Tự tình mùa xuân

24/01/201202:14(Xem: 13574)
Tự tình mùa xuân

en

Xuân về, tiết xuân ấm áp, trời xuân quang đãng,muôn vật muôn loài ngây ngất với tình xuân. Phải chăng chính tự thân mùa xuânhàm chứa những chất liệu hạnh phúc hay mùa đông lạnh lẽo và u ám vừa đi qua đãgóp phần tôn vinh vẻ đẹp ngày xuân. Xuân như một bông hoa hàm tiếu, được nuôidưỡng và tiềm ẩn trong cả bốn mùa. Cánh hoa xuân kia sẽ không mỉm cười, cànhxuân kia với những chồi non và lộc biếc sẽ không mơn man nô đùa trong nắng nếunhư chúng chưa từng trầm mình với gió sương. Cũng vậy, nếu như không có cái oiả của mùa hè, cái sụt sùi và dai dẳng của mưa dầm mùa thu cùng cái lạnh giá vàảm đạm của mùa đông thì không thể có mùa xuân ngập tràn nắng ấm. Trong hai mặtcùng tồn tại song song của cuộc đời, sẽ không có mặt phải nếu thiếu mặt trái,sẽ không có ngày nếu vắng mặt bóng đêm, sẽ không có hạnh phúc nếu khổ đau chưamột lần chiêm nghiệm. Cũng vậy, xuân ôm ấp và chứa đựng trong nó tất cả nhữngcái không phải là xuân để hiển lộ nguyên xuân trọn vẹn.

Không biết tự bao giờ, mùa xuân được lấy làmbiểu tượng của tâm hồn an lạc và thanh tịnh. Mùa xuân của tâm hồn cũng đượckiến tạo và vận động theo quy luật nhất định nhưng không đồng điệu với mùa xuâncủa đất trời. Dù sao thì sau một chu kỳ ngắn, xuân của đất trời lại ghé qua vớibiết bao tặng phẩm mà tạo hoá đã vô tình hào phóng. Với nhân loại, không phảicon tạo không mảy may run rủi cho thân phận con người một mùa xuân miên viễncủa tâm hồn, nhưng thật sự, cánh thiệp báo tâm xuân mấy ai từng vinh nhận. Bởilẽ, trăm năm trong cõi người tamấy ai đã từng chạm đến thềm xuân. Tuyvậy, tâm xuân không mơ hồ, hư ảo, do đó có thể nắm bắt và trao tặng. Tâm xuânhiện hữu vĩnh hằng như tự thân nó chưa từng biến đổi bao giờ.

Chỉ có điều, con người tuy có kỳ vọng hướng đếntâm xuân nhưng đa phần lại thực thi theo chiều trái ngược. Cái gọi làhạnhphúc mà con người hằng khát khao cháy bỏng để chinh phục, tiếc thay lại là cộinguồn của tranh chấp, hận thù. Con người thường lấy những chất liệu khổ đau đểmưu cầu thiết lập hạnh phúc, và đó cũng là bi kịch của kiếp người mãi ngượcxuôi trong trận đồ lẩn quẩn. Mặt khác, cái hạnh phúc thỏa mãn giác quan mà conngười đeo đuổi không phải là chân hạnh phúc. Nó vốn cần thiết cho một cuộc sốngbình thường nhưng tạo ra rất nhiều phó sản khổ đau đồng thời ngoại vi của cáihạnh phúc ấy mở ra đến vô biên do tham cầu vô tận. Nên truy tìm hạnh phúc đốivới con người là một trò chơi cút bắt ngoạn mục và ly kỳ đến vô cùng.

Bi kịch thay khi kiếp người ngắn ngủi, lúc tuổixế chiều lực bất tòng tâm, khi mơ ước thì phiêu bồng nhưng thực tế lại quá phủphàng, hạnh phúc thì ẩn hiện, chợt còn rồi chợt mất. Mùa xuân cuộc đời bặt vôâm tín, chỉ còn lại trong hồn những đụn mây đen trĩu nước mùa hạ, những cơn mưadầm rỉ rả suốt mùa thu và những ngọn gió đông buốt giá đến tê người…

Hakuin.jpg

Khỉ và chim én-Tranh Hakuin

Có ai đãmột lần tự vấn rằng đối với cái hạnh phúc hư dối và mong manh kia mà ta đã thấycánh tay cuộc đời quá ngắn. Thế thì hạnh phúc chân thật vốn sâu kín và nhiệmmầu nào dám mơ tưởng xa xôi. Mùa xuân tâm hồn phải chăng là do con người dựnglên để an ủi cho những linh hồn bất hạnh và đau khổ. Tâm tư là một dòng thác lũsục sôi, lềnh bềnh tham muốn, đau thương và thù hận. Có cái gọi là an tâm thậtsao? Khó mà hình dung được có một tâm thái lặng lẽ mà tỉnh giác, sáng suốt vàlinh hoạt mà không dao động. Không thể nào hiểu được lý lẽ của trái tim nhânhậu bao la, thương yêu vạn loại sinh linh mà không một mảy may luyến ái. Và lạicàng không thể nào hiểu được sự bất động trong vô vàn biến động của cuộc đời.

Tuy nhiên, những gì có vẻ rất xa nhưng thực tếlại rất gần, những điều dường như ngoài sức tưởng tượng lại thường xảy ra hàngngày quanh đời sống chúng ta, khó mà phân định rạch ròi ranh giới giữa đôi bờ khôngthể và có thể. Mùa xuân tâm hồn vẫn còn đó nhưng bị khổ đau, tham đắm vàhận thù che khuất. Ai cũng biết rằng, mặt trời mùa hạ vẫn không nóng hơn mặttrời mùa đông. Mùa xuân của con người vẫn còn đó nhưng chưa hiện hữu vì đêmđông của đời người quá dài, thậm chí tồn tại trong đa phần chúng ta quan niệm:nếu được ngủ yên suốt mùa đông là điều hạnh phúc. Đó cũng là điều dễ hiểu để lýgiải cho câu hỏi vì sao mùa xuân không đến với mọi người. Mùa xuân của tâm hồnlà một tặng phẩm của trời đất dành cho những bậc xuất trần thượng sĩ.

Những aimuốn đi gặp mùa xuân thì phải đứng dậy, giã từ u tối của đêm đông, thắp sángtâm mình bằng ánh lửa tỉnh thức được đốt cháy trong nguồn năng lượng tìnhthương. Hãy chiếu sáng đêm đông của cuộc đời bằng ngọn lửa tỉnh thức và thươngyêu ấy. Lập chí vững chắc để đi về hướng bình minh. Hãy quẳng đi những hànhtrang lỉnh kỉnh không cần thiết cho cuộc hành trình. Con đường tiến về phíatrước dẫu còn mờ mịt, chông gai và lạnh lẽo. Đã đi là đến, quay đầu là bờ, mâytan thì mặt trời ló dạng, đông tàn thì xuân đến, khổ diệt là giải thoát Niếtbàn.

Mùa xuân của đất trời đã về để đánh thức mùa xuân tâmhồn mãi ngủ quên…

Quảng Tánh
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/11/2025(Xem: 3195)
(1):Long Thần, Hộ Pháp ở quanh ta. Lành, dữ ta làm khó giấu qua. (sưu tầm) Phải nhớ làm gì, dù thật nhỏ. Biết là việc ÁC, phải lìa xa!
04/11/2025(Xem: 3267)
Ăn mặn, cứ nghĩ con vật: thân nhân mình. Tự nhiên thấy ớn nhợn, rùng mình dừng ngay. Thực tập như vậy trong bữa ăn hàng ngày. Rồi chắc chắn bỏ mặn, ăn chay mấy hồi.
01/11/2025(Xem: 3284)
Có những ngày không chỉ được ghi lại bằng hình ảnh hay lời nói, mà bằng chính sự rung động trong tim. Ngày truyền thống của Gia Đình Phật Tử Miền Bắc California năm nay là một ngày như thế – một ngày Chủ nhật tháng Mười, trời trong xanh lạ thường, như lòng người đang mở ra để đón nhận ánh nắng của ân tình và đạo nghĩa.
31/10/2025(Xem: 3615)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 5419)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 4629)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 3198)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 3723)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 4624)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 4245)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.