nhẹ nhàng, và sư PT cũng vậy, sư TT cũng vậy v.v... Mọi người đều gánh thêm một chút khổ đau để gánh người khác được nhẹ nhàng. Ở đây Thầy cũng không thể điềm nhiên tọa thị mà phải cố gắng thêm một chút để trợ giúp các sư... và cứ thế cuộc đời mở vòng tay lớn trong tình yêu thương xả kỷ. Không có thiên đàng nào khác ngoài sáng suốt, trong lành và tĩnh tại. Không có thiên đàng nào khác ngoài những gánh nặng mà ta vui lòng gánh vác để đem lại cho đời một niềm vui, một an ủi, một nụ cười.

Sư GĐ tặng L một số phong lan với dụng ý muốn giúp L biết thương yêu và tập dần với những bổn phận, tập dần sự chú ý, sự chăm chút, sự nhẫn nại... Nghĩa là tập chấp nhận những phiền não để nuôi dưỡng bồ-đề. Tập thấy được tình thương yêu như tình yêu thương của người mẹ đối với đứa con mình. Không có con đường giải thoát nào khác đâu L ạ, hãy suy nghĩ cho mà xem. Tất cả những con đường khác chỉ là phản ánh của lòng tư dục, tư kỷ mà thôi.

Một vị du tăng hành cước chỉ có lý khi đến lúc họ phải từ bỏ những tích lũy, những đeo mang do lòng dục vọng chất đầy trên vai họ. Nhưng đến khi thấy lại chính mình (ngộ), vị ấy lại chấp nhận “gánh nước là diệu dụng, bửa củi là thần thông” và chui vào nhà bếp để làm hỏa đầu quân hoặc mỗi ngày âm thầm quét lau Tàng Kinh Các. Mới biết những kẻ ra đi, tìm kiếm, chỉ mới là giai đoạn của người chưa thấy. Còn khi thấy rồi núi vẫn là núi, sông vẫn là sông, phiền não vẫn là phiền não. Cuộc đời vẫn hoàn lại cuộc đời... và nếu có cái gì khác chăng thì chỉ là một nụ cười sáng trong và nhẹ nhõm.

Thôi viết như thế đã dài, mong L tìm thấy trong đó đôi lời nhắn nhủ với một tấm lòng.

Thân ái chào con.
Thầy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2025(Xem: 2491)
Có những ngày không chỉ được ghi lại bằng hình ảnh hay lời nói, mà bằng chính sự rung động trong tim. Ngày truyền thống của Gia Đình Phật Tử Miền Bắc California năm nay là một ngày như thế – một ngày Chủ nhật tháng Mười, trời trong xanh lạ thường, như lòng người đang mở ra để đón nhận ánh nắng của ân tình và đạo nghĩa.
31/10/2025(Xem: 2807)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 4264)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 3357)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 2422)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 2782)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 3662)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 3542)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.
27/10/2025(Xem: 3573)
Thời gian đó Hòa thượng Tông trưởng vẫn còn sinh tiền khỏe mạnh. Về thính chúng ngoài chư Tăng, Ni tại Tổ Đình ra, còn có một số quý Phật tử tại gia bên ngoài vào tham dự. Vì tôi giảng vào mỗi buổi tối hằng ngày. Chúng tôi dựa vào những lời khuyến nhắc của Tổ mà triển khai thêm. Xét thấy những lời Tổ dạy rất thiết yếu cho việc tu học, nhất là đối với những người mới xuất gia vào chùa.
27/10/2025(Xem: 3058)
TÍNH CẢM TRI VÀ TÂM PHẬT: LÀM SAO ĐỂ NHẬN RA CHÚNG? Nguyên tác: Sentience and Buddha-Mind: How Do We Recognize Them?*1 Tác giả: Gereon Kopf Việt dịch: Quảng Cơ Biên tập: Tuệ Uyển