27-Học Phật bằng cách nào?

28/01/201109:41(Xem: 12446)
27-Học Phật bằng cách nào?

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT

HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

HọcPhật bằng cách nào?

Hỏi học Phật bằng cách nào, tức là hỏi đến phương pháp họcPhật. Ở thế gian môn học nào cũng có phương pháp riêngcủa nó. Ví như môn toán học, người học trò trước phảibiết số, kế học thuộc cửu chương, học cách cộng trừnhân chia, lên nữa phải học công thức, phương trình v.v...Môn văn chương, trước phải biết chữ cái, học ráp vần,viết chánh tả, học văn phạm, tập cách làm văn v.v... Phươngchi Phật pháp là môn học giác ngộ, mà không có phương phápriêng của nó hay sao?

Phươngpháphọc Phật tức là ba môn tuệ học: Văn tuệ, Tưtuệ, và Tu tuệ. Bởi vì muốn vào cửa giác ngộ khôngphải anh tướng trí tuệ thì không sao vào được. Phật pháplà chân lý là những sự thật, nếu không có ngọn đuốctrí tuệ soi sáng, làm sao chúng ta thấy mọi sự thật ở chungquanh, không cần trí tuệ, chỉ dùng lòng tin đến với đạoPhật, để học Phật pháp, thật là sai lầm lớn lao. Ðâylà chứng bệnh trầm trọng của Phật tử hiện thời. Cầnchữa lành bệnh này, chúng ta phải ứng dụng triệt để bamôn tuệ học vào công trình tu học Phật pháp.

Thếnào là Văn tuệ?

Vănlà nghe, do nghe giáo lý Phật pháp trí tuệ mở sáng, gọi làVăn tuệ. Chúng ta nghe Phật pháp qua lời giảng dạy của chưtăng, của thiện hữu tri thức đã tu học trước ta. Nhữnglời giảng dạy ấy xuất phát từ kinh điển của Phật, trongđó chứa toàn lời lẽ chân chánh, chỉ bày mọi sự thậtcho chúng sanh. Càng nghe trí tuệ chúng ta càng sáng. Hoặc chúngta trực tiếp đọc kinh sách Phật, khiến mở mang trí tuệcũng thuộc Văn tuệ. Chịu khó nghe giảng dạy, ch?u khó nghiêncứu kinh sách Phật, đó là người biết từ cửa Văn tuệtiến thẳng vào ngôi nhà Phật pháp.

Thếnào là Tư tuệ?

Tưlà suy xét phán đoán, do suy xét phán đoán những lời dạytrong Phật pháp, trí tuệ càng tăng trưởng. Chúng ta đượcnghe lời chỉ dạy của thầy bạn, dẫn từ trong kinh Phậtra, song nghe rồi tin liền là chưa đủ tư cách học Phật.Buộc chúng ta phải dùng trí phán đoán xem đúng hay sai, nếuquả thật đúng, từ đó chúng ta mới tin. có thế mới thựchành đúng câu "các người phải tự thắp đuốc lên mà đi,thắp đuốc lên với chánh pháp", trong kinh Pháp Cú. Chúng tamuốn mở mang trí tuệ, song tự mình làm sao mở được, phảimồi ngọn đuốc trí tuệ của mình với ngọn đuốc chánhpháp của Phật, trí tuệ mới phát sáng.

Mồibằng cách nào?

Vínhư chúng ta nghe vị Sư giảng rằng: "Tất cả thế gian đềulà vô thường." Sau đó phải dùng trí tuệ của mình phánđoán xem đúng hay không. Chúng ta tự đặt câu hỏi: tất cảthế gian đều là vô thường, có sự vật nào thoát ngoàiluật lệ ấy chăng? Nếu có, câu nói này chưa phải chân lý.Bằng không, mới thật đúng chân lý, chúng ta sẽ hoàn toàntin. Thế rồi, ta tự khảo sát :

Conngười có phải vô thường không? Từ ông bà đến cha mẹchúng ta đều có sanh ra, lớn lên, bệnh hoạn, già yếu rồichết. Kể luôn cả ta, khi nào còn nhỏ bé, lớn lên, bệnhhoạn, già yếu, rồi cũng sẽ chết. Trong gia đình thân tộcchúng ta đã thế, ngoài xã hội cũng thế, cả nhân loại trênthế giới cũng thế; ngàn xưa là thế, mãi sau này cũng thế.Quả là con người vô thường.

Ðếnnhững sự vật, nào nhà cửa, bàn ghế, xe cộ... có bị vôthường không? Chính cái nhà của mình, khi mới cất thì tốtđẹp lành lặn, qua vài ba năm thấy cũ dần, đến năm mườinăm thì hư sập. Cái bàn viết cũng thế, khi mới đóng xembóng loáng tốt đẹp, dùng mấy năm thấy đã cũ, tróc sơnkhờn mặt, rồi đây sẽ mục nát hư hoại. Chiếc xe đạpkhi mới mua đem về mới toanh, chạy được một năm vỏ đãrách, cổ lỏng, các con ốc lờn... vài năm nữa sẽ hư. Thếlà, nhà cửa, bàn ghế, xe cộ... những vật cần dùng bêncạnh chúng ta thảy bị vô thường chi phối. Cho đến trămngàn vật khác, nếu khảo sát đều thấy đồng một số phậnnhư nhau.

Chúngta có thể kết luận rằng: "tất cả thế gian là vô thường",quả thật là chân lý. Ta tin chắc lẽ này, dù có ai nói khácđi, cũng không làm lay động được lòng tin của ta. Bởi lòngtin này đã được gạn lọc qua sàng lý trí, nên nó vữngchắc không dễ gì làm lung lay.

Lạimột thí dụ, chúng ta nghe vị Sư giảng lý luân hồi, bảorằng: "Muôn vật ở thế gian đều xoay quanh vòng luân hồi."Ta tự đặt câu hỏi: Tại sao muôn vật đều luân hồi? Cóvật nào không luân hồi chăng? Chúng ta bắt đầu xét từthực vật:

Câycối thành hình bắt nguồn từ hạt, hạt nẩy mầm tăng trưởngthành cây, nở hoa, kết trái; trái sanh hạt, hạt lại nẩymầm... lộn đi đảo lại không cùng. Song đó là sự lộnđi đảo lại từ cây này sang cây khác, ngay bản thân câyấy có đảo lộn vậy không? Cũng lộn đi đảo lại như thế.Thân cây hiện sống đây, do châm rễ hút đất nước... nuôidưỡng mới được sanh trưởng, dần dần thành đại thọ.Rễ hút đất nước nuôi dưỡng thân cành lá, lá rụng biếnthành phân đất, cành gãy mục cũng thành phân đất, thâncây ngã mục cũng trở về đất nước. Thân cây nhờ đấtnước sanh trưởng, khi ngã mục lại trở về đất nước.

Nướcdo ánh nắng bốc thành hơi, hơi lên cao gặp khí lạnh đọnglại, rơi xuống thành nước; nước lại bốc hơi... mãi mãikhông cùng.

Tonhư quả địa cầu vẫn quay tròn quanh cái trục, sáng rồitối, tối lại sáng. Căn cứ vào sự quay tròn của nó, ngườita chia ra ngày giờ tháng năm, thời tiết xuân hạ thu đông,xoay vần thế mãi không cùng.

Dosự khảo sát trên, chúng ta khẳng định rằng "muôn vật ởthế gian đều xoay quanh vòng luân hồi", là sự thật khôngcòn gì phải nghi ngờ.

Trênđây tạm cử vài thí dụ làm căn bản cho công cuộc suy xétphán đoán Phật pháp. Căn cứ vào đây, chúng ta phán xét nhữnglời Phật dạy, hoặc chư tăng dạy trong những trường hợpkhác. Có thế, mới phân biệt được chánh tà và mới đúngtinh thần người học Phật.

Thếnào là Tu Tuệ?

Saukhi phán xét lời Phật dạy là đúng, chúng ta đem áp dụngtrong cuộc sống hằng ngày của mình, khiến chánh lý càngbày hiện sáng tỏ, là tu tuệ. Ví như, đã biết rõ "tấtcả thế gian là vô thường", chúng ta ứng dụng sự vô thườngvào đời sống của mình, trong những trường hợp như sau:

Ðãbiết rõ thế gian là vô thường, khi gặp vô thường đếnvới bản thân, với gia đình ta, ta vẫn giữ bình tĩnh khônghốt hoảng hãi sợ. Vì biết chắc điều đó ở thế giankhông ai tránh khỏi, sợ hãi kinh hoàng chỉ làm rối thêm vôích. Bởi không sợ nên tâm ta bình tĩnh sáng suốt, giải quyếtmọi việc một cách tốt đẹp. Chúng ta vẫn đủ sáng suốtđể khuyên giải cho những người đồng cảnh ngộ bớt đaukh?.

Biếtrõ thế gian là vô thường, mọi sự tranh giành danh lợi, tàisắc... lòng ta nguội lạnh. Tranh giành những thứ tạm bợấy làm gì, để rồi chuốc khổ về mình, gây đau khổ chongười, rốt cuộc chỉ thành việc mò trăng bắt bóng. Lòngtham lam giành giật dục lạc thế gian, do đây dứt sạch.

Dothấy rõ lẽ vô thường, chúng ta không thể ngồi yên chờchết. Phải cố gắng làm mọi việc lành, nếu cơn vô thườngđến, chúng ta có muốn làm cũng không sao làm được. Lạibiết quí tiếc thời giờ, một ngày qua rồi không tìm lạiđược, phải cấp bách nỗ lực làm lợi mình lợi người,không thể chần chờ.

Ðólà ba trường hợp do biết "thế gian vô thường", chúng takhéo ứng dụng tu hành trong cuộc sống hiện tại của mình.Bao nhiêu sự lợi ích tốt đẹp sẽ theo đó mà tăng trưởng.Sự tu hành ấy, đi đôi với tâm trí tỉnh táo sáng suốt,nên gọi là "Tu tuệ".

Vídụ khác, chúng ta nhận rõ "muôn vật luân hồi", liền ứngdụng lý luân hồi vào cuộc sống của mình. Nếu phải luânhồi, chúng ta chọn cái luân hồi nào tốt đẹp an ổn hơn.Ví như, biết các loài thảo mộc từ hạt nẩy mầm, sanh trưởngthành cây, đơm hoa, kết quả; hạt lại nẩy mầm... Chúngta nên chọn lựa hạt tốt giống ngon đem ương, để sau nàykết quả ngon, cho ta và mọi người được thưởng thức vịngon. Cũng thế, trong vòng luân hồi bản thân ta cũng khôngthoát khỏi, ta cần tạo những nhân tốt, nhân an vui, đểmai kia có lăn lộn cũng lăn lộn trong chỗ tốt, chỗ an vui.

Ðãbiết muôn vật luân hồi, chúng ta phải tìm xem nguyên nhânnào lôi cuốn vào trong ấy. Biết rõ nguyên nhân rồi, phảitìm cách thoát ra ngoài vòng luân hồi. Không đầu hàng khuấtphục, để chịu lăn mãi trong luân hồi. Như các nhà khoa họcnghiên cứu biết sức hút của quả đất, sau đó tìm cáchchế phi thuyền đủ sức mạnh vượt ra ngoài vòng hút củaquả đất, đi thẳng vào quĩ đạo v.v... Biết luân hồi đểtìm cách thoát ra, chính là tinh thần "Tu tuệ".

Văntuệ, Tư tuệ rất cần thiết, song Tu tuệ lại càng quan trọnghơn. Nếu có văn tuệ, tư tuệ mà thiếu tu tuệ thì chỉ làtuệ rỗng, không lợi ích thiết thực cho đời sống con người.Nhờ tu tuệ mới thẩm định được giá trị văn, tư ở trênvà giúp cho văn, tư được kết quả viên mãn.

Vìthế, đức Phật dạy hàng Phật tử đi chùa là cốt gặpSư tăng, Sư ni, gặp Tăng ni rồi cần phải thưa hỏi Phậtpháp, thưa hỏi xong phải ghi nhớ, ghi nhớ rồi cần phán xét,phán xét rồi phải tiến tu. Ðược vậy mới đúng tinh thầnPhật tử (Phỏng theo bài kinh Ma-ha-nam trong Tạp A-hàm). Bồ-tátQuán Thế Âm cũng trình với Phật, thuở quá khứ lâu xa Ngàigặp Phật dạy tu phương pháp văn, tư, tu được vào chánhđịnh và cho hiệu là Quán Thế Âm (Kinh Lăng Nghiêm). Chínhtrong giới Bồ-tát, Phật cũng dạy "dù ở xa trăm ngàn dặm,nghe có người nói kinh luật, người mới thọ giới Bồ-tátcũng phải mang kinh luật đến đó học (Kinh Phạm Võng). Quảnhiên đức Phật không chấp nhận đệ tử tu hành tối dốt,phải đầy đủ ba môn Tuệ học, mới xứng là đệ tử củaNgài.

Bamôn Tuệ học này hoàn toàn thích hợp với tinh thần khoa họchiện nay. Bất luận môn học nào, trước tiên học lý thuyết,kế phê bình lý thuyết, sau thí nghiệm hay thực hành lý thuyết.Lý thuyết tức là văn tuệ, phê bình tức là tư tuệ, thínghiệm tức là tu tuệ. Có như vậy môn học mới tiến bộvà phát minh những điều mới lạ.

Tuynhiên, về mục tiêu chánh yếu Phật học vẫn khác khoa học.Khoa học cốt phát minh mọi sự thật của ngoại giới, chinhphục giành quyền làm chủ thiên nhiên, bắt thiên nhiên làmtheo ý muốn con người, để tạo vật chất dồi dào sung túccho nhân loại. Phật học xoay lại ngự trị bản thân mình,gạn lọc đào thải những tâm thức nhơ xấu, kiến tạo mộttâm hồn trong sáng an vui tự tại. Bởi khoa học gây tạo điềukiện vật chất dồi dào, nên con người dễ tranh đua giànhgiật kình chống lẫn nhau, Phật học cốt xây dựng tâm hồntrong sáng, nên người biết tu theo, lòng sẽ mở rộng thươngyêu bảo bọc lẫn nhau.Vì thế, ba môn tuệ học đều đặtcăn cứ trên nguyên tắc "xem lại chính mình". Nắmvững nguyên tắc này, đọc kinh sách Phật, chúng ta nhận địnhphán xét không bị sai lẫn.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/02/2026(Xem: 3249)
Mặc dù con đường thức tỉnh tâm linh là một hành trình đầy thách thức nhưng cũng đầy ý nghĩa. Gần đây không biết một đại cơ duyên nào đã đến với tôi, khi tìm kiếm nghe bài giảng từ nguồn giáo lý của Đức Đạt Lai Lạt Ma và sau khi nghe độ chục bài , tôi phát tâm phiên tả lại và sắp xếp lại cách phân đoạn cho đúng theo lời Ngài, thì chợt nhận ra có một lợi lạc vô cùng, vì khi phiên tả có những đoạn không hiểu tôi đã tìm về nguồn kinh sách mà ngày xưa mình đã học hỏi với các minh sư.
06/02/2026(Xem: 2183)
Kính phiên tả lại toàn bộ short video này để mời các bạn cùng thực hiện vào ngày đầu năm Bính Ngọ nhé như thay lời chúc đầu năm. Muốn cho một lời cầu nguyện được ứng nghiệm phải hội đủ 4 loại LỰC LỚN NHẤT CỦA PHÁP GIỚI .
22/10/2025(Xem: 5140)
Các học thuyết xã hội và giáo lý tôn giáo đã tranh luận rất nhiều về sự giải phóng con người, và tất cả đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng vì tự do là khát vọng muôn đời của loài người. Thế giới lý tưởng đó là thiên đường đầy hoa trái, chỉ có hạnh phúc, tình yêu và không có hận thù theo Cơ đốc giáo1 và cả Hồi giáo2. Nho giáo, Đạo của sĩ phu của quân tử, thì cho rằng xã hội lý tưởng là một thế giới lý tưởng của kẻ sĩ, của bậc quân tử (Trần Trọng Kim, 1996, tr. 106)3.
25/08/2025(Xem: 2750)
Kinh Kim Cang có tên gọi đầy đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” (Vajracchedika Prajna Paramita Sutra, tiếng Phạn) tương truyền được đức Phật thuyết giảng vào thời Bát Nhã, khoảng 20 năm sau ngày Phật Thành Đạo, và là 1 trong 600 quyển kinh thuộc hệ Đại Bát Nhã. Sau đó, kinh được đưa từ Ấn Độ sang qua Trung Quốc vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ hai và được dịch từ Phạn văn sang Hán văn bởi nhiều vị dịch giả, trong đó bản dịch vào năm 401 của ngài Cưu Ma La Thập (344-413) được xem là phổ dụng nhất. Tổng số chữ (Hán tự) trong kinh này chỉ có 4,720 chữ, bao gồm 8 chữ tựa đề kinh. Điểm đặc biệt là bố cục kinh không có phân đoạn ra các chương, các phẩm
31/05/2025(Xem: 3816)
“Đào tạo thanh, thiếu, đồng niên trở thành người Phật tử chân chính nhằm xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.” Mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam không phải là một khẩu hiệu suông. Đó là một tuyên ngôn giáo dục – tâm linh – xã hội sâu sắc. Từng từ trong câu mục đích là một viên gạch xây nên lý tưởng và phương hướng hoạt động của tổ chức. Để thực sự thực hành đúng vai trò Huynh Trưởng, chúng ta cần thẩm thấu từng khía cạnh sau:
25/04/2025(Xem: 4346)
Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.
22/04/2025(Xem: 4051)
Trong quá trình tiếp cận những vị đạo sư kính quý, người viết đã bao lần theo dõi từ ngày trên những chuyến hoằng pháp của quý Ngài hoặc trên đất Âu Châu, hay thi thoảng đến đất nước Hoa Kỳ để rồi đã tự hỏi : “Phải chăng việc hoằng pháp đòi hỏi sự chia sẻ và hợp tác giữa người nghe và người giảng?” Vì sao vậy ? Theo sự tham cứu người viết được biết : Chia sẻ là một đặc tính có sẵn trong mỗi con người chúng ta. Nó giúp chúng ta kết nối, tạo ra xã hội loài người, học hỏi lẫn nhau, phát triển, tăng cường tri thức thay đổi nhận thức xã hội tốt hơn, và thành công hơn trong cuộc đời ( Share là cách chúng ta dạy những gì chúng ta biết, thu nhận phản hồi củng cố kiến thức ta có và đồng thời giúp đỡ người khác (Information Acquisition).
04/06/2024(Xem: 22194)
Cùng toàn thể giới tử thọ trì Bát quan trai giới một ngày một đêm tại trú xứ Tăng già-lam Phước duyên, thành phố Huế, hiện diện quý mến. Một ngày một đêm quý vị ở trong Tịnh giới với niềm tin thanh tịnh, kiên cố, bất hoại đối với Tam bảo. Nhờ niềm tin này mà quý vị không để cho Giới pháp của mình bị sứt mẻ ở trong đi, ở trong đứng, ở trong nằm, ở trong ngồi, ở trong sự nói năng, giao tiếp. Quý vị có được niềm tin này là nhờ quý vị nuôi lớn sáu tính chất của Tam bảo, khiến cho ba nghiệp của quý vị được an tịnh, an tịnh về thân hành, an tịnh về ngữ hành, an tịnh về ý hành. Sáu tính chất của Tam bảo, quý vị phải thường quán chiếu sâu sắc, để thể nhập và tạo ra chất liệu cho chính mình, ngay đời này và đời sau. Sáu tính chất của Tam bảo gồm:
30/04/2024(Xem: 13039)
Những lời trích dẫn trên đây thật đanh thép và minh bạch, chữ vu khống trong câu trích dẫn trên đây trong bản gốc bằng tiếng Pali là chữ abbhācikkhanti (abhi + ā + cikkh + a), các tự điển tiếng Anh dịch chữ này là accusation, calumny, slander…, có nghĩa là kết án, phỉ báng, vu khống…. Thế nhưng trong khi viết lách hay thuyết giảng đôi khi chúng ta không nghĩ đến những lời cảnh giác trên đây của Đức Phật. Sau hơn hai mươi lăm thế kỷ quảng bá, xuyên qua nhiều vùng địa lý, hòa mình với nhiều nền văn minh và văn hóa khác nhau, nền Tư tưởng và Giáo huấn của Đức Phật đã phải trải qua nhiều thử thách, thích ứng với nhiều dân tộc, do đó thật khó tránh khỏi ít nhiều biến dạng và thêm thắt. Thế nhưng thực tế cho thấy trong suốt cuộc hành trình kỳ thú và vĩ đại đó – nếu có thể nói như vậy – nền Tư tưởng và Giáo huấn đó của Đức Phật vẫn đứng vững và đã góp phần không nhỏ trong công trình cải thiện xã hội, nâng cao trình độ văn hóa, tư tưởng và mang lại ít nhất là một chút gì đó lý tưởng hơn, cao đ