THÓI QUEN ÂN CẦN Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Anh dịch: Jeffrey Hopkins Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 11/01/2012
Lòng ân cần không báo đáp lại cân nặng hơn mộtngọn núi cao hay đại dương bao la.-TÔNG KHÁCH BA, Đại luận Con Đường Tiệm Tiến -
Khichúng ta đã quán chiếu thông khắp những bước trước, nhận ra tất cả chúng sinhnhư những thân hữu hay người nuôi dưỡng qua sự tương tục của những kiếp sống vàđánh giá đúng những sự ân cần có chủ tâm và vô tư, chúng ta sẽ thật sự thấy rằngchúng ta phải đáp lại sự ân cần tử tế của họ. Nhưng chúng ta hỗ trợ họ như thế nào? Bất kể loại phồn vinh nào chúng ta có thể đem lại cho họ trong vòng xoaysinh, già, bệnh, và chết, nó sẽ chỉ là tạm thời và nông cạn. Sự hỗ trợ sâu xa nhất là đưa họ đến hạnh phúcchân thật, mục tiêu căn bản cho kiếp sốngnày đến kiếp sống khác. Cung cấpnhững cơ hội cho người khác cải thiện điềukiện sống tạo sự giúp đỡ cần thiết và tạm thời, nhưng bằng việc dạy cho ngườikhác những sự thực tập đặc thù về tâm thức, trái tim, và thân thể, thì có thểđưa họ đến giác ngộ. Sự đền đáp vĩ đạinhất đối với lòng ân cần của người khác là việc giải thoát khỏi tất cả những loạikhổ đau:
THIỀNQUÁN
1- Quan tâm điềunày:
Mẹ tôi - hay ngườithân nhất - trong kiếp sống này là mù và không ở trong trường hợp tâm thức tốt nhất. Bà đang bước đi trên bờ mé của một mỏm đá ghêsợ mà không có người hướng dẫn, thật kinh khủng nếu tôi, đứa con của bà,khôngchú ý đến và đảm nhận nhiệm vụ giúp đỡ cho bà.
2- Mở rộng mô thứcnày:
Tất cả chúngsinh suốt khắp không gian và thời gian đã từng là mẹ tôi, bảo vệ tôi với lòng ân cầnrộng lớn, tất cả không biết những gì phải buông bỏ và những gì nên tiếp nhậntrong thái độ của họ nhằm để tạo nên sự hạnh phúc của chính họ. Không có sự hướng dẫn tâm linh, tất cả đangbước trên bờ mé của mỏm đá khổ đau kinh khiếp trong vòng sinh tử luân hồi. Thật khiếp sợ để biết rằng mỗi bước đã đưa họđến gần hơn với những điều bất hạnh, và tôi đã không quan tâm đến lợi íchcủa họ mà chỉ lo cho sự giải thoát của riêng tôi.
Trụ lại một lúcvới nhận thức của mình về hoàn cảnh hiểm nghèo của họ, cảm thấy sự tác động củanó. Cho phép chính mình quan tâm đếnhoàn cảnh của mọi người. Nếu điều này dường như lờ mờ, quán chiếu trên nhữngngười đặc thù ở trong một hoàn cảnh kinh khủng như vậy, và rồi thì mở rộng cảmgiác mãnh liệt của mình đến mọi người.Việc trau dồi thành công các bước trước đó với sự quan tâm đến những cá nhân con người làm cho điều này cóthể hiện thực.
3- Tự hứa nguyện đến lợi ích của những ngườikhác. Giống như họ đã từng chăm sócchúng ta trong kiếp sống này và những kiếp sống khác như một người thân nhất,hay bằng việc cung cấp cho chúng ta với những sự phục vụ cần yếu, quyết tâm hỗtrợ họ trong bất cứ cách nào thích hợp:
Tôi sẽ làm bất cứđiều gì tôi có thể vì những chúng sinh này - những thân hữu nuôi dưỡng chínhtôi - đang ngặt nghèo vì khổ đau như vậy.
4- Quán tưởngcúng dường nhiều hình thức hạnh phúc đến những chúng sinh.
Cuối cùng, một cảmnhận chân thành về đền đáp sẽ trở thành ý thức đầu tiên của chúng ta đến ngườikhác, và là nền tảng trong những mốiquan hệ của chúng ta.
Nguyêntác: The Third Step: Returning KindnessẨn Tâm Lộ ngày 13/01/2012
Ăn mặn, cứ nghĩ con vật: thân nhân mình.
Tự nhiên thấy ớn nhợn, rùng mình dừng ngay.
Thực tập như vậy trong bữa ăn hàng ngày.
Rồi chắc chắn bỏ mặn, ăn chay mấy hồi.
Có những ngày không chỉ được ghi lại bằng hình ảnh hay lời nói, mà bằng chính sự rung động trong tim. Ngày truyền thống của Gia Đình Phật Tử Miền Bắc California năm nay là một ngày như thế – một ngày Chủ nhật tháng Mười, trời trong xanh lạ thường, như lòng người đang mở ra để đón nhận ánh nắng của ân tình và đạo nghĩa.
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy.
Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay.
Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày.
Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
LỜI GIÃI BÀY
Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
LỜI ĐẦU SÁCH
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
LỜI ĐẦU SÁCH
Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
LỜI ĐẦU SÁCH
Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.
Thời gian đó Hòa thượng Tông trưởng vẫn còn sinh tiền khỏe mạnh. Về thính chúng ngoài chư Tăng, Ni tại Tổ Đình ra, còn có một số quý Phật tử tại gia bên ngoài vào tham dự. Vì tôi giảng vào mỗi buổi tối hằng ngày. Chúng tôi dựa vào những lời khuyến nhắc của Tổ mà triển khai thêm. Xét thấy những lời Tổ dạy rất thiết yếu cho việc tu học, nhất là đối với những người mới xuất gia vào chùa.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.