Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần 7

21/05/201319:46(Xem: 7314)
Phần 7

Kinh Viên Giác

Phần 7

Hòa thượng Thích Trí Quang

Nguồn: Hòa thượng Thích Trí Quang dịch

Chương Phổ Giác
Nói Về Bịnh Hoạn Tu Chứng Viên Giác

Đ1. Bồ Tát Phổ Giác Hỏi
Đ2. Đức Thế Tôn Đáp
E1. Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu
E2. Đáp 5 Câu Hỏi
G1. Đáp Câu Hỏi Một
G2. Đáp Câu Hỏi Hai
G3. Đáp Câu Hỏi Ba
G4. Đáp Câu Hỏi Bốn
G5. Đáp Câu Hỏi Năm
E3. Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Lược Giải.-

Nội dung chương này tuy có đến 5 câu hỏi đáp, nhưng quan trọng là nói bịnh hoạn của sự tu chứng viên giác (qua bịnh hoạn của pháp thiện tri thức nói ở G2), nên tiêu đề như trên. Những bịnh hoạn này là thiền bịnh (bịnh hoạn của thiền quán) thường thấy.

Bồ Tát Phổ Giác Hỏi

Chính Văn.

Lúc ấy bồ tát Phổ giác ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi quì thẳng, chắp tay mà tác bạch: Thưa đức thế tôn lòng thương cao cả, ngài đã chỉ dạy một cách thích thú về bịnh hoạn của thiền quán, làm cho đại chúng này được sự chưa từng có, tâm ý thư thái và ổn định lớn lao. Thưa đức Thế tôn, những người thời kỳ cuối cùng cách thời đại của ngài quá xa, hiền thánh ẩn dấu, lý thuyết sai lầm bùng cháy thêm lên; để làm cho những người mù mờ trong thời kỳ ấy khỏi sa vào lý thuyết sai lầm, con xin ngài dạy cho họ biết nên tìm người nào? nên cứ pháp nào? nên làm việc gì? nên trừ bịnh gì? nên phát tâm nào? Tác bạch rồi, bồ tát Phổ giác gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần, mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm lại từ đầu.

Lược Giải.-

Lời hỏi của bồ tát Phổ giác có 5 câu: câu một,nên tìm người nào? câu hai,nên cứ pháp nào? câu ba, nên làm việc gì? câu bốn, nên trừ bịnh gì? câu năm, nên phát tâm nào?

Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu

Chính Văn.-

Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Phổ giác: Tốt lắm, thiện nam tử, ông có thể hỏi Như lai về sự tu hành như vậy, hiến cho những người thời kỳ cuối cùng con mắt tuệ giác không còn e sợ, làm cho họ thành được tuệ giác của các vị thánh giả. Ông hãy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Phổ nhãn vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đáp Câu Hỏi Một

Chính Văn.-

Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, người thời kỳ cuối cùng, khi sắp phát tâm vĩ đại và tìm thấy bạn tốt để tu hành, thì nên tìm người thấy biết chính xác: lòng không sống theo khuôn khổ phàm phu, không vướng vào lĩnh vực nhị thừa, biểu hiện bụi bặm mà tâm thường trong sáng, biểu diễn tội lỗi mà tán dương phạn hạnh, không làm cho người sống không giới luật. Tìm được người như vậy thì được tuệ giác vô thượng. Người thời kỳ cuối cùng gặp người như vậy thì nên phụng sự đến tính mạng cũng không tiếc. Người thầy bạn tốt này đi đứng nằm ngồi luôn luôn trong sáng thì nên kính trọng, giả sử biểu hiện tội lỗi thì đừng khinh thường, huống chi chỉ quan tâm đến của cải thân thuộc (101) ữPage . Thiện nam tử nào không có ý xấu với thầy bạn tốt thì có năng lực thành đạt trọn vẹn tuệ giác chính xác, bông hoa tâm trí phát sáng, chiếu soi tất cả.

Lược Giải.-

Thiện tri thức là người có chánh tri kiến: Nên tìm người như vậy mà tôn làm thầy bạn. Đó là đáp câu hỏi một: nên tìm người nào.

Đáp Câu Hỏi Hai

Chính Văn.-

Thiện nam tử, hãy y cứ vào pháp của thầy bạn tốt, cái pháp phải tách rời bốn thứ bịnh. Một là bịnh làm, là nếu ai nói tôi chủ tâm làm mọi việc đề cầu viên giác; nhưng viên giác không phải làm như thế mà được, nên nói như thế là bịnh đó. Hai là bịnh buông, là nếu ai nói tôi không loại sinh tử không cầu niết bàn, đối với niết bàn và sinh tử tôi không có ý niệm phát động hay hủy diệt, tôi buông thả tất cả, mặc kệ các pháp để cầu viên giác; nhưng viên giác không phải buông như thế mà có, nên nói như thế là bịnh đó. Ba là bịnh ngưng, là nếu ai nói tôi ngừng mọi ý niệm, nắm lấy vắng lặng của toàn bộ các pháp để cầu viên giác; nhưng viên giác không phải ngừng như thế mà hợp, nên nói như thế là bịnh đó. Bốn là bịnh dứt, là nếu ai nói tôi dứt bỏ phiền não, không cả thân tâm, huống chi những thứ căn cảnh huyễn ảo, tôi dứt bặt hết thảy để cầu viên giác; nhưng viên giác không phải dứt như thế mà chứng, nên nói như thế là bịnh đó. Pháp của ai tách rời bốn bịnh như vậy thì biết pháp ấy trong sáng. Và xét như vậy là xét chính xác, xét khác đi là xét sai lầm.

Lược Giải.-

Bịnh làm là làm một cách cuồng nhiệt, do hiểu lầm mặt cực động của thiền quán và những gì tương tự. Bịnh buông là buông một cách nhàn tản, do hiểu lầm sự không ghét ưa và những gì tương tự. Bịnh ngưng là ngưng một cách trầm trệ, do hiểu lầm mặt cực tĩnh của thiền quán và những gì tương tự. Bịnh dứt là dứt một cách chủ quan, do hiểu lầm mặt cực thuần của thiền quán và những gì tương tự. Làm, ngưng, buông và dứt như vậy là làm, ngưng, buông và dứt một cách bịnh hoạn (không đúng cách, không chính xác). Nhưng bịnh hoạn như thế chỉ là chưa đúng; đến như chính văn mô tả thì chỉ là nói khoác để khoe mà thôi, nên không những gọi là thiền bịnh mà còn gọi là đại vọng ngữ nữa. Pháp (sự tu hành) của thiện tri thức phải không có 4 bịnh như vậy, và nên y cứ vào pháp đó. Đó là đáp câu hỏi hai: nên cứ pháp nào.

Đáp Câu Hỏi Ba

Chính Văn.-

Thiện nam tử, những người thời kỳ cuối cùng muốn tu hành thì phải suốt đời phụng sự thầy bạn tốt có cái pháp tách rời cả bốn bịnh như vậy. Thầy bạn tốt muốn thân gần thì đừng khinh lờn, muốn xa rời thì đừng oán hận. Trước cảnh nghịch hay cảnh thuận lòng như không gian, với thân thể và tâm trí biết toàn không thật, coi tất cả chúng sinh đồng bản thể với mình. Làm như vậy mới mong nhập vào viên giác.

Lược Giải.-

Làm là làm những gì xứng đáng, trong đó có sự xứng đáng đối với thiện tri thức. Đó là đáp câu hỏi ba: nên làm việc gì.

Đáp Câu Hỏi Bốn

Chính Văn.-

Thiện nam tử, những người thời kỳ cuối cùng không thành đạt tuệ giác là vì chưa loại bỏ những hạt giống ghét ưa đối với bản thân cũng như đối với người khác, đã có từ vô thỉ. Ai nhìn kẻ thù như nhìn cha mẹ, lòng không bỉ thử, thì trừ khử được mọi thứ bịnh hoạn trong sự tu hành. Những sự ghét ưa đối với các pháp cũng phải trừ khử như vậy.

Lược Giải.-

Trừ bịnh là trừ các bịnh ghét ưa đối với các pháp, đối với thiện tri thức và người khác, kể cả bản thân. Đó là đáp câu hỏi bốn: nên trừ bịnh gì.

Đáp Câu Hỏi Năm

Chính Văn.-

Thiện nam tử, những người thời kỳ cuối cùng muốn cầu viên giác thì phải phát tâm, bằng cách nói như vầy: Cùng tận không gian, bao nhiêu chúng sinh trong đó, con nguyện làm cho họ nhập được viên giác; trong viên giác, con không chấp có người chứng ngộ, con nguyện loại trừ mọi sắc thái ngã tướng nhân tướng. Phát tâm như vậy thì không rơi vào kiến thức sai lầm.

Lược Giải.-

Phát tâm là phát tâm bồ đề: lập chí với lời nguyện trên cầu viên giác dưới giúp chúng sinh, không phân nhân ngã bỉ thử. Đó là đáp câu hỏi năm: nên phát tâm nào.

Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Chính Văn.-

Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

Phổ giác nên biết,
những người sau này
cầu thầy bạn tốt
phải cầu những người
thấy biết chính xác
tâm vượt nhị thừa.
Đối với pháp tu
phải loại bốn bịnh
bịnh làm bịnh ngưng
bịnh buông bịnh dứt.
Và thầy bạn tốt
thân, mình đừng kiêu,
sơ, mình không hận,
và nhìn mọi sự
của thầy bạn tốt
lòng thấy hiếm có;
có thầy bạn tốt
như Phật xuất hiện.
Không phạm những gì
trái với uy nghi,
gốc rễ giới luật
vĩnh viễn trong sáng.
Nguyện độ chúng sinh
nhập vào viên giác,
không có ngã tướng
nhân tướng cũng không,
y cứ tuệ giác
chính xác như vậy
thì vượt qua được
mọi thứ tà kiến:
tuệ giác chính xác
thì nhập niết bàn.
Chương Viên Giác

Nói Về Sơ Khởi Tu Hành Viên Giác [^]

Đ1. Bồ Tát Viên Giác Hỏi
Đ2. Đức Thế Tôn Đáp
E1. Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu
E2. Đáp 2 Câu Hỏi
G1. Đáp Câu Hỏi Một
H1. Chỉ Cách Thiết Lập Đạo Tràng An Cư
H2. Chỉ Cách An Cư Nếu Gặp Mùa An Cư
H3. Kết Thúc Cách Thiết Lập Đạo Tràng An Cư
G2. Đáp Câu Hỏi Hai
H1. Chỉ Cách Đầu Tiên Cho Lợi Căn Tu 3 Thiền Quán
H2. Chỉ Cách Đầu Tiên Cho Độn Căn Tu 3 Thiền Quán
E3. Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Bồ Tát Viên Giác Hỏi

Chính Văn.-

Lúc ấy bồ tát Viên giác ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài, đi quanh ngài ba vòng, rồi quì thẳng, chắp tay mà tác bạch: Thưa đức Thế tôn lòng thương cao cả, ngài đã dạy cho chúng con một cách rộng rãi về những phương tiện của viên giác trong sáng, làm cho những người thời kỳ cuối cùng cũng được ích lợi tăng thêm một cách lớn lao. Thưa đức Thế tôn, hiện tại chúng con đã được tỏ ngộ, nhưng ngài diệt độ rồi, thời kỳ cuối cùng những người chưa được tỏ ngộ, thì họ nên thiết lập đạo tràng (102) ữPage an cư như thế nào để tu tập viên giác? Cách đầu tiên tu ba mặt thiền quán trong sáng của viên giác là gì? Con thỉnh cầu đức Thế tôn, với lòng thương cao cả, chỉ dạy những điều ấy, ban cho đại chúng này, và người sau này, sự ích lợi lớn lao. Tác bạch rồi, bồ tát Viên giác gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm lại từ đầu.

Lược Giải.-

Lời hỏi của bồ tát Viên giác có 2 câu: câu một, thiết lập đạo tràng an cư như thế nào? câu hai, tu ba thiền quán bằng cách gì đầu tiên?

Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu

Chính Văn.-

Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Viên giác: Tốt lắm, thiện nam tử, ông có thể hỏi Như lai về phương tiện như vậy của viên giác, cống hiến ích lợi lớn lao cho bao chúng sinh. Ông hãy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Viên giác vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đáp Câu Hỏi Một

Lược Giải.-

Để tu tập những cách đầu tiên của 3 thiền quán thì phải thiết lập đạo tràng an cư, như cách thức được chỉ dạy trong 3 đoạn dưới đây. Đó là đáp câu hỏi một: thiết lập đạo tràng an cư như thế nào.

Chỉ Cách Thiết Lập Đạo Tràng An Cư

Chính Văn.-

Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, hoặc thời kỳ Như lai đang còn ở đời, hoặc thời kỳ Như lai đã diệt độ, hoặc thời kỳ cuối cùng của Phật pháp, tất cả mọi người ai có chủng tánh đại thừa (103) ữPage , tin và muốn tu viên giác vĩ đại của Như lai chứng ngộ, mà ở nơi tự viện, nếu có việc phải lo cho tăng chúng và tín đồ, thì tùy khả năng của mình, hãy tư duy thiền quán theo những cách thức Như lai đã chỉ ở trước (104) ữPage . Nếu không có việc gì, thì thiết lập đạo tràng mà an cư, với ba kỳ hạn: kỳ hạn dài một trăm hai mươi ngày, kỳ hạn vừa một trăm ngày, kỳ hạn ngắn tám mươi ngày. Bằng cách nếu Như lai đang ở đời thì hãy suy nghĩ chính xác đến Như lai; nếu Như lai đã diệt độ thì treo phan, chưng hoa, thiết trí hình tượng của Như lai lòng dồn lại nơi hình tượng ấy, mắt nhìn cho rõ rồi nhắm lại tưởng tượng hình tượng ấy, tâm trí nghĩ nhớ chính xác đến Như lai, như thế thì cũng như ngày Như lai còn ở đời. Trải qua ba tuần bảy ngày, kính lạy hồng danh Phật đà mười phương, tha thiết sám hối, cảm được hiện tượng tốt thì tâm trí thư thái. Qua ba tuần bảy ngày rồi, vẫn một mạch tập trung tư duy để tu tập những cách đầu tiên của ba thiền quán.

Lược Giải.-

Cách thức thiết lập đạo tràng an cư như sau. Thì gian là mỗi năm có 1 trong 3 kỳ hạn: dài 120 ngày, vừa 100 ngày, ngắn 80 ngày. Chỗ là phòng thất của tự viện, nếu là người xuất gia. Hình thức là bàn thờ tượng đức Bổn sư, trang hoàng bằng phan và hiến cúng bằng hoa. Nội dung là 2 phần: 3 tuần đầu thì niệm Phật và sám hối, kế đó đến hết kỳ hạn thì một mạch tập trung tư duy mà tu cách đầu tiên của 1 trong 3 thiền quán (sẽ nói trong G2 dưới đây). Chú ý: một, nếu kỳ hạn gặp mùa an cư thì an cư theo cách chỉ trong đoạn H2 dưới đây; hai, hết kỳ hạn thì sinh hoạt bình thường, nghĩa là vẫn tu tập thiền quán theo khả năng bình thường.

Niệm Phật nói trên là nhìn kyՠhình tượng Bổn sư để mỗi khi nhắm mắt lại có thể tưởng thấy. Rồi nghĩ nhớ chính xác đến ngài, bằng cách thông thường nhất là nghĩ về công đức của Ngài trong hồng danh Thích ca mâu ni và 10 hiệu Như lai cho đến Thế tôn sau hồng danh ấy, lại xưng niệm hồng danh ấy. Niệm Phật như vầy làm suốt thì gian 3 tuần, vào lúc đi đứng nằm ngồi, vào lúc trước hay sau khi sám hối, chỉ trừ khi ngủ.

Sám hối nói trên là trước hết niệm Phật như đã nói, kế đó lạy hồng danh của đức Bổn sư hay của chư Phật (theo nghi thức Hồng danh cũng đủ). Lạy với số lượng theo khả năng tinh tiến. Sám hối như vậy suốt 3 tuần, mỗi ngày đêm có 6 lần (chia 24 giờ ra mà định). Sám hối mà thấy các hiện tượng tốt thì rất quí, như thấy Phật, thấy hoa sen, thấy ánh sáng.

Chỉ Cách An Cư Nếu Gặp Mùa An Cư

Chính Văn.-

Nếu kỳ hạn như trên mà gặp đầu hạ ba tháng an cư, thì phải làm theo sự an cư trong sáng của bồ tát. Bằng cách trong tâm tách rời thanh văn, không dựa đồng chúng. Đến ngày an cư thì đối trước hình tượng Như lai mà tác bạch như vầy: Nay con là tỷ kheo, hay tỷ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, có tên như vậy, nguyện nương bồ tát thừa (105) ữPage mà tu tịch diệt hạnh (106) ữPage , để được đồng nhập thật tướng trong sáng. Vì bản thể niết bàn không tùy thuộc đâu cả, nên con nguyện lấy viên giác vĩ đại làm chốn tự viện, cả thân thể lẫn tâm trí đều an cư trong viên giác bình đẳng ấy. Con kính xin không nương tựa các vị thanh văn, chỉ nương tựa chư vị Thế tôn và Đại sĩ để an cư ba tháng, và vì lý do to lớn là tu tập viên giác vô thượng như các vị bồ tát đang tu, nên con không tùy thuộc đồng chúng.

Lược Giải.-

Kỳ hạn thiết lập đạo tràng an cư như đoạn H1 trên đã nói mà nếu ngày mở đầu gặp ngày đầu 3 tháng an cư mùa hạ, thì phải: Một, cũng phải an cư đúng 3 tháng (90 ngày). Hai, nếu đồng chúng thọ Bồ tát tỷ kheo giới và chương trình an cư làm theo cách thiết lập đạo tràng an cư của kinh Viên giác thì khỏi nói, nếu không như vậy thì hành giả Viên giác xuất gia phải an cư theo pháp bồ tát chứ không an cư theo pháp thanh văn, nghĩa là an cư không đồng chúng, bằng cách thiết lập đạo tràng trong phòng thất và làm tất cả những gì đoạn H1 trên đã chỉ dẫn. Ba, trước đó, hãy làm lễ thọ an cư riêng trong đạo tràng đã thiết lập, với lời tác bạch như chính văn đã chỉ. Bốn, trước đó nữa, nếu xét thấy nên thì nên thông báo cho đồng chúng chứng minh cho hạnh nguyện của mình.

Kết Thúc Cách Thiết Lập Đạo Tràng An Cư

Chính Văn.

Thiện nam tử, như thế đó là thiết lập đạo tràng mà an cư, và mỗi năm hết một trong ba kỳ hạn rồi, đi lại tùy ý (107) ữPage .

Lược Giải.-

Thật là rõ ràng, tuy nói mỗi năm 1 kỳ, mỗi kỳ hoặc 120 ngày, hoặc 100 hay 80 ngày, hoặc 90 ngày nếu gặp mùa an cư, không làm đúng qui định như vậy là không được, nhưng nếu làm hơn như vậy thì không thấy hạn chế. Lại nữa, sau kỳ hạn thiết lập đạo tràng an cư thì vẫn phải theo khả năng bình thường mà tiếp tục tu tập thiền quán viên giác (như các chương trước đã dạy), không phải sự tu tập ấy mỗi năm chỉ cần 1 kỳ -- 1 kỳ này phải đặc biệt cẩn trọng và tinh tiến mà thôi.

Đáp Câu Hỏi Hai

Lược Giải.-

Trong kỳ hạn thiết lập đạo tràng an cư, sau 3 tuần chánh niệm Bổn sư và chân thành sám hối rồi, phải một mạch tập trung tư duy tu tập những cách đầu tiên của 3 thiền quán mà Phật sẽ chỉ dạy trong các đoạn dưới đây. Đó là đáp câu hỏi hai: tu 3 thiền quán bằng cách gì đầu tiên.

Chỉ Cách Đầu Tiên Cho Lợi Căn (108) ữPage Tu 3 Thiền Quán

(Nói Chung)

Chính Văn.-

Thiện nam tử, những người thời kỳ cuối cùng đi theo đường đi của bồ tát, bước vào một trong ba kỳ hạn an cư, thì hiện tượng nào không phải cái họ đã nghe, họ tuyệt đối không nên chấp nhận (109) ữPage .

(Chỉ Cách Đầu Tiên Tu Cực Tĩnh)

Chính Văn.-

Thiện nam tử, ai tu cực tĩnh xa ma tha, trước hết nắm lấy sự tĩnh lặng, bằng cách không nổi dậy mọi sự nghĩ nhớ, thì tĩnh cực là giác phát. Trạng thái tĩnh đầu tiên này phát triển từ một bản thân đến một thế giới, thì trạng thái giác cũng phát triển như vậy. Trạng thái giác cùng khắp một thế giới, thì trong thế giới ấy một chúng sinh nào nổi lên một ý niệm gì cũng biết được cả. Trạng thái tỉnh và giác cùng khắp trăm hay ngàn thế giới thì cũng y như vậy. Thế nhưng hiện tượng nào không phải cái họ đã nghe, họ tuyệt đối không nên chấp nhận.

(Chỉ Cách Đầu Tiên Tu Cực Động)

Chính Văn.-

Thiện nam tử, ai tu cực động tam ma bát đề, trước hết tưởng nhớ mười phương Như lai và Đại sĩ, y theo những tổng trì môn các ngài đã tuần tự tu tập về tinh tiến, khổ hạnh và thiền quán mà phát nguyện cao cả thì tự huân tập thành cá tính (110) ữPage của mình ...Thế nhưng hiện tượng nào không phải cái họ đã nghe, họ tuyệt đối không nên chấp nhận.

(Chỉ Cách Đầu Tiên Tu Cực Thuần)

Chính Văn.-

Thiện nam tử, ai tu cực thuần thiền na, trước hết nắm lấy sự đếm kể (111) ữPage , bằng cách trong tâm tự biết rõ số lượng của ý nghĩ phát sinh, tồn tại và diệt mất. Cứ như vậy, mọi cử động đi đứng nằm ngồi đều biết rành rẽ số lượng của ý nghĩ, không một ý nghĩ nào không biết. Rồi tuần tự bước tới, cho đến lúc biết được cả một giọt mưa trong trăm ngàn thế giới mà y như nhìn thấy đồ dùng trước mắt. Thế nhưng hiện tượng nào không phải cái họ đã nghe, họ tuyệt đối không nên chấp nhận.

(Tổng Kết)

Chính Văn.-

Như thế đó là những cách đầu tiên của ba thiền quán. Ai tu khắp cả ba thiền quán ấy một cách siêng năng tinh tiến, thì đối với người ấy Như lai xuất thế.

Lược Giải (trọn đoạn H1 trên đây)

Cách đầu tiên tu thiền quán cực tĩnh là không nổi dậy mọi sự nghĩ nhớ. Cách đầu tiên tu thiền quán cực động là tưởng nhớ Phật đà và Đại sĩ, y theo hạnh nguyện của các ngài mà phát nguyện cao cả để tự huân tập thành cá tính nơi mình. Cách đầu tiên tu thiền quán cực thuần là tự đếm ý nghĩ. Với những cách đầu tiên như vậy mà đã được cái gọi là lục căn thanh tịnh của Pháp hoa.

Bây giờ nên bổ túc đoạn cực động. Ở đó không nói thành quả. Tại sao không nói thì các ngài trước đã chú ý và đưa ra nhận xét. Theo thiển kiến thì đoạn cực động không nói thành quả là vì cực động ai cũng có thể làm được hơn: làm được nên Phật nói càng ít thì làm càng chắc. Tuy nhận xét như vậy, tôi vẫn y cứ các đoạn chính văn ở trước có liên hệ thiền quán cực động mà trích nguyên ra đây, làm việc bổ túc tàm tạm: ..phát nguyện cao cả thì tự huân tập thành cá tính của mình, nên không mất cái nhớ cực thuần và cái biết cực tĩnh đối với các pháp tổng trì, thấy được mọi việc siêng khó của đức Thế tôn trong bao kiếp, thấy rõ như mới xảy ra một thoáng trước đây, và, với sức mạnh của Phật, làm mọi việc Phật làm: lấy đại bi mà vào luân hồi, hiện thân đủ hình đủ loại, hiện cảnh đủ thuận đủ nghịch, đồng sự mà giáo hóa chúng sinh.

Chỉ Cách Đầu Tiên Cho Độn Căn (108) ữPage Tu 3 Thiền Quán

Chính Văn.-

Trong thời kỳ cuối cùng, những người trình độ chậm chạp, muốn cầu tuệ giác mà không thành đạt, ấy là vì nghiệp cũ gây ra chướng ngại. Họ phải siêng năng sám hối, phải luôn luôn hy vọng, và trước đó phải đoạn tuyệt những sự ghét bỏ, yêu thích, ganh ghét, dua nịnh, và luyện tập tâm lý thắng thượng (112) ữPage . Rồi trong ba thiền quán, tùy khả năng mà tu lấy một. Một thiền quán ấy không thành thì tu thiền quán khác. Quyết ý không buông không bỏ, tuần tự mà cầu chứng ngộ.

Lược Giải.-

Cách phải làm trước tiên của người độn căn là phải sám hối nghiệp cũ, tuyệt thói ghét ưa, luyện tâm thắng thượng (mà đầu tiên là sự tùy hỷ), rồi quyết tâm bền chí, tuyệt đối tin tưởng và hy vọng đối với thiền quán của viên giác, bắt đầu cách này không thành thì bắt đầu cách khác, không buông không bỏ. Như thế thì thế nào cũng thành đạt.

Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Chính Văn.-

Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

Viên giác nên biết,
chúng sinh muốn cầu
tuệ giác vô thượng,
trước hết họ phải
ấn định lấy một
trong ba kỳ hạn.
Rồi trong ba tuần
đầu mỗi kỳ hạn,
họ phải sám hối
nghiệp chướng lâu đời;
sau đó tư duy
thiền quán chính xác --
mà hiện tượng nào
không phải đã nghe,
thì họ tuyệt đối
không nên chấp nhận:
thiền quán cực tĩnh
tĩnh lặng hết mức,
thiền quán cực động
tưởng nhớ chính xác,
thiền quán cực thuần
đếm kể rõ ràng.
Đó, cách đầu tiên
của ba thiền quán;
siêng tu tập cả,
như Phật xuất hiện.
Trình độ chậm chạp
tu tập không thành,
thì phải siêng khó
sám hối tội chướng;
tội chướng tan biến
cảnh Phật hiện ra.

Bồ Tát Hiền Thiện Thủ Hỏi

Chính Văn.-

Lúc ấy bồ tát Hiền thiện thủ ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi quì thẳng, chắp tay mà tác bạch: Thưa đức Thế tôn lòng thương cao cả, ngài đã khai thị một cách rộng rãi như trên, cho chúng con và những người thời kỳ cuối cùng, về những sự ngoài tầm tư duy và thảo luận. Thưa đức Thế tôn, kinh pháp đại thừa này nên mệnh danh là gì? nên phụng trì cách nào? ai tu tập thì được công đức gì? chúng con hộ trì cách nào cho những người phụng trì kinh này? kinh này đi đến đâu? Tác bạch rồi, bồ tát Hiền thiện thủ gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần, mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm lại từ đầu.

Lược Giải.-

Lời hỏi của bồ tát Hiền thiện thủ có 5 câu: câu một, mệnh danh kinh này là gì? câu hai, phụng trì kinh này cách nào? câu ba, tu tập kinh này được công đức gì? câu bốn, hộ trì cách nào cho người phụng trì kinh này? câu năm, kinh này đi đến đâu?

Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu

Chính Văn.-

Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Hiền thiện thủ: Tốt lắm, thiện nam tử, ông có thể vì các vị bồ tát và những người sau này mà hỏi Như lai về danh hiệu, công đức, và những gì liên hệ đến kinh pháp như thế này. Ông hãy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Hiền thiện thủ vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đáp Tổng Quát

Chính Văn.-

Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, kinh này được trăm ngàn vạn ức hằng sa Phật đà tuyên thuyết, được Phật đà quá khứ, hiện tại và vị lai hộ trì, được bồ tát mười phương quy y vì là con mắt trong sáng của cả mười hai loại khế kinh.

Đáp Câu Hỏi Một

Chính Văn.-

Kinh này mệnh danh là kinh nói về Tổng trì viên giác, thuộc loại cực kỳ cao rộng; cũng mệnh danh là kinh nói về Nghĩa lý cứu cánh của khế kinh, kinh nói về Chánh định chúa tể bí mật, kinh nói về Cảnh giới quyết định của Như lai, kinh nói về Đặc tính và sắc thái của Như lai tạng. Các ông hãy nhớ như vậy.

Lược Giải.-

Kinh này có 5 danh hiệu. Đó là đáp câu hỏi một: mệnh danh kinh này là gì.

Đáp Câu Hỏi Năm

Chính Văn.-

Thiện nam tử, kinh này chỉ nói cảnh giới của Như lai, chỉ Như lai mới nói cùng tận. Các vị bồ tát, và những người thời kỳ cuối cùng, y cứ kinh này mà tu hành, thì tuần tự bước tới, đến tận địa vị Phật đà.

Lược Giải.-

Kinh này đưa người hành trì bước đến tận địa vị Phật đà. Đó là đáp câu hỏi năm: kinh này đi đến đâu.

Đáp Câu Hỏi Hai

Chính Văn.-

Thiện nam tử, kinh này là đại thừa đốn giáo (113) ữPage , nên chúng sinh đốn cơ (114) ữPage thì tỏ ngộ bởi kinh này. Nhưng kinh này cũng bao gồm các loại tiệm cơ (115) ữPage . Biển cả (116) ữPage thì đâu có kém sông bé (117) ữPage , muỗi mòng (118) ữPage hay tu la (119) ữPage , loài nào uống nước biển cả cũng no đủ hết thảy.

Lược Giải.-

Kinh này chính yếu dạy cho đốn cơ, nhưng kèm theo cũng dạy cho các tiệm cơ: ai cũng phụng trì được cả. Đó là đáp câu hỏi hai: phụng trì kinh này cách nào (đúng ra nên nói ai phụng trì được).

Đáp Câu Hỏi Ba

Chính Văn.-

Thiện nam tử, giả sử có ai đem bảy thứ quí báu (120) ữPage chất đầy cả đại thiên thế giới (121) ữPage mà bố thí, cũng không bằng có người nghe danh hiệu hay một câu một nghĩa của kinh này. Lại giả sử có ai giáo hóa một trăm hằng sa chúng sinh được tuệ giác La hán, cũng không bằng có người tuyên thuyết kinh này bằng cách phân tích nửa bài chỉnh cú.

Lược Giải.-

Kinh này nghe ít vẫn hơn bố thí nhiều vàng ngọc, nói ít vẫn hơn dạy nhiều người thành La hán. Đó là đáp câu hỏi ba: tu tập kinh này được công đức gì.

Đáp Câu Hỏi Bốn

Chính Văn.-

Thiện nam tử, ai nghe danh hiệu kinh này mà thôi, mà tin một cách không còn bị mê hoặc, thì ông phải biết người ấy không phải chỉ gieo trồng phước đức và tuệ giác nơi một vài đức Phật, mà đã gieo trồng những thiện căn như vậy, và đã nghe kinh này, nơi hằng sa Phật đà. Thiện nam tử, các ông nên hộ trì người ấy, đừng để ma vương và ngoại đạo quấy rối thân thể và tâm trí (122) ữPage của họ, làm cho họ lùi bước, khuất phục.

Lược Giải.-

Hãy giữ cho người phụng trì kinh này bằng cách không để cho ma vương và ngoại đạo, cùng tay sai của họ, có được cơ hội thuận tiện mà họ rình rập để phá hoại thân tâm của người ấy. Đó là đáp câu hỏi bốn: hộ trì cách nào cho người phụng trì kinh này.

Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Chính Văn.-

Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

Hiền thiện thủ này,
ông nên nhận thức
kinh này là do
chư Phật tuyên thuyết,
và do Như lai
cùng chư Như lai
trân trọng giữ gìn,
vì là con mắt
của mười hai loại
khế kinh của Phật.
Kinh này tên là
Tổng trì viên giác,
thuộc về thể loại
pháp đại phương quảng,
nói về cảnh giới
của chư Như lai.
Những ai tu hành
y theo kinh này
thì tăng tiến lên
đến địa vị Phật.
Y như đại dương
nạp hết sông ngòi,
ai uống nước ấy
cũng sung mãn cả.
Giả sử bố thí
bảy thứ quí báu
nhiều bằng cái lượng
đại thiên thế giới,
cũng không bằng phước
được nghe kinh này.
Và nếu giáo hóa
hằng sa chúng sinh
đều thực hiện được
tuệ giác La hán,
cũng không bằng phước
nói nửa bài kệ.
Trong thì vị lai
các người hãy giữ
cho người tuyên thuyết
duy trì kinh này,
đừng để cho họ
phải bị thoái khuất.

Lược Giải.-

Đoạn chỉnh cú này, theo Vạn 150/353A nói tìm thấy trong 1 cổ bản đời Tống. Trên đây là dịch chính văn đoạn chỉnh cú ấy. Nhưng đại sư Thái hư thì cho chương này không có chỉnh cú. Đại sư Tông mật (đời Đường) sớ giải cũng không có. Vậy đoạn chính văn ở đây chỉ do kẻ háo sự đặt ra. Mà xét đoạn chính văn ấy, do ngài Thái hư trích dẫn, thì quả là lối háo sự thật, không nghiêm chỉnh như đoạn chính văn đã dịch ở trên (Thái hư toàn thư, tập 28 trang 2048).

Kim Cang Lực Sĩ

Chính Văn.-

Vào lúc bấy giờ, trong đại hội có tám mươi ngàn Kim cang lực sĩ (123) ữPage , cầm đầu bởi kim cang lực sĩ Hỏa thủ, kim cang lực sĩ Tồi toái, kim cang lực sĩ Ni lam bà. Các vị kim cang lực sĩ cầm đầu này, cùng thuộc hạ của họ, tức thì từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi tác bạch: Thưa đức Thế tôn, thời kỳ cuối cùng sau này, có ai phụng trì được kinh pháp đại thừa quyết định như thế này, thì chúng con nguyện giữ người ấy như giữ con mắt của mình. Những chỗ người ấy thiết lập đạo tràng thì chúng con tự thống suất bộ hạ sớm tối giữ gìn, không để họ bị thoái chuyển. Chỗ họ cư trú thì không bao giờ bị tai nạn và mọi chướng ngại khác, những loại bịnh truyền nhiễm cũng tan biến, tài vật phong phú, sung túc, không bao giờ thiếu thốn gì cả.

Lược Giải.-

Đây là lời phát nguyện hộ trì của Kim cang lực sĩ, những vị chuyên hộ trì Phật pháp và những người thọ trì Phật pháp.

Phạn Vương Đế Thích

Chính Văn.-

Cũng vào lúc bấy giờ, Đại phạn thiên vương (124) ữPage , và hai mươi tám vị thiên vương khác; chúa tể Tu di sơn là Đế thích thiên vương (125) ữPage , cùng bốn vị thiên vương hộ vệ thế giới loài người, cũng tức thì từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi tác bạch: Thưa đức Thế tôn, chúng con cũng nguyện hộ trì cho những người phụng trì kinh này, làm cho họ luôn luôn yên ổn, không thoái chuyển tâm chí.

Lược Giải.-

Đây là sự phát nguyện hộ trì của chư thiên, những vị thiện tâm.

Ác Quỉ

Chính Văn.-

Lại có đại lực quỉ vương tên Cát bàn trà (126) ữPage , cùng với mười vạn quỉ vương, cũng tức thì từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi tác bạch: Thưa đức Thế tôn, chúng con cũng nguyện hộ trì những người phụng trì kinh này, sớm tối hầu hạ gìn giữ, làm cho những người ấy không thoái chí khuất phục. Những người ấy ở đâu thì trong chu vi một do tuần của chỗ ấy, nếu có quỉ thần độc ác xâm phạm, chúng con sẽ làm cho họ nát như vi trần (127) ữPage .

Lược Giải.-

Đây là sự phát nguyện hộ trì của ác quỉ đã sinh thiện niệm.

Tất Cả Hoan Hỷ Phụng Hành

Chính Văn.-

Khi đức Thế tôn tuyên thuyết kinh này hoàn tất thì các vị bồ tát (128) ữPage , tám bộ thiên long (129) ữPage mà trong đó có Đế thích thiên vương và Đại phạn thiên vương, cùng tùy thuộc của họ, toàn thể đại hội nghe những điều tuyên thuyết của đức Thế tôn, ai cũng rất hoan hỷ, tín thọ và phụng hành.

Lược Giải.-

Phật thuyết kinh này trong chánh định và tịnh độ. Nhưng tịnh độ ở đây là phần tha thọ dụng độ, gồm có phần thắng ứng hóa độ, nên ngoài các vị bồ tát là chúng đương cơ, vẫn có tám bộ thiên long là chúng hộ pháp, nhưng ai cũng tham dự, thấy nghe, và phụng hành, theo cái lượng sở tri của mình.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn