Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phần 4. Phần Lược Giải

21/05/201319:44(Xem: 6808)
Phần 4. Phần Lược Giải

Kinh Viên Giác

Phần 4
Phần Lược Giải

Hòa thượng Thích Trí Quang

Nguồn: Hòa thượng Thích Trí Quang dịch

Lược Giải Đầu Đề

Đầu đề kinh này, chính văn là Đại phương quảng viên giác tu đa la liễu nghĩa kinh, dịch đủ là kinh nghĩa lý cứu cánh trong các loại khế kinh, nói về Tuệ giác hoàn toàn, thuộc loại cực kỳ cao rộng.

Đại phương quảng (cực kỳ cao rộng) là 1 trong 12 loại khế kinh, kinh này thuộc về thể loại ấy. Tu đa la dịch ý là kinh hay khế kinh, ở đây chỉ cho tất cả các kinh (mà kinh nào cũng có từ 1 cho đến 12 thể loại). Liễu nghĩa kinh (kinh nghĩa lý cứu cánh), chữ liễu còn có nghĩa là rõ ràng. Tất cả các kinh, có một cách phân loại là liễu nghĩa (chân thật thuyết) và bất liễu nghĩa (phương tiện thuyết). Kinh Viên giác này thuộc loại liễu nghĩa. Tu đa la liễu nghĩa kinh là bản kinh liễu nghĩa trong tất cả các kinh. Đại phương quảng viên giác tu đa la liễu nghĩa kinh, có nghĩa là kinh Viên giác là kinh liễu nghĩa trong các kinh, thuộc loại đại phương quảng. Và như vậy chỉ có chữ Viên giác mới thật là tên của kinh này, các chữ trên và dưới chữ ấy chỉ cốt làm cho thấy kinh này rất cao.

Viên giác,trong chương Thanh tịnh tuệ nói rõ là viên mãn bồ đề,vậy viên giác chính là vô thượng bồ đề của Phật.Viên giác nghĩa là tuệ giác hoàn toàn, tròn đầy. Viên giác đủ các mặt là đại bồ đề và đại niết bàn, không phải chỉ là đại bồ đề. Viên giác vừa là năng chứng bồ đề, vừa là sở chứng chân như, không phải chỉ là năng chứng bồ đề. Quan trọng hơn cả, Viên giác là bản giác, thỉ giác và cứu cánh giác (cái biết bản hữu, cái biết mới có, cái biết cứu cánh), không phải chỉ là cứu cánh giác.

Lược Phân Nội Dung

Trong khi dịch giải kinh Viên giác, tôi có một số các bản chú thích xưa, trong đó có đại sớ và lược sớ của ngài Tông mật. Tất cả đều nằm trong Tục tạng kinh bản chữ Vạn, các tập 14, 15 và 16. Tôi cũng có bản lược thích của ngài Thái hư, nằm trong Thái hư toàn thư tập 28. Tôi đã đọc cách phân chia nội dung của các bản ấy. Có những cách phân chia khác nữa, thấy được ghi lại trong Vạn 16/5a. Rồi đối chiếu kyՠvới chính văn,tôi tham chước mà lược phân kinh Viên giác như sau.

Kinh này gồm có 3 phần là mở đầu, nội dung và kết thúc. Phần nội dung và phần kết thúc gồm có 12 lần hỏi đáp, gọi là 12 chương, lấy theo tên các vị đại sĩ hỏi. Tựu trung, chương 12 là phần kết thúc, còn 11 chương trước đó là phần nội dung, lược phân làm 2 phần, là phần chủ yếu và phần bổ túc.

Phần chủ yếu gồm có 6 chương: 1. chương Văn thù nói về căn bản tu chứng viên giác, 2. chương Phổ hiền nói về cách thức đốn tu viên giác, 3. chương Phổ nhãn nói về cách thức tiệm tu viên giác, 4. chương Kim cang tạng nói về viên giác vĩnh viễn viên giác, 5. chương Di lạc nói về chủng tánh tu chứng viên giác, 6. chương Thanh tịnh tuệ nói về đẳng cấp tu chứng viên giác.

Phần bổ túc gồm có 5 chương: 7. chương Uy đức tự tại nói về 3 mặt thiền quán viên giác, 8. chương Biện âm nói về cách tu 3 mặt ở trên, 9. chương Tịnh chư nghiệp chướng nói về chướng ngại tu chứng viên giác, 10. chương Phổ giác nói về bịnh hoạn tu chứng viên giác, 11. chương Viên giác nói về sơ khởi tu chứng viên giác.

Chủ yếu là chủ yếu trong việc tu chứng viên giác, nên chương 1 nêu căn bản tu chứng, chương 2 chỉ cách tu liền liền, chương 3 chỉ cách tu dần dần, chương 4 nói do tu như vậy mà chứng được viên giác vĩnh viễn, chương 5 nói tư cách tu chứng như vậy,chương 6 nói đẳng cấp tu chứng như vậy. Còn bổ túc là bổ túc cho phần chủ yếu, nên các chương 7, 8 và 11 là bổ túc chương 3 (và 1 phần chương 2), nói thêm và rõ về các cách tu chứng; các chương 9 và 10 bổ túc các chương 5 và 6 nói về chướng ngại và bịnh hoạn phải trừ trong sự tu chứng.

Đó là có tham chước ý kiến người trước mà lược phân. Nếu lược phân theo ý mình hoàn toàn thì chương 2 tôi ghi "chương Phổ hiền nói về nguyên lý tu chứng viên giác" (nguyên lý ấy là đem huyễn ảo diệt trừ huyễn ảo, huyễn ảo diệt hết mà viên giác bất động), chương 3 tôi ghi "chương Phổ nhãn nói về cách thức tu chứng viên giác", chương 4 tôi ghi "chương Kim cang tạng nói về viên giác siêu việt luân hồi" (bản thể viên giác siêu việt kiến thức luân hồi, không phát sinh hay tái sinh vô minh), chương 5 tôi ghi "chương Di lạc nói về diệt trừ gốc rễ luân hồi" (diệt trừ ái dục là gốc kiến thức luân hồi, làm cho viên giác không còn tái sinh vô minh). Ghi như vậy đúng và rõ hơn nữa.

Đó là lược phân nội dung kinh này. Còn lược phân từng chương sẽ làm trong phần lược giải chính văn.

Lược Ghi Dịch Giả

Dịch giả kinh này là ngài Giác cứu (Phật đà đa la), vốn người Kế tân (Ca thấp di la), đến Trung hoa dịch kinh này vào giữa thế kỷ thứ 7. Có chỗ còn ghi rõ dịch xong ngày Vu lan năm đinh mùi,niên hiệu Trinh quán đời Đường (650).

Mở Đầu

Chính Văn.-

Tôi nghe như vầy: Một thời đức Thế tôn nhập vào chánh định tên là Kho tàng ánh sáng vĩ đại của thần thông . Kho tàng ấy là chỗ ở giữ (1) một cách sáng chói tôn nghiêm của các đức Thế tôn, là tánh tuệ giác (2) vốn rất trong suốt sạch sẽ của các loại chúng sinh. Đức Thế tôn nhập vào chánh định ấy nên thân thể và tâm trí đều vắng lặng (3) đồng nhất với bản thể phổ biến vũ trụ, nghĩa là thích ứng với sự bất nhị (4) . Chính sự bất nhị ấy biểu hiện thế giới trong sạch (5) . Đức Thế tôn ở nơi thế giới trong sạch này, và cùng ở với ngài có mười ngàn vị đại sĩ mà các bậc đứng đầu là bồ tát Văn thù, bồ tát Phổ hiền, bồ tát Phổ nhãn, bồ tát Kim cang tạng, bồ tát Di lạc, bồ tát Thanh tịnh tuệ, bồ tát Uy đức tự tại, bồ tát Biện âm, bồ tát Tịnh chư nghiệp chướng, bồ tát Phổ giác, bồ tát Viên giác, bồ tát Hiền thiện thủ; các vị này, và các vị tùy thuộc, cùng nhập vào chánh định, nên cùng dự pháp hội bình đẳng của đức Thế tôn.

Lược Giải.-

Khác với số lớn kinh khác nói Phật tuyên thuyết ở chỗ nào đó, kinh này nói Phật tuyên thuyết ở tịnh độ (được biểu hiện bởi chánh định). Vậy tịnh độ ấy là báo độ của Phật (phần tha thọ dụng), không có giới hạn nào cả. Đâu cũng là tịnh độ của Phật, không cần nêu lên một chỗ. Thấy là uế độ, chỉ vì kính màu nghiệp báo của chúng ta.

Cũng khác với một số kinh khác, kinh này người nói (Phật) và người nghe (bồ tát) cùng nhập chánh định mà hỏi, mà nói, mà nghe. Những sự ấy cũng là hoạt dụng của chánh định loại cao.

Nội Dung

C1: chủ yếu, có 6 D: D1 chương Văn thù nói về căn bản tu chứng viên giác, D2 chương Phổ hiền nói về cách thức đốn tu (6) viên giác, D3 chương Phổ nhãn nói về cách thức tiệm tu (7) viên giác, D4 chương Kim cang tạng nói về viên giác vĩnh viễn viên giác, D5 chương Di lạc nói về chủng tánh (8) tu chứng viên giác, D6 chương Thanh tịnh tuệ nói về đẳng cấp tu chứng viên giác.

Chương Văn Thù Nói Về Căn Bản Tu Chứng Viên Giác [^]

Đ1. Bồ Tát Văn Thù Hỏi
Đ2. Đức Thế Tôn Đáp
E1. Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu
E2. Đáp 3 Câu Hỏi
G1. Đáp Câu Hõi Một
G2. Đáp Các Câu Hõi Hai Và Ba
E3. Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Bồ Tát Văn Thù Hỏi

Chính Văn.-

Lúc ấy bồ tát Văn thù ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi quì thẳng, chắp tay mà tác bạch: Thưa đức Thế tôn lòng thương cao cả, con xin ngài vì các vị đến dự pháp hội này mà nói về việc làm căn bản sơ khởi (9) của đức Thế tôn là thế nào? Lại nói về các vị bồ tát ở trong đại thừa phát tâm như thế nào mới trong suốt, tách rời bịnh hoạn (10) ? Và thời kỳ cuối cùng (11) , những người cầu pháp đại thừa phải như thế nào mới khỏi sa vào kiến thức sai lầm (12) ? Tác bạch rồi, bồ tát Văn thù gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần, mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm

lại từ đầu.

Lược Giải.-

Lời hỏi của ngài Văn thù có 3 câu: câu một, việc làm căn bản sơ khởi của Phật là gì? câu hai, bồ tát phát tâm đại thừa như thế nào mới không bịnh hoạn? câu ba, chúng sinh mạt pháp cầu đại thừa phải như thế nào mới khỏi sa vào tà kiến?

Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu

Chính Văn.-

Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Văn thù: Tốt lắm , thiện nam tử (13) , ông có thể vì các vị bồ tát mà hỏi đến việc làm căn bản sơ khởi của Như lai, lại vì những người cầu pháp đại thừa trong thời kỳ cuối cùng mà hỏi làm cách nào để được sự trú ở (14) chính xác, không sa vào kiến thức sai lầm. Ông hãy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Văn thù vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đáp Câu Hỏi Một

Chính Văn.-

Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, đức Pháp vương vô thượng có pháp đại tổng trì (15) danh hiệu là Viên giác, tuôn ra tất cả các pháp trong sáng là chân như (16) , bồ đề (17) , niết bàn (18) và ba la mật (19) , để dạy cho các vị bồ tát. Việc làm căn bản sơ khởi của chư vị Như lai là y theo viên giác - y theo tuệ giác trong suốt và chiếu soi trọn vẹn ấy mà diệt trừ vô minh một cách vĩnh viễn, mới thành đạt tuệ giác Phật đà (20) .

Lược Giải.-

Việc làm căn bản sơ khởi của Phật là y cứ viên giác mà diệt trừ vô minh. Đó là đáp câu hỏi một của ngài Văn thù: việc làm căn bản sơ khởi của Phật là gì.

Nói Thêm Về Vô Minh

Chính Văn.-

Thiện nam tử, vô minh là gì, là những sự thác loạn có từ vô thỉ đến giờ của các loại chúng sinh, những sự thác loạn tựa như một kẻ ngộ nhận thì bốn phương hướng biến đổi vị trí (21) tất cả. Do đó mà ngộ nhận sự tổ hợp của bốn đại chủng làm tự thân, ngộ nhận sự nhận thức về sáu đối cảnh (22) làm tự tâm , khác nào mắt bịnh thì thấy không gian có hoa đốm, hay thấy mặt trăng có mặt trăng thứ hai chồng lên. Nhưng không gian thật không có hoa đốm, hoa đốm chỉ do người bịnh ngộ nhận: vì sự ngộ nhận này mà không những ngộ nhận sự thật của không gian, lại còn ngộ nhận cả xuất xứ chính xác của hoa đốm, và vì như vậy mà có sự sinh tử luân hồi, có một cách không thật (23) , nên mệnh danh là vô minh.

Lược Giải.-

Vô minh là biết mà biết sai: biết tổ hợp tứ đại là tự thân, biết duyên ảnh lục trần là tự tâm. Biết như vậy là cũng như mắt bịnh thấy không gian có hoa đốm.

Trong kinh Lăng nghiêm thuật lại cái biết của ngài A nan như sau: ... Tự biết Tâm khắp mười phương.Thấy không gian mười phương chỉ như chiếc lá trong lòng bàn tay. Vũ trụ vạn hữu đều là Tâm. Tâm bao hàm tất cả. Nhìn lại cái thân do cha mẹ sinh ra thấy chỉ như hạt bụi trong không gian. Thân ấy còn hay mất, chỉ như cái bọt nổi lên hay tan mất trong biển cả ... (Chính 19/119). Biết cái thân bình thường mà như vậy thì không phải là cái biết của vô minh.

Nói Thêm Về Viên Giác

Chính Văn.-

Thiện nam tử, vô minh như vậy là không phải có thật, y như nhân vật trong mộng, mộng thì thấy là có mà tỉnh thì biết là không -- Không đây là như hoa đốm mất đi trong không gian, thì không thể nói không gian có cái vị trí biến mất, vì lẽ không gian vốn không có cái vị trí sinh ra. Trong sự không sinh không mất như vậy, các loại chúng sinh thấy lầm có sinh có mất, nên gọi là sinh tử luân hồi (24) ; còn việc làm căn bản sơ khởi của chư vị Như lai là tu theo viên giác: biết là hoa đốm thì biết sinh tử luân hồi là không, thân tâm lãnh chịu sự sinh tử luân hồi ấy cũng là không -- Không, không phải làm cho không đi mới không, mà là thực chất vốn không. Biết là hoa đốm, cái biết ấy cũng là không; cái biết cũng là không như vậy cũng chỉ là sắc thái hoa đốm; và như thế thì cũng không thể nói rằng không biết gì cả: có và không đều loại bỏ thì gọi là thích ứng với tuệ giác trong sáng. Tuệ giác trong sáng là vì bản thể vốn như không gian, vĩnh viễn bất động, nghĩa là Như lai tạng (25) không có sự sinh ra và sự mất đi, không có cái thấy biết phản ảnh sự sinh ra và sự mất đi, mà là bản thể vũ trụ, vốn tuyệt đối, trọn vẹn và phổ biến.

Lược Giải.-

"Biết là hoa đốm thì biết sinh tử là không", biết không gian vốn không có hoa đốm: biết viên giác vốn không phải vô minh, biết như vậy chính là viên giác.

Đáp Các Câu Hỏi Hai Và Ba

Chính Văn.-

Như thế đó là việc làm căn bản sơ khởi của Như lai. Bồ tát y theo căn bản ấy mà ở trong đại thừa phát tâm trong suốt. Và những người thời kỳ cuối cùng y cứ căn bản ấy mà tu hành thì không sa vào kiến thức sai lầm.

Lược Giải.-

Bồ tát y theo viên giác (căn bản sơ khởi của Phật) mà phát tâm thì tâm đó trong suốt, không bị bịnh hoạn. Đó là đáp câu hỏi hai của ngài Văn thù: bồ tát phát tâm đại thừa như thế nào mới không bịnh hoạn. Chúng sinh y theo viên giác mà cầu đại thừa thì không bị tà kiến. Đó là đáp câu hỏi ba của ngài Văn thù: chúng sinh mạt pháp cầu đại thừa phải như thế nào mới khỏi sa vào tà kiến.

Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Chính Văn.-

Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú (26) sau đây.

Văn thù nên biết,
tất cả Như lai
căn bản sơ khởi
vận dụng tuệ giác:
biết rằng vô minh
chỉ như hoa đốm
nên hết luân hồi,
khác nào cảnh mộng
mộng mị thấy có
thức tỉnh toàn không.
Cái biết trên đây
vốn cũng là không
bình đẳng, bất động (27) ,
phổ biến mười phương:
ấy là thành đạt
tuệ giác Phật đà.
Huyễn ảo biến mất
thì không vị trí,
tuệ giác thành đạt
cũng vốn là không,
vì lẽ bản thể
vốn là tròn đầy.
Y cứ vào đây
các vị bồ tát
có thể phát ra
tâm đại bồ đề;
những người sau này
theo đây mà tu
thì khỏi sa vào
kiến thức sai lầm.

Chương Phổ Hiền Nói Về Cách Thức Đốn Tu Viên Giác

Đ1. Bồ Tát Phổ Hiền Hỏi
Đ2. Đức Thế Tôn Đáp
E1. Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu
E2. Đáp 4 Câu Hỏi
G1. Đáp Các Câu Hõi Hai Và Ba
G2. Đáp Câu Hõi Một
G3. Đáp Câu Hõi Bốn
E3. Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Lược Giải.-

Đốn tu ở đây là của bồ tát thập địa. Các bậc thượng căn cũng có thể có sự đốn ngộ trong sự đốn tu này.

Bồ Tát Phổ Hiền Hỏi

Chính Văn.-

Lúc ấy bồ tát Phổ hiền ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi quì thẳng, chắp tay mà tác bạch: Thưa đức Thế tôn lòng thương cao cả, con xin ngài vì các vị bồ tát trong đại hội này, lại vì những người tu hành đại thừa trong thời kỳ cuối cùng, mà dạy cho họ biết, nghe nói viên giác trong sáng như vậy thì tu hành cách nào: Nếu họ biết là huyễn ảo cả, thì thân thể và tâm trí cũng là huyễn ảo, làm sao đem huyễn ảo tu hành huyễn ảo (28) ? Nếu thực chất huyễn ảo là hủy diệt tất cả, thì thân thể và tâm trí cũng là không, như vậy ai là người tu hành để nói sự tu hành cũng như huyễn ảo? Nếu người tu hành cũng không, có nghĩa chúng sinh không tu hành, vĩnh viễn đắm mình trong cảnh huyễn ảo của thế giới sinh tử luân hồi, không hề thấu hiểu chân lý huyễn ảo, như vậy làm sao thoát được tư tưởng ngộ nhận? Con lại thỉnh cầu đức Thế tôn dạy cho những người sau này biết tu hành chánh định Như huyễn (29) bằng phương tiện gì và thứ tự nào để vĩnh viễn thoát bỏ huyễn ảo? Tác bạch rồi, bồ tát Phổ hiền gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần , mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm lại từ đầu.

Lược Giải.-

Lời hỏi của ngài Phổ hiền có 4 câu: câu một, làm sao đem huyễn ảo tu hành huyễn ảo? câu hai, huyễn ảo diệt hết thì ai tu hành? câu ba, không tu hành thì làm sao giải thoát ? câu bốn, tu định Như huyễn bằng phương tiện và thứ tự nào?

Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu

Chính Văn.-

Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Phổ hiền: Tốt lắm, thiện nam tử, ông có thể vì các vị bồ tát và những người sau này mà hỏi Như lai, rằng họ phải tu tập phương tiện và thứ tự của chánh định Như huyển như thế nào để thoát bỏ huyễn ảo. Ông hãy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Phổ hiền vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đáp Các Câu Hỏi Hai Và Ba

Chính Văn.-

Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, hết thảy huyễn ảo của chúng sinh đều phát sinh nơi viên giác ---- nơi cái tâm vi diệu mà Như lai chứng ngộ, tương tự hoa đốm có trong không gian. Nhưng hoa đốm huyễn ảo thì hủy diệt mà không gian thì không hủy diệt: vô minh huyễn ảo thì hủy diệt vì thân tâm huyễn ảo, huyễn ảo hủy diệt mà viên giác bất động. Đối với huyễn ảo mà nói viên giác, thì viên giác ấy cũng là huyễn ảo; nói viên giác là có thì vẫn thuộc phạm trù huyễn ảo, nói viên giác là không thì cũng y như thế. Huyễn ảo hủy diệt mới là viên giác bất động. Thế nên hết thảy bồ tát, và những người sau này, phải thoát bỏ cho được mọi sự huyễn ảo.

Lược Giải.-

Hoa đốm mất mà không gian còn, huyễn ảo hết mà viên giác bất động, chứ không phải mất hết. Đó là đáp câu hỏi hai của ngài Phổ hiền: huyễn ảo diệt hết thì ai tu hành. Huyễn ảo diệt hết mới là viên giác bất động, nên phải tu hành mà diệt cho hết huyễn ảo. Đó là đáp câu hỏi ba của ngài Phổ hiền: không tu hành thì làm sao giải thoát.

Đáp Câu Hỏi Một

Chính Văn.-

Nhưng cố chấp ý thức thoát bỏ thì cái ý thức thoát bỏ này cũng phải thoát bỏ. Sự thoát bỏ cái ý thức thoát bỏ này cũng phải thoát bỏ. Và sự thoát bỏ cái sự thoát bỏ này cũng phải thoát bỏ. Không còn gì để thoát bỏ nữa thì mọi sự huyễn ảo hủy diệt. Ví như người kéo cây lấy lửa, hai cây cọ xát với nhau, lửa phát thì hai cây cháy cả, cháy đến khói cũng tản, tro cũng bay: đem huyễn ảo diệt trừ huyễn ảo cũng tương tự như vậy. Và huyễn ảo mất hết mà sự đó không nhập vào cái loại kiến thức sai lầm chủ trương mọi sự đều mất hẳn.

Lược Giải.-

Đem thân tâm huyễn ảo tu hành hủy diệt vô minh huyễn ảo, cũng như kéo cây ra lửa, lửa phát cây cháy, cây cháy hết lửa cũng không còn (văn chỉnh cú nói rõ hơn như vậy). Đó là đáp câu hỏi một của ngài Phổ hiền: làm sao đem huyễn ảo tu hành huyễn ảo. Cây cháy, lửa hết, mà người kéo lửa vẫn còn: huyễn ảo diệt hết huyễn ảo mà không phải đoạn kiến. Đó là phụ thêm cho ví dụ hoa đốm mất mà không gian vẫn còn để đáp câu hỏi hai, ở đoạn trên.

Đáp Câu Hỏi Bốn

Chính Văn.-

Thiện nam tử, biết là huyễn ảo (30) thì thoát bỏ huyễn ảo, không làm phương tiện gì khác; huyễn ảo thoát bỏ thì viên giác trong sáng, không có thứ tự nào cả. Các vị bồ tát, và những người sau này, y theo sự chỉ dẫn trên đây mà tu hành mới vĩnh viễn thoát bỏ huyễn ảo.

Lược Giải.-

Biết là huyễn ảo thì thoát bỏ huyễn ảo, không phương tiện gì khác; huyễn ảo thoát bỏ thì viên giác trong sáng, không thứ tự nào cả. Đó là đáp câu hỏi bốn của ngài Phổ hiền: tu định Như huyễn bằng phương tiện và thứ tự nào.

Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Chính Văn.-

Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

Phổ hiền nên biết,
vô minh huyễn ảo
là có ở nơi
diệu tâm viên giác,
tương tự hoa đốm
có trong không gian,
hoa đốm hủy diệt
không gian bất động;
huyễn ảo phát sinh
ở nơi viên giác,
huyễn ảo hủy diệt
viên giác trọn vẹn,
vì lẽ viên giác
bản tính bất động.
Nên các bồ tát
và người sau này
thoát bỏ cho được
mọi sự huyễn ảo.
Huyễn ảo thoát bỏ
là như một kẻ
kéo cây ra lửa,
lửa phát cây cháy,
cây cháy hết cả
lửa cũng không còn.
Viên giác thì không
phương tiện gì cả,
và cũng không cả
cái sự thứ tự.

Chương Phổ Nhãn Nói Về Cách Thứ Tiệm Tu Viên Giác

Đ1. Bồ Tát Phổ Nhãn Hỏi
Đ2. Đức Thế Tôn Đáp
E1. Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu
E2. Đáp 3 Câu Hỏi
G1. Đáp Câu Hõi Một
H1. Tự Duy Thân Không
H2. Tự Duy Tâm Không
G2. Đáp Câu Hõi Hai
H1. Trú Ở Viên Giác
H2. Chổ Thấy Trong Sáng
I1. Thấy Các Pháp Đều Trong Sáng
I2. Thấy Các Pháp Đều Bất Động
I3. Thấy Các Pháp Đều Phổ Biến
I4. Thấy Các Pháp Đều Viên Dung
I5. Thấy Các Pháp Đều Bình Đẳng
G3. Đáp Câu Hõi Ba
E3. Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Lược Giải.-

Tiệm tu ở đây là của bồ tát mới phát tâm cho đến thập hướng. Nhưng trong tiệm tu ấy vẫn không phải không có sự đốn ngộ.

Bồ Tát Phổ Nhãn Hỏi

Chính Văn.-

Lúc ấy bồ tát Phổ nhãn ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đem đỉnh đầu của mình lạy ngang chân đức Thế tôn, theo chiều bên phải của ngài đi quanh ngài ba vòng, rồi quì thẳng, chắp tay mà tác bạch: Thưa đức Thế tôn lòng thương cao cả, con xin ngài vì các vị bồ tát trong đại hội này, và vì những người trong thời kỳ cuối cùng, chỉ dạy phương tiện thứ tự mà bồ tát tu hành: họ phải tư duy (31) như thế nào? phải trú ở (32) như thế nào? và truyền đạt như thế nào cho những người chưa biết? Thưa đức Thế tôn, nếu họ không biết tư duy và trú ở chính xác theo phương tiện chính xác, thì nghe chánh định Như huyễn của đức Thế tôn dạy, họ sẽ mờ mịt, thác loạn, không thể nhập vào viên giác. Xin đức Thế tôn thương tưởng, vì chúng con và vì những người sau này mà chỉ dạy phương tiện ấy. Tác bạch rồi, bồ tát Phổ nhãn gieo xuống sát đất tất cả năm bộ phận của thân thể mà kính lạy đức Thế tôn. Bồ tát thỉnh cầu như vậy đến ba lần, mỗi lần thỉnh cầu xong lại làm lại từ đầu.

Lược Giải.-

Lời hỏi của ngài Phổ nhãn có 3 câu: câu một, tư duy như thế nào? câu hai, trú ở như thế nào? câu ba, truyền đạt như thế nào? Đốn tu tiệm tu gì cũng cốt trừ vô minh huyễn ảo: cũng là tu định Như huyễn, nên ngài Phổ nhãn vẫn lặp lại định ấy.

Chấp Nhận Lời Thỉnh Cầu

Chính Văn.-

Bấy giờ đức Thế tôn dạy bồ tát Phổ nhãn: Tốt lắm, thiện nam tử, ông có thể vì các vị bồ tát, và những người sau này, hỏi Như lai về phương tiện thứ tự của sự tu hành: hỏi cách tư duy và cách trú ở của sự tu hành, hỏi cách truyền đạt những sự ấy . Ông hãy nghe kyլ Như lai sẽ nói cho. Bồ tát Phổ nhãn vâng lời, hoan hỷ, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.

Đáp Câu Hỏi Một

Lược Giải.-

Tư duy là tư duy thân không và tư duy tâm không. Đó là đáp câu hỏi một của ngài Phổ nhãn: tư duy như thế nào?

Tư Duy Thân Không

Chính Văn.-

Đức Thế tôn dạy: Thiện nam tử, các vị bồ tát mới tu học, và những người thời kỳ cuối cùng, muốn phát hiện viên giác mà Như lai đã chứng ngộ thì phải có sự nhớ nghĩ chính xác, nhớ nghĩ về sự thoát bỏ huyễn ảo, bằng cách trước hết phải y cứ pháp hạnh xa ma tha --- pháp hạnh tập trung tư duy của Như lai, phải nghiêm giữ giới luật, sắp đặt đồ đệ cho yên, và thường ngồi trong phòng thất yên tĩnh, nhớ nghĩ luôn như thế này: thân thể của ta đây chỉ là sự tổ hợp của bốn đại chủng: những gì cố thể thì thuộc về đất, những gì dịch thể thì thuộc về nước, những gì nhiệt lực thì thuộc về lửa, những gì động lực thì thuộc về gió (33) . Nhưng bốn đại chủng ấy tách rời với nhau, thì gọi là cái thân là cái gì? Suy nghĩ như vậy thì biết cái thân ấy cứu cánh không có cá thể, chỉ là một hình thái tổ hợp, thực chất huyễn ảo.

Lược Giải.-

Đây là quán thân không. Quán thân không là quán nhân vô ngã, nhưng nói nhân vô ngã không sát bằng nói thân không.

Tư Duy Tâm Không

Chính Văn.-

Do bốn đại chủng làm những yếu tố tương quan mà tổ hợp lại một cách không thật, nên có ra sáu giác quan, có cũng một cách không thật. Rồi sáu giác quan ở trong và bốn đại chủng ở ngoài tổ hợp với nhau mà có một cách không thâểt những sự vin theo đối cảnh, và tụ lại tựa như có ấn tượng: như thế giả gọi là tâm thức. Tâm thức không thật như vậy nếu không có sáu đối cảnh thì không thể có được. Nhưng bốn đại chủng phân tán thì sáu đối cảnh cũng không thể có. Đại chủng và đối cảnh phân tán thì rốt cuộc cũng không có tâm thức có thể tìm thấy.

Lược Giải.-

Đây là quán tâm không. Tâm ở đây chỉ nói 6 thức trước của Duy thức học. Sáu căn, sáu cảnh và sáu thức, và cả bốn đại nữa, toàn chỉ là những sự tương quan tổ hợp, toàn không thật. Quán tâm không là quán tâm, và những gì liên quan đến tâm, đều không. Quán tâm không, như vậy, là quán pháp vô ngã, nhưng nói pháp vô ngã không sát bằng nói tâm không.

Đáp Câu Hỏi Hai

Lược Giải.-

Trú ở là trú ở viên giác, và trú ở viên giác thì chỗ thấy trong sáng. Đó là đáp câu hỏi hai của ngài Phổ nhãn: trú ở như thế nào.

Trú Ở Viên Giác

Chính Văn.-

Thiện nam tử, người ấy thấy thân thể như huyễn ảo hủy diệt thì tâm thức như huyễn ảo hủy diệt, tâm thức như huyễn ảo hủy diệt thì đối cảnh như huyễn ảo hủy diệt, đối cảnh như huyễn ảo hủy diệt thì sự hủy diệt như huyễn ảo cũng hủy diệt, sự hủy diệt như huyễn ảo cũng hủy diệt thì cái không phải huyễn ảo sẽ không hủy diệt, giống như lau gương , dơ bẩn lau hết thì trong sáng hiện ra: Phải biết thân tâm toàn là hình thái dơ bẩn, hình thái dơ bẩn diệt hẳn thì vũ trụ trong sáng.

Thiện nam tử, như khối ngọc trong suốt phản ảnh đủ cả năm màu, mỗi màu hiện một phía, vậy mà kẻ ngu dốt thì nói khối ngọc thật có năm màu. Tương tự như vậy, viên giác trong sáng ảnh hiện thân tâm thích ứng từng loại (34) , vậy mà người ngu dốt nói viên giác thật có các hình thái thân tâm. Do đó mà họ không thể thoát bỏ huyễn ảo dơ bẩn, và, với họ, Như lai nói thân tâm đều là huyễn ảo dơ bẩn (35) ; đối lại, ai thoát bỏ huyễn ảo dơ bẩn thì Như lai gọi là bồ tát; và huyễn ảo dơ bẩn hết rồi thì sự đối lại cũng không còn: không còn dơ bẩn, không còn người thoát bỏ dơ bẩn, không còn người giả thiết tên gọi.

Lược Giải.-

Huyễn ảo diệt hết thì viên giác -- cái không phải huyễn ảo sẽ bất diệt, trong sáng: như vậy là trú ở viên giác. Trú ở viên giác thì thấy gì cũng trong sáng cho đến bình đẳng, như sẽ nói dưới đây.

Thấy Các Pháp Đều Trong Sáng

(Có Thể Gọi Là Sự Vô Ngại),

Thấy Các Pháp Đều Trong Sáng tức thấy các pháp thế gian và xuất thế đều trong sáng, thấy các pháp chánh báo và y báo đều trong sáng.

Chính Văn.-

Thiện nam tử, các vị bồ tát, và những người sau này, khi thực hiện được trạng thái huyễn ảo hủy diệt, thì bấy giờ thấy sự trong sáng vô biên, được biểu hiện bởi viên giác trong sáng vốn như không gian vô hạn.

Thấy Các Pháp Thế Gian Và Xuất Thế Đều Trong Sáng

Chính Văn.-

Viên giác trong sáng nên tâm thức trong sáng, tâm thức trong sáng nên sự thấy trong sáng: sự thấy trong sáng nên nhãn căn trong sáng, nhãn căn trong sáng nên nhãn thức trong sáng; nhãn thức trong sáng nên sự nghe trong sáng: sự nghe trong sáng nên nhĩ căn trong sáng, nhĩ căn trong sáng nên nhĩ thức trong sáng; nhĩ thức trong sáng nên sự hay và sự biết (36) trong sáng, nghĩa là tyՍ căn tyՠthức, thiệt căn thiệt thức, thân căn thân thức và ý căn ý thức đều trong sáng cả. Căn và thức trong sáng nên cảnh trong sáng: sắc thanh hương vị xúc pháp đều trong sáng cả. Sáu cảnh trong sáng nên bốn đại trong sáng: đất nước lửa gió đều trong sáng cả. Bốn đại trong sáng nên mười hai xứ, mười tám giới, và hâm lăm hữu đều trong sáng cả.

Các pháp trên trong sáng nên mười lực, bốn vô úy, bốn vô ngại trí, mười tám bất cọng pháp, bâm bảy bồ đề phần, cho đến tám mươi bốn ngàn tổng trì môn đều trong sáng cả.

Thấy Các Pháp Chánh Báo Và Y Báo Đều Trong Sáng

Chính Văn.-

Thiện nam tử, toàn bộ các pháp bản thể trong sáng nên một thân trong sáng, một thân trong sáng nên nhiều thân trong sáng, nhiều thân trong sáng nên cho đến mười phương chúng sinh toàn là viên giác trong sáng.

Thiện nam tử, thân trong sáng nên thế giới trong sáng: một thế giới trong sáng nên nhiều thế giới trong sáng, nhiều thế giới trong sáng nên cho đến cùng không gian mười phương và suốt thì gian ba đời toàn bộ đều trong sáng.

Thấy Các Pháp Đều Bất Động

(Có Thể Gọi Là Lý Vô Ngại)

Chính Văn.-

Thiện nam tử, không gian bất động nên viên giác bất động, bốn đại bất động nên viên giác bất động, và y như vậy, cho đến tám mươi bốn ngàn tổng trì môn đều bất động nên viên giác bất động.

Thấy Các Pháp Đều Phổ Biến

(Có Thể Gọi Là Sự Lý Vô Ngại).

Chính Văn.-

Thiện nam tử, viên giác trong sáng, bất động và phổ biến, nên sáu căn phổ biến pháp giới, sáu căn phổ biến pháp giới nên sáu cảnh phổ biến pháp giới, sáu cảnh phổ biến pháp giới nên bốn đại phổ biến pháp giới, và y như vậy, cho đến tất cả tổng trì môn đều phổ biến pháp giới.

Thấy Các Pháp Đều Viên Dung

(Có Thể Gọi Là Sự Sự Vô Ngại)

Chính Văn.-

Thiện nam tử, viên giác phổ biến nên căn và cảnh không phá hoại nhau không hỗn tạp nhau, căn và cảnh không phá hoại nhau không hỗn tạp nhau nên cho đến hết thảy tổng trì môn đều không phá hoại nhau không hỗn tạp nhau. Sự thể ví như hàng trăm hàng ngàn ngọn đèn chiếu sáng một phòng, ánh sáng ngọn đèn nào cũng phổ biến cả phòng mà không phá hoại nhau không hỗn tạp nhau.

Thấy Các Pháp Đều Bình Đẳng

(Có Thể Gọi Là Vô Phân Biệt Trí)

Chính Văn.-

Thiện nam tử, bồ tát thành đạt viên giác như vậy nên không buộc các pháp không mở các pháp, không chán sinh tử không ham niết bàn, không kính giữ giới không ghét phá giới, không trọng tu lâu không khinh mới học, vì lẽ toàn thể đều là viên giác. Sự thể ví như mắt thấy cảnh vật, sự thấy ấy thấy toàn diện mà không ghét không ưa, vì lẽ thực chất của sự thấy không có hai ý thức này (37) .

Các vị bồ tát, và người sau này, tu tập mà thành đạt viên giác như vậy, thì đối với chính viên giác ấy đã không tu tập và không thành đạt, chiếu sáng một cách tròn đầy mà trong lặng, không có những khái niệm đối lập lẫn nhau. Chính trong cái trạng thái chiếu sáng này mà thấy hằng sa thế giới y như hoa đốm nổi lên hay mất đi với bao nhiêu là hình thái , thấy các pháp không dính líu không tách rời, không trói buộc không cởi mở, thấy chúng sinh vốn là Phật đà, sinh tử với niết bàn đều như giấc mộng. Vì đều như giấc mộng nên đối với sinh tử và niết bàn thì thấy không nổi không tan, không đến không đi; đối với chân lý sở chứng thì thấy không được không mất, không lấy không bỏ; đối với tuệ giác năng chứng thì thấy không làm không ngưng, không buông không dứt; đối với sự chứng ngộ thì thấy không năng chứng không sở chứng, cứu cánh không có sự chứng ngộ và người chứng ngộ. Thấy như vậy là vì toàn bộ các pháp đều bình đẳng và không phá hoại nhau (38) .

Lược Giải (trọn đoạn H2)

Trú ở viên giác thì thấy các pháp đều trong sáng cho đến bình đẳng. Nhưng không phải vì pháp này trong sáng cho đến bình đẳng mà pháp khác trong sáng cho đến bình đẳng. Sự trong sáng cho đến sự bình đẳng không phải diễn ra một cách có thứ tự và theo chủng loại. Mà một như vậy thì tất cả như vậy, tất cả như vậy thì một như vậy. Trùng trùng duyên khởi thì tương quan.

Đáp Câu Hỏi Ba

Chính Văn.-

Thiện nam tử, các vị bồ tát hãy tu hành theo phương tiện thứ tự như vậy: hãy tư duy như vậy, hãy trú ở như vậy , hãy đem những sự ấy truyền đạt cho người cầu pháp, thì những người này cũng không mù mờ, rối trí.

Lược Giải.-

Hãy đem phương tiện thứ tự, tức là đem sự tư duy và sự trú ở của sự tu hành viên giác như trên mà truyền đạt cho người khác, thì người khác được sự tiếp nhận chính xác. Đó là đáp câu hỏi ba của ngài Phổ nhãn: truyền đạt như thế nào.

Trùng Tuyên Bằng Chỉnh Cú

Chính Văn.-

Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

Phổ nhãn nên biết,
thân tâm chúng sinh
như huyễn ảo cả:
thân thuộc bốn đại
tâm nhờ sáu cảnh;
bốn đại rời nhau
thì gọi cái gì
là sự tổ hợp?
Tu dần như vậy
tất cả trong sáng,
bất động, phổ biến,
không làm không ngưng
không buông không dứt
không người chứng ngộ.
Hết thảy thế giới
chỉ như hoa đốm
ở trong không gian,
quá khứ hiện tại
cùng với vị lai
bình đẳng tất cả,
cứu cánh không đến
mà cũng không đi.
Bồ tát mới tu
và người sau này
muốn được nhập vào
tuệ giác Phật đà
thì phải nỗ lực
tu tập như vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn