Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Lược Giải Kim Cương

20/05/201312:02(Xem: 8506)
Lược Giải Kim Cương

Kinh Kim Cương

Lược Giải Kim Cương

Thích Trí Quang

Nguồn: Hòa thượng Thích Trí Quang

Lược giải: Kim cương dịch thành 1544 câu, chia 52 đoạn, phân khoa có 5 lớp, đánh dấu bằng 5 chữ kinh, kim, cương, bát, nhã. Kim cương có 3 kinh:

Kim 1. - Mở Đầu Như Các Kinh Khác

(Đoạn 1)

Chính Văn.-

(1) Tôi nghe như vầy: Một thời Thế tôn ở nước Xá vệ (20) , trong khu vườn rừng Chiến thắng Thiện thí (21) , cùng với một ngàn hai trăm năm chục vị đại tỷ kheo (22) .

Kim 2. - Mở Đầu Bằng 2 Câu Đáp Căn Bản

(Đoạn 2-6)

Chính Văn.-

(2) Vào lúc bấy giờ gần đến giờ ăn, nên đức Thế tôn sửa y, cầm bát (23) , đi vào khất thực trong thành Xá vệ. Tuần tự khất thực (24) trong thành này rồi, Ngài về chỗ ở, ăn uống xong xuôi, thu dọn y bát, rửa sạch hai chân, và trải đồ lót lót chỗ mà ngồi (25) .

Lược Giải.-

Tả Phật như đoạn này là nói Phật vì chúng sinh nên không ở niết bàn mà ở sinh tử, và ở sinh tử thì Ngài cũng chịu cái thân đói khát ăn uống, cũng làm 1 vị tỷ kheo, và là vị tỷ kheo rất gương mẫu. Tất cả điều này chính là vô trú bát nhã ( = vô trú niết bàn) của đại thừa mà Phật đem ra nâng đỡ và giao phó cho Bồ tát, một cách đích thân biểu thị chứ không phải chỉ cần lời nói.

Chính Văn.-

(3) Lúc ấy Thiện hiện (26) , một vị trưởng lão, cũng có ở trong các đại tỷ kheo. Từ chỗ mình ngồi, trưởng lão đứng dậy, vắt một vạt y, để trần vai phải, đầu gối bên phải quì xuống chấm đất, hai tay chắp lại, cung kính mà thưa: kính bạch Thế tôn, Ngài thật hiếm có; Ngài khéo nâng đỡ (27) cho các Bồ tát, lại khéo giao phó (28) cho các Bồ tát. Kính bạch Thế tôn, thiện nam thiện nữ đã phát tâm nguyện vô thượng bồ đề (29) , thì phải làm sao để ở tâm ấy? và phải làm sao để sửa tâm mình? (30)

LượcGiải.-

Ngài Thiện hiện nhận thấy sự nâng đỡ và giao phó như đoạn 2 đã tả nên hỏi như đoạn 3 ở đây -- Hỏi để Phật nâng đỡ và giao phó bằng lời nói, rõ thêm cho sự nâng đỡ và giao phó không lời ở trên. Kim cương là sự nâng đỡ và giao phó bằng thân và miệng của Phật giành cho các vị có tư cách Bồ tát. Hai câu hỏi ở đây, và 2 câu đáp của Phật, quán triệt toàn bộ Kim cương như vậy.

Chính Văn.-

(4) Đức Thế tôn dạy: tốt lắm, Thiện hiện; thật đúng như lời trưởng lão đã nói, Như lai rất khéo nâng đỡ Bồ tát, Như lai rất khéo giao phó Bồ tát. Do vậy, trưởng lão, hãy nghe cho kyլ Như lai sẽ nói cho các vị biết thiện nam thiện nữ phát tâm bồ đề thì bằng cách nào trú ở tâm ấy, và bằng cách nào sửa chữa tâm mình. Trưởng lão thưa rằng, dạ, bạch Thế tôn, chúng con ước muốn được nghe Ngài dạy.

(5) Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát thì phải sửa chữa tâm mình bằng tuệ giác này: Bao nhiêu chúng sinh, hoặc sinh bằng trứng, hoặc sinh bằng thai, sinh bằng ẩm thấp, sinh bằng biến hóa, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tư tưởng, hoặc không tư tưởng, có không tư tưởng (31) , ta làm hết thảy đều được nhập vào niết bàn hoàn toàn (32) mà giải thoát (33) cả --Làm cho vô lượng vô số chúng sinh niết bàn như vậy, mà thật không thấy có chúng sinh nào được niết bàn cả. Tại sao như vậy, trưởng lão Thiện hiện, vì nếu Bồ tát mà vẫn còn có ý tưởng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả (34) , thì bồ tát ấy không phải Bồ tát.

(6) Trưởng lão Thiện hiện, đối với các pháp (35) , Bồ tát không nên trú ở (36) đâu cả mà làm bố thí (37) : không ở nơi sắc mà làm bố thí, không ở nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp (38) mà làm bố thí. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát hãy nên bố thí như thế: không ở đâu cả. Tại sao như vậy, vì nếu Bồ tát không ở đâu cả mà làm bố thí thì được phước đức không thể lường được. Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, không gian hướng đông có lường được không? Không, bạch Thế tôn. Trưởng lão Thiện hiện, không gian hướng nam, hướng tây, hướng bắc, và cả bốn góc, cả trên, cả dưới, có lường được không? Càng không, bạch Ngài. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát bố thí mà không ở đâu thì được phước đức cũng y như thế, không thể lường được. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát chỉ nên trú ở theo lời Như lai dạy đây.

Lược Giải Đoạn 4-6.-

Phật đáp câu hỏi sửa tâm như thế nào bằng cách nói nguyện độ chúng sinh mà không thấy có chúng sinh là người được hóa độ, có mình là người hóa độ. Vì thấy như vậy là ngã chấp, không thể hóa độ chúng sinh.

Phật đáp câu hỏi ở tâm như thế nào bằng cách nói đừng ở đâu cả thì như thế chính là ở nơi tâm nguyện bồ đề đó.

Cách nói như 2 câu đáp này cho thấy phát tâm ở đây là tín thành tựu phát tâm sắp lên trong Khởi tín luận; sự không trú ở đâu cả là phương tiện thứ 1 của sự tín thành tựu phát tâm, là sự làm của sự giải hành phát tâm.

"Không ở đâu cả thì như thế chính là ở nơi tâm nguyện bồ đề", đó là vô trú bát nhã. Vô trú bát nhã ấy là căn bản; từ sau các đoạn 2-6 mở đầu này sắp đi, cho đến các đoạn 49-51 kết thúc ứng với các đoạn mở đầu này, chỉ là và toàn là vô trú bát nhã ấy.

Mặt khác, bản năng chúng sinh là đam mê mới hoạt động: có trú ở mới có mọi sự, dầu là sự lý tưởng. Kim cương cho thấy bản năng ấy là ngã chấp; ngã chấp ấy được tập chuyển hóa, lọc bỏ, thì hoạt động trở thành diệu dụng đại thừa.

Bát 1. - Như Thật Tri Kiến Về Phật

(Đoạn 7)

Chính Văn.-

(7) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, đối với Như lai, có thể hay không thấy bằng đặc tướng (39) ? Không, bạch Thế tôn, không thể thấy Ngài bằng các đặc tướng; tại sao như vậy, vì theo Ngài dạy thì các đặc tướng là phi đặc tướng. Đức Thế tôn bảo, trưởng lão Thiện hiện, hễ có đặc tướng thì đặc tướng ấy toàn là giả dối, nếu thấy đặc tướng là phi đặc tướng thì thấy Như lai (40) .

Lược Giải.-

Vô trú bát nhã trước hết như thật tri kiến về Phật, qua đặc tướng của Ngài. Thì thấy đặc tướng ấy là phi đặc tướng mới là thấy Ngài. Ở đây không cần đem hóa thân và pháp thân ra mà giải thích.

Bát 2. - Đức Tin Của Pháp Thoại

(Đoạn 8)

Chính Văn.-

(8) Trưởng lão Thiện hiện bạch đức Thế tôn, có thể có ai nghe pháp thoại (41) này mà sinh đức tin đúng chân lý không? Đức Thế tôn dạy, đừng hỏi như vậy, trưởng lão Thiện hiện; sau khi Như lai nhập niết bàn rồi, năm trăm năm sau (42) , có ai giữ giới, làm phước tu tuệ (43) , thì với pháp thoại như thế này đây, có thể tin tưởng đúng với chân lý. Trưởng lão phải biết những người như vậy không chỉ gieo trồng gốc rễ điều lành nơi một đức Phật, nơi hai đức Phật, nơi ba bốn năm đức Phật mà thôi, mà đã gieo trồng gốc rễ điều lành ở nơi vô số ngàn vạn đức Phật. Những người như vậy mà được nghe đến pháp thoại thế này, thì dầu đến nỗi chỉ một ý niệm tin tưởng trong sáng, Như lai cũng vẫn biết và thấy rõ (44) họ thực hiện được vô lượng phước đức. Tại sao như vậy, vì những người này không còn có nữa ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả, không còn có nữa ý tưởng về pháp và về phi pháp (45) . Nếu những người này còn có ý tưởng là còn ngã nhân chúng sinh thọ giả, còn ý tưởng pháp là còn ngã nhân chúng sinh thọ giả, còn tưởng phi pháp là còn ngã nhân chúng sinh thọ giả. Vì lý do ấy, đừng nắm lấy pháp, lại càng đừng nên nắm lấy phi pháp. Do ý nghĩa này, Như lai thường nói, các vị Tỷ kheo, hãy nhận thức rằng pháp Như lai nói tựa như chiếc bè: pháp còn phải bỏ, huống chi phi pháp (46) ?

Lược Giải.-

Còn ý tưởng là còn ngã, còn ngã thì khẳng định thế nào cũng là ngã biến thể, phủ định đến mấy vẫn là ngã biến thể. Tin bát nhã là nhận thức và đã bắt đầu không còn như vậy. Không còn như vậy thì phước đức làm ra mới gọi là thiện pháp (đoạn 38).

Bát 1. - Như Thật Tri Kiến Về Pháp

(Đoạn 9)

Chính Văn.-

(9) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, phải chăng Như lai được vô thượng giác (47) ? phải chăng Như lai có sự thuyết pháp (48) ? Trưởng lão thưa rằng, kính bạch Thế tôn, theo con hiểu biết ý của Ngài nói, thì không thể có một pháp khẳng định để được mệnh danh là vô thượng giác, cũng không thể có một pháp khẳng định để được gọi là Thế tôn thuyết pháp. Tại sao như vậy, vì Pháp (49) ngài nói không thể nắm lấy, không thể diễn tả, không phải là pháp, không phải phi pháp (50) - Lý do là vì hết thảy hiền thánh (51) toàn là Vô vi biểu hiện khác biệt (52) .

Lược Giải.-

Cũng như Phật, Pháp của Phật chứng và thuyết, và cả hiền thánh, những vị tu học Pháp ấy, toàn là biểu hiện của Như, siêu việt nhận thức, diễn đạt, và đối tượng của nhận thức, diễn đạt: hãy như thật tri kiến như vậy về Pháp.

Bát 2. - Phước Đức Của Pháp Thoại

(Đoạn 10)

Chính Văn.-

(10) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, có ai đem cho (53) đủ hết bảy loại vàng ngọc chất đầy đại thiên thế giới (54) , thì người cho ấy được phước nhiều không? Rất nhiều, bạch Ngài; vì phước đức ấy Ngài đã nói là tính phi phước đức (55) , thế nên Ngài nói phước đức rất nhiều. Trưởng lão Thiện hiện, nhưng nếu có ai từ pháp thoại này, tiếp nhận ghi nhớ dầu là chỉ được chỉnh cú bốn câu (56) , và biết đem nói cho bao người khác, thì phước người ấy vẫn hơn người trước. Tại sao như vậy, vì lẽ, trưởng lão, hết thảy Phật đà cùng với Phật pháp (57) -- pháp vô thượng giác của các Phật đà-- toàn là xuất ra từ pháp thoại (58) này. Trưởng lão Thiện hiện, gọi là Phật pháp (59) thì Như lai nói là phi Phật pháp, thế nên Như lai nói là Phật pháp (60) .

Lược Giải.-

Phước đức học, nhớ, tụng và giảng Kim cương mà Phật nói là nhiều, vì phước đức ấy siêu việt phước đức: vì phước đức ấy là Như. Nhưng điều này chỉ nói phía người học, nhớ, tụng và giảng, lý do nhiều còn vì Kim cương là mẹ sinh ra Phật và tuệ giác của Phật.

Bát 1. - Như Thật Tri Kiến Về Thanh Văn

(Đoạn 11)

Chính Văn.-

(11) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, vị Tu đà hoàn có ý nghĩ rằng ta được đạo quả Tu đà hoàn chăng? Trưởng lão thưa Ngài, không, bạch Thế tôn; tại sao như vậy, vì Tu đà hoàn là Vào dòng nước (61) , thế nhưng thật ra không có cái gì nhập vào đâu cả: không nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên được mệnh danh là Tu đà hoàn (62) . Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, vị Tư đà hàm có ý nghĩ rằng ta được đạo quả Tư đà hàm chăng? Trưởng lão thưa Ngài, không, bạch Thế tôn; tại sao như vậy, vì Tư đà hàm là Một trở lại (63) , thế nhưng thật ra không có cái gì một lần trở lại, nên được mệnh danh là Tư đà hàm. Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, vị A na hàm có ý nghĩ rằng ta được đạo quả A na hàm chăng? Trưởng lão thưa Ngài, không, bạch Thế tôn; tại sao như vậy, vì A na hàm là Không trở lại (64) , thế nhưng thật ra không có cái gì không còn trở lại, nên được mệnh danh là A na hàm. Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, vị A la hán có ý nghĩ rằng ta được đạo quả A la hán chăng? Trưởng lão thưa Ngài, không, bạch Thế tôn; tại sao như vậy, vì lẽ thật ra không có cái gì là A la hán, nên được mệnh danh là A la hán (65) . Kính bạch Thế tôn, nếu vị La hán nghĩ rằng mình được đạo quả La hán, thì như thế là chấp trước ngã nhân, chấp trước chúng sinh, chấp trước thọ giả (66) . Bạch Ngài, Ngài nói trong số những người được định Không cãi (67) , con là hơn hết, con là La hán ly dục bậc nhất; nhưng con không có ý nghĩ mình là một vị La hán ly dục bậc nhất. Nếu con còn nghĩ mình là La hán, thì Ngài không nói Thiện hiện là người thích thú làm theo chánh định Không cãi (68) ; vì con không còn làm theo gì cả, nên Ngài nói con theo định Không cãi.

Lược Giải.-

Nghĩa của câu "hết thảy hiền thánh toàn do Vô vi biểu hiện khác biệt" (đoạn 9) càng phải được nói ở đây, khi như thật tri kiến về 4 đạo quả Thanh văn: 4 đạo quả ấy cũng là Phi, là biểu hiện của Như. Là ở đây có nghĩa phải là. Vì nếu các vị Thanh văn, trong đó đặc biệt La hán, còn nghĩ mình chứng quả nào hay được pháp gì, thì ý nghĩ ấy chính là ngã chấp.

Nhã 1. - Như Thật Tri Kiến Về Bồ Tát Hạnh Quả Của Phật

(Đoạn 12)

Chính Văn.-

(12) Đức Thế tôn bảo trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, Như lai xưa kia, nơi đức Nhiên đăng, được pháp gì chăng? Không, bạch Thế tôn; nơi đức Nhiên đăng, thực sự Thế tôn không được pháp gì.

Lược Giải.-

Như thật tri kiến về Bồ tát hạnh quả của Phật bằng cách nhìn lại 1 mẫu của hạnh quả ấy, ấy là lúc Ngài gặp đức Nhiên đăng. Việc này sẽ nói rõ hơn ở đoạn 30.

Nhã 2. - Như Thật Tri Kiến Về Bồ Tát Hạnh

(Đoạn 13)

Chính Văn.-

(13) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, phải chăng Bồ tát trang hoàng cõi Phật (69) ? Không, bạch Thế tôn; lý do là vì trang hoàn cõi Phật, sự trang hoàng ấy Thế tôn đã nói là phi trang hoàng, thế nên Ngài nói đó là trang hoàng. Do vậy, trưởng lão, Bồ tát đại sĩ hãy sinh cái tâm trong sạch như vầy: không ở nơi sắc mà sinh tâm ra, không ở nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà sinh tâm ra (70) ; hãy đừng ở vào bất cứ chỗ nào mà sinh tâm ra (71) .

Lược Giải.-

Bồ tát hạnh là vô trú bát nhã hoạt hiện mọi việc làm sạch thế giới và làm nên chúng sinh. Hãy như thật tri kiến như vậy về Bồ tát hạnh.

Nha 3. Như Thật Tri Kiến Về Bồ Tát Quả

(Đoạn 14)

Chính Văn.-

(14) Trưởng lão Thiện hiện, ví dụ có người thân thể cao lớn như núi Tu di, ông nghĩ thế nào, thân ấy lớn không? Rất lớn, bạch Ngài; tại sao, bởi vì Ngài nói thân lớn là phi thân lớn, thế nên Ngài nói đó là thân lớn (72) .

Lược Giải.-

Bồ tát quả là gì? Là chủ đích mà Bồ tát hạnh nhắm đến. Chủ đích ấy là Như: là Phật thân. Trong ngôn ngữ Kim cương, thân chúng sinh cũng là phi thân: là tự siêu việt, là Như. Đoạn 14 này giả dụ có cái thân lớn, và vì thân lớn là phi thân (là Như) mà gọi là thân lớn, chứ không phải vì thân lớn là thân lớn mà gọi là thân lớn. Như vậy thân nhỏ cũng là phi thân (cũng là Như): cũng là thân lớn, cũng là Phật thân. Tăng triệu đại sư giải thích đoạn này chỉ có mấy chữ (Vạn 38/212A), Trí giả đại sư lặp lại cũng như thế (Chính 33/79), tôi viết lại giản dị như sau: biết thân này là phi thân thì thân này là Phật thân.

Bát 3. - Phước Đức Của Pháp Thoại

(Đoạn 15)

Chính Văn.-

(15) Trưởng lão Thiện hiện, giả thiết sông Hằng có bao nhiêu cát, thì mỗi hạt cát là một sông Hằng, ông nghĩ thế nào, số cát tất cả sông Hằng như vậy nhiều hay không nhiều? Rất nhiều, bạch Ngài; số lượng sông Hằng đã là vô số, huống chi số cát những sông Hằng ấy. Trưởng lão Thiện hiện, với lời nói thật, Như lai hôm nay nói với trưởng lão: giả sử thiện nam hay thiện nữ nào đem hết bảy loại vàng ngọc chất đầy thế giới đại thiên nhiều như số cát những sông Hằng ấy mà làm bố thí (73) , thì phước họ được là nhiều hay ít? Trưởng lão kính thưa, rất nhiều, bạch Ngài. Trưởng lão Thiện hiện, nếu có thiện nam hay thiện nữ khác, với pháp thoại (74) này, tiếp nhận ghi nhớ dầu chỉ bốn câu (75) , và biết đem nói cho bao người khác (76) , thì phước người này hơn phước người trước. Thêm nữa, trưởng lão, chỗ nào giảng dạy pháp thoại như vầy, dầu chỉ bốn câu, trưởng lão cũng phải nhận thức chỗ ấy, tất cả thế giới chư thiên nhân loại và a tu la đều nên hiến cúng y như hiến cúng chùa tháp Như lai. Huống chi có người tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, giảng nói cho người (77) trọn pháp thoại này; trưởng lão phải biết người ấy đạt được cái pháp tối thượng hiếm có bậc nhất, và những địa điểm người ấy giảng dạy pháp thoại như vầy (78) là có Như lai, hay có các vị đệ tử cao trọng.

Nhã 1. - Như Thật Tri Kiến Về Bản Thân Của Tuệ Giác

(Đoạn 16)

Chính Văn.-

(16) Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Thiện hiện bạch đức Thế tôn, pháp thoại (79) như vầy nên gọi tên gì? Chúng con cần phải ghi nhớ thế nào? Đức Thế tôn dạy, trưởng lão Thiện hiện, pháp thoại như vầy nên gọi tên là Kim cương bát nhã ba la mật đa (80) , trưởng lão hãy nhớ pháp thoại như vầy qua danh hiệu ấy. Tại sao như vậy, trưởng lão Thiện hiện, bởi vì bát nhã ba la mật đa thì Như lai nói là phi bát nhã ba la mật đa, thế nên Như lai nói là bát nhã ba la mật đa (81) .

Lược Giải.-

Đoạn này không phải kết thúc như thường lệ ở các kinh khác. Đoạn này Phật đặt tên kinh là Bát nhã ba la mật đa (Trí độ) để dạy cho ngài Tu bồ đề như thật tri kiến về bản thân của Bát nhã ấy: Bát nhã mà gọi là Bát nhã là vì phi Bát nhã: vì sự siêu việt chính Nó, vì là Như.

Nhã 2. - Như Thật Tri Kiến Về Tuệ Giác Phật Dạy

(Đoạn 17-18)

Chính Văn.-

(17) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, Như lai có sự thuyết pháp hay không ? Trưởng lão thưa Ngài, không, bạch Thế tôn, Thế tôn không có thuyết pháp gì cả.

(18) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, thế giới đại thiên có bao vi trần (82) , số lượng nhiều không? Rất nhiều, bạch Ngài. Trưởng lão Thiện hiện, những vi trần ấy, Như lai nói chúng là phi vi trần, thế nên Như lai nói là vi trần. Và bao thế giới (83) , Như lai cũng nói những thế giới ấy là phi thế giới, thế nên Như lai nói là thế giới.

Lược Giải Đoạn 17-18.

Đoạn 17 nói tắt đoạn 9 ở trước và đoạn 36 ở sau. Nhưng lời như nhau mà ý không đồng. Đoạn 17 này cốt nói tuệ giác bát nhã biết Phật thuyết là phi Phật thuyết, biết Pháp của Phật thuyết là phi Pháp. Và cái biết, như cái được biết của nó, nó cũng là phi biết. Đoạn 18 cho thấy, cái biết biết Phật thuyết và Pháp của Phật thuyết là như vậy, và cũng là như vậy mà biết về phân tử và vũ trụ của phân tử: biết cái cấu trúc khổng lồ đè nặng tâm thức con người ấy cũng chỉ là Phi. Hãy như thật tri kiến như vậy về bát nhã Phật dạy.

Nhã 3. - Như Thật Tri Kiến Về Cái Thân Phật Dùng Để Dạy Tuệ Giác Ấy

(Đoạn 19)

Chính Văn.-

(19) Trưởng lão Thiện hiện, trong ý của ông, ông nghĩ thế nào, có thể hay không nhìn thấy Như lai bằng ba mươi hai đặc tướng siêu nhân (84) ? Không, bạch Thế tôn; tại sao như vậy, vì các đặc tướng thì Thế tôn nói là phi đặc tướng, thế nên Thế tôn nói là đặc tướng.

Lược Giải.-

Cái thân mà Phật dùng để thuyết bát nhã ở đây là thân trượng lục, thân 32 tướng tốt. Nhưng thân ấy là phi thân, là Như. Như vậy nếu thấy 32 tướng là Như thì thế là thấy Phật bằng 32 tướng. Bát nhã thấy là như vậy, và chính cái thấy ấy đã là như vậy.

Nhã 4. - Phước Đức Của Pháp Thoại

(Đoạn 20)

Chính Văn.-

(20) Trưởng lão Thiện hiện, nếu có thiện nam hay thiện nữ nào đem thân mạng mình bằng cát sông Hằng mà bố thí cả, và có người khác với pháp thoại này tiếp nhận ghi nhớ dầu chỉ bốn câu, và đem giảng nói cho bao người khác, thì phước người này quá nhiều hơn nữa.

Bát 2. - Như Thật Tri Kiến Về Đức Tin Của Tuệ Giác

(Đoạn 21)

Chính Văn.-

(21) Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Thiện hiện nghe pháp thoại này, lĩnh hội sâu xa, lòng đầy xúc cảm, rơi lụy mà khóc. Trưởng lão thưa rằng, thật quá hiếm có, kính bạch Thế tôn: Ngài đã tuyên thuyết pháp thoại cực sâu. Từ khi có được con mắt tuệ giác cho đến ngày nay, con chưa nghe được pháp thoại như vầy. Bạch Ngài, có ai nghe pháp thoại này tin tưởng trong sáng, và phát sinh được cái tuệ giác thật (85) , thì biết người ấy đạt được công đức hiếm có bậc nhất. Kính bạch Thế tôn, tuệ giác thật ấy thì Ngài nói là phi tuệ giác thật, thế nên Ngài nói là tuệ giác thật (86) . Kính bạch thế tôn, hôm nay con được nghe pháp thoại này, tin tưởng, lĩnh hội, tiếp nhận, ghi nhớ, thì không khó mấy. Nhưng nếu tương lai, năm trăm năm sau, người nào nghe được pháp thoại như vầy, tin tưởng, lĩnh hội, tiếp nhận, ghi nhớ, mới hiếm có nhất. Tại sao như vậy, bởi vì người ấy thì không còn có ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả --Ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả là phi ý tưởng: phi mọi ý tưởng, thì thế gọi là chư Phật như lai (87) . Đức Thế tôn dạy, trưởng lão Thiện hiện, thật đúng như vậy; nếu có người nào được nghe pháp thoại Bát nhã như vầy mà không kinh ngạc, cũng không sợ hãi, thì biết người ấy cực kỳ hiếm có. Tại sao, trưởng lão, bởi vì Bát nhã chính là tối thượng ba la mật đa (88) , và Như lai nói cái pháp tối thượng ba la mật đa là phi tối thượng ba la mật đa, thế nên Như lai nói là tối thượng ba la mật đa.

Lược Giải.-

Đức tin của Bát nhã cũng như Bát nhã, đức tin mà bản thân của nó là như Phật: siêu việt mọi ý tưởng.

Nhã 1. - Như Thật Tri Kiến Về Nhẫn Nhục

(Đoạn 22)

Chính Văn.-

(22) Trưởng lão Thiện hiện, cái pháp nhẫn nhục ba la mật đa (89) , như lai cũng nói là phi nhẫn nhục ba la mật đa, thế nên Như lai nói là nhẫn nhục ba la mật đa (90) . Tại sao, trưởng lão, vì như xưa kia, trong khi Như lai bị Ca lị vương cắt thịt khắp nơi tay chân Như lai, Như lai không có ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả. Nếu lúc bấy giờ Như lai còn có ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả, thì phải sinh ra giận dữ oán hận. Trưởng lão Thiên hiện, Như lai lại nhớ trong thì quá khứ, có năm trăm đời Như lai đã làm tiên nhân Nhẫn nhục. Vào lúc bấy giờ, Như lai cũng không ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả.

Lược Giải.-

Bồ tát hạnh có 6 sự toàn hảo gọi là lục độ. Căn bản của lục độ là trí độ (bát nhã), 5 độ còn lại là chi tiết của căn bản ấy. Trong 5 độ còn lại, liên hệ nhất với ngã chấp là thí độ và nhẫn độ. Nhẫn độ là xả bỏ tự ngã (bỏ thân), thí độ là xả bỏ ngã sở (bỏ của). Đoạn này Phật lấy tiền thân của mình để dạy hãy như thật tri kiến như thế nào về nhẫn độ.

Nhã 2. - Như Thật Tri Kiến Về Bố Thí

(Đoạn 23)

Chính Văn.-

(23) Vì lý do ấy, trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát thì phải rời mọi ý tưởng mà phát huy tâm vô thượng bồ đề (91) ; đừng ở nơi sắc mà sinh tâm ra, đừng ở nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà sinh tâm ra (92) . Hãy sinh cái tâm không ở đâu cả. Nếu tâm ở đâu, thì chính như thế là phi trú ở (93) . Vì lý do này, Như lai nói rằng Bồ tát thì phải không ở sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà làm bố thí. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát thì vì ích lợi chúng sinh một cách khắp cả mà hãy bố thí theo cách như vậy. Vì Như lai nói ý tưởng chúng sinh là phi ý tưởng (94) , Như lai cũng nói hết thảy chúng sinh là phi chúng sinh (95) . Trưởng lão Thiện hiện, Như lai là người nói phải, nói chắc, nói như sự thật, nói không lừa đảo, nói không mâu thuẫn. Trưởng lão Thiện hiện, Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ được, cái Pháp như vậy không phải chắc chắn, không phải trống rỗng (96) . Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát nếu tâm ở nơi mọi thứ mà làm bố thí, thì như một người vào trong bóng tối, không còn thấy được một thứ gì hết; Bồ tát nếu tâm không ở mọi thứ mà làm bố thí, thì như một người đã có mắt sáng, lại có ánh sáng mặt trời soi rõ, nên thấy đủ cả.

Lược Giải.-

Đoạn này dạy như thật tri kiến về thí độ: người cho, vật cho và người nhận, kể cả ý tưởng về ba thứ này, toàn là Phi: siêu việt mọi phạm trù có không. Trong phần đầu của đoạn này, từ vì lý do ấy đến vô thượng bồ đề là phi người cho, từ đừng ở nơi sắc đến mà làm bố thí là phi vật cho, từ trưởng lão Thiện hiện đến là phi chúng sinh là phi người nhận. Bố thí bằng vô trú bát nhã như vầy bổ túc hơn nữa cho đoạn 6 đã nói.

Bát 4. - Phước Đức Của Pháp Thoại

(Đoạn 24)

Chính Văn.-

(24) Trưởng lão Thiện hiện, trong thì vị lai, nếu có thiện nam hay thiện nữ nào, đối với pháp thoại Bát nhã như vầy, tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, nói cho người khác (97) , thì thế là được Như lai sử dụng tuệ giác Như lai mà biết rất rõ, và thấy rất rõ (98) , rằng người như vậy ai cũng đạt được vô lượng công đức.

Bát 1. - Như Thật Tri Kiến Về Sự Tin Đặc Biệt

(Đoạn 25)

Chính Văn.-

(25) Trưởng lão Thiện hiện, nếu có thiện nam hay thiện nữ nào buổi sáng đã đem hằng sa thân mạng mà bố thí cả, buổi trưa cũng đem hằng sa thân mạng mà bố thí nữa, buổi chiều lại đem hằng sa thân mạng mà bố thí luôn, và sự bố thí thân mạng như vậy làm đến trăm ngàn vạn ức thời kỳ (99) ; và có người khác nghe pháp thoại này, trong lòng tin tưởng chứ không đối kháng, thì phước người này hơn phước người trước, huống chi có người sao chép ấn hành, tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, nói cho người khác. Trưởng lão Thiện hiện, chính yếu mà nói, thì bài pháp thoại Bát nhã như vầy có những công đức ngoài tầm nghĩ bàn, ước lượng, đối chiếu, siêu việt giới hạn; Như lai nói cho những người đi theo giáo pháp đại thừa (100) , nói cho những người đi theo giáo pháp đại thừa tối thượng (101) . Ai có năng lực tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, trình bày phong phú cho bao người khác, thì chính Như lai biết rõ người ấy, thấy rõ người ấy, đạt được công đức không thể ước lượng, không thể đối chiếu, không có giới hạn, ngoài tầm nghĩ bàn. Những người như vậy có thể gánh vác tuệ giác vô thượng của ta, Như lai. Tại sao như thế, trưởng lão Thiện hiện, bởi vì những ai ưa pháp tiểu thừa (102) , vẫn còn ngã nhân chúng sinh thọ giả, thì với Pháp này không thể lắng nghe, tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, nói cho người khác.

Lược Giải.-

Tiểu thừa thanh văn còn ngã chấp là vì tự mãn với niết bàn tiểu thừa. Sự tự mãn ấy chính là ngã chấp không những theo bản năng mà cũng còn theo lý thuyết. Ngã chấp như vậy nên chữ Phi của Kim cương là "mũi dao tổn thương con tim" của họ. Do vậy, hãy như thật tri kiến về đức tin Bát nhã: tin nổi Bát nhã là theo nổi Đại thừa.

Bát 2. - Như Thật Tri Kiến Về Địa Điểm Đặc Biệt

(Đoạn 26)

Chính Văn

(26) Trưởng lão Thiện hiện, bất cứ chỗ nào, hễ có bản kinh Kim cương bát nhã, thì cả thế giới chư thiên, nhân loại, và a tu la, đều nên hiến cúng. Nên biết chỗ ấy chính là chùa tháp tôn thờ Như lai; hãy lạy, đi nhiễu, tung rãi các loại bông hoa, hương liệu.

Bát 3. - Như Thật Tri Kiến Về Hiệu Năng Đặc Biệt

(Đoạn 27)

Chính Văn.-

(27) Thêm nữa, trưởng lão, bất cứ thiện nam hay thiện nữ nào học hỏi, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc kinh Kim cương này mà bị khinh dễ, thì biết người ấy tội ác đời trước đáng sa chỗ dữ, nhưng vì đời này bị người khinh dễ thì tội ác đó tiêu tan hết cả, người ấy sẽ được tuệ giác vô thượng.

Lược Giải.-

Hiệu năng Kim cương được nói như đoạn này thì thật rõ và gần như độc đáo. Phải là kinh như kinh Kim cương mới có cái hiệu năng tiêu diệt ngay trong đời này những ác nghiệp đã thuần thục. Hãy như thật tri kiến như vậy để khỏi ngờ và sợ khi thấy đọc tụng Kim cương mà hay bị những sự bất như ý.

Bát 4. - Như Thật Tri Kiến Về Phước Đức Đặc Biệt

(Đoạn 28)

Chính Văn.-

(28) Trưởng lão Thiện hiện, Như lai nhớ lại quá khứ vô số thời kỳ vô số (103) , trước khi Như lai gặp đức Nhiên đăng, thì đã gặp được tám trăm bốn ngàn vạn ức trăm triệu chư Phật như lai, đối với Ngài nào Như lai cũng đồng thừa sự hiến cúng chứ không bỏ qua. Nhưng nếu có ai, ở trong thời kỳ cuối cùng sau này, mà có năng lực học hỏi, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc bản kinh Kim cương bát nhã này đây, thì bao công đức người ấy đạt được, công đức Như lai phụng sự chư Phật không bằng phần trăm, phần ngàn vạn ức, đến nỗi toán pháp và ví dụ nữa, cũng không bằng được một phần nào cả. Trưởng lão Thiện hiện, nếu có thiện nam hay thiện nữ nào ở trong thời kỳ cuối cùng sau này, mà có khả năng tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc bản kinh Kim cương bát nhã như vầy, bao nhiêu công đức mà họ đạt được, nếu Như lai nói một cách đầy đủ, thì tất có kẻ nghe mà nổi khùng, bối rối, hoài nghi, không thể tin được. Trưởng lão Thiện hiện, phải nhận thức rằng ý nghĩa Kim cương không thể nghĩ bàn, hiệu quả cũng vậy không thể nghĩ bàn.

Lược Giải.-

Phật đem chính phước đức của mình mà đề cao phước đức Kim cương: phước đức Kim cương siêu việt là vì ý nghĩa Kim cương siêu việt.

Nhã 1. - Như Thật Tri Kiến Về Chủ Thể Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề

(Đoạn 29)

Chính Văn.-

(29) Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Thiện hiện kính bạch Thế tôn, thiện nam thiện nữ đã phát tâm nguyện vô thượng bồ đề, thì phải làm sao để ở tâm ấy? và phải làm sao để sửa tâm mình? Đức Thế tôn dạy, trưởng lão Thiện hiện, thiện nam thiện nữ phát tâm bồ đề, thì sửa tâm mình bằng tuệ giác này: ta phải làm cho hết thảy chúng sinh đều được niết bàn, hết thảy chúng sinh được niết bàn rồi mà thật không thấy một chúng sinh nào được niết bàn cả. Lý do là vì Bồ tát mà có ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả, thì như thế là không phải Bồ tát. Tại sao như vâểy, trưởng lão Thiện hiện, bởi vì thật ra không có pháp gì là người phát tâm vô thượng bồ đề.

Lược Giải.-

Đoạn 29 này văn tự gần như lặp lại đoạn 3 và đoạn 5, nhưng cốt ý nói bát nhã không thấy có mình là người phát tâm vô thượng bồ đề.

Nhã 2. - Như Thật Tri Kiến Về Chủ Thể Thực Hiện Vô Thượng Bồ Đề

(Đoạn 30)

Chính Văn.-

(30) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, nơi đức Nhiên đăng, phải chăng Như lai có một pháp gì gọi là đạt được vô thượng bồ đề? Không, bạch Thế tôn; theo chỗ con hiểu ý nghĩa đã được Thế tôn dạy cho, thì khi Ngài ở nơi đức Nhiên đăng, không có pháp gì gọi là đạt được vô thượng bồ đề. Đức Thế tôn dạy, đúng vậy Thiện hiện, đúng là không có pháp gì gọi là Như lai đạt được vô thượng bồ đề. Nếu có pháp gì gọi là Như lai đạt được tuệ giác vô thượng bồ đề, thì đức Nhiên đăng đã không ghi nhận, rằng trong tương lai ông thành Phật đà, danh hiệu gọi là Thích ca mâu ni; vì thật không có pháp gì gọi là Như lai đạt được vô thượng bồ đề, nên đức Nhiên đăng mới ghi nhận cho, bằng cách nói rằng ông thành Phật đà danh hiệu gọi là Thích ca mâu ni --Tại sao như vậy, vì chữ Như lai chính là nghĩa Như của tất cả pháp (104) . Nếu có ai nói Như lai đạt được vô thượng bồ đề, thì nói như vậy là không chính xác (105) , bởi vì, trưởng lão, thật ra không có pháp gì gọi là Như lai đạt được vô thượng bồ đề. Trưởng lão Thiện hiện, Như lai đạt được vô thượng bồ đề, sự đạt được ấy không phải chắc chắn, không phải trống rỗng. Vì lý do này, Như lai tuyên ngôn rằng tất cả pháp toàn là Phật pháp. Trưởng lão Thiện hiện, tất cả pháp ấy Như lai đã nói phi tất cả pháp, nên Như lai nói là tất cả pháp.

Lược Giải.-

Đoạn 30 này đã được nói lược ở đoạn 12, nhưng đoạn ấy cốt nói bát nhã không thấy có bồ tát hạnh quả của Phật, còn đoạn này cốt nói bát nhã không thấy có cái người thực hiện vô thượng bồ đề.

Nhã 3. - Như Thật Tri Kiến Về Bồ Tát Hạnh Thực Hiện Vô Thượng Bồ Đề

(Đoạn 31-32)

Chính Văn.-

(31) Trưởng lão Thiện hiện, ví như có người thân thể cao lớn... Trưởng lão Thiện hiện liền bạch Thế tôn, thân cao lớn ấy thì Ngài đã nói phi thân cao lớn, thế nên Ngài nói là thân cao lớn. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát cũng vậy; Bồ tát mà nói ta phải làm cho vô số chúng sinh đều được niết bàn, thì không được gọi là vị Bồ tát; trưởng lão Thiện hiện, bởi vì thật ra không có pháp gì gọi là Bồ tát. Vì thế Như lai nói tất cả pháp không phải ngã nhân chúng sinh thọ giả.

(32) Trưởng lão Thiện hiện, nếu Bồ tát nói ta phải trang hoàng cõi Phật của ta, thì không được gọi là vị Bồ tát. Tại sao, trưởng lão, trang hoàng cõi Phật thì Như lai nói là phi trang hoàng, thế nên Như lai nói là trang hoàng. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát thấu triệt về sự vô ngã (106) , Như lai mới nói vị ấy đích thực là vị Bồ tát.

Lược Giải Đoạn 31-32.-

Cả 2 đoạn này cốt nói bát nhã không thấy có cái người làm bồ tát hạnh: đoạn 31 nói sự làm nên chúng sinh, đoạn 32 nói sự làm sạch thế giới. Đoạn 31, văn phần đầu gần như lặp lại đoạn 14, nhưng đoạn 14 cốt nói Phật thân là phi Phật thân (thân lớn là phi thân lớn), còn đoạn 31 này cốt nói Bồ tát là phi Bồ tát (thân lớn là phi thân lớn). Đoạn 32 cũng vậy, văn như đoạn 13 mà ý cốt nói không có cái người làm sự làm sạch thế giới.

Nhã 4. - Như Thật Tri Kiến Về Tuệ Của Vô Thượng Bồ Đề

(Đoạn 33)

Chính Văn.-

(33) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, có đúng Như lai hiện có mắt thịt, mắt trời phải không? Phải, bạch Thế tôn, Ngài có mắt thịt và có mắt trời. Có đúng Như lai hiện có mắt tuệ, mắt pháp phải không? Phải, bạch Thế tôn, Ngài có mắt tuệ và có mắt pháp. Như lai hiện có mắt Phật phải không? Phải, bạch Thế tôn, Ngài có mắt Phật. Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, cát trong sông Hằng Như lai cũng nói là cát phải không? Phải, Ngài nói cát. Ông nghĩ thế nào, có bao nhiêu cát trong một sông Hằng thì có sông Hằng bằng số cát ấy, và những cõi Phật bằng với số cát những sông Hằng này thì nhiều hay không? Rất nhiều, bạch Ngài. Trưởng lão Thiện hiện, bao nhiêu tâm tưởng (107) tất cả chúng sinh trong những cõi Phật được nói như vậy, Như lai biết hết. Tại sao, trưởng lão, Như lai nói rằng bao tâm tưởng ấy là phi tâm tưởng, thế nên Như lai nói là tâm tưởng: Tâm tưởng quá khứ không thể nhận được, tâm tưởng hiện tại không thể nhận được, tâm tưởng vị lai không thể nhận được.

Lược Giải.-

Về ngũ nhãn của Phật, Dẫn nhập điều 7 mục c đã nói sơ lược. Nay nói sơ lược hơn nữa, theo ngôn ngữ Kim cương. Thấy A (sở ngôn) là nhục nhãn và thiên nhãn. Thấy A là phi-A (tức phi) là tuệ nhãn. Vì A là phi-A nên nói là A (thị danh) là pháp nhãn. Phật nhãn viên mãn và siêu việt tất cả. Ngũ nhãn như vậy là tuệ của vô thượng bồ đề. Ngũ nhãn là như vậy nên thấy biết bình thường như cát Phật cũng thấy biết, thấy biết cái biến hóa và siêu tốc nhất như tâm lý Phật càng thấy biết --thấy biết tận cùng số lượng, thực chất.

Nhã 5. - Như Thật Tri Kiến Về Phước Của Vô Thượng Bồ Đề

(Đoạn 34)

Chính Văn.-

(34) Trưởng lão Thiện hiện, giả sử có ai đem hết vàng ngọc đầy cõi đại thiên mà bố thí cả, người này vì thế được phước nhiều không? Rất nhiều, bạch Ngài; người này vì thế được phước rất nhiều. Trưởng lão Thiện hiện, nêắu phước có thật thì Như lai đã không nói phước nhiều, nhưng vì phước ấy thật là phi phước, thế nên Như lai nói là phước nhiều.

Lược Giải.-

Phước của vô thượng bồ đề là thuận tánh mà tu hành và diệu dụng. Tức như Khởi tín luận nói thuận theo sự không trú ở của chân như mà không trú ở sinh tử và niết bàn..., thuận theo chân như không tham lẫn mà bố thí...

Nhã 1. - Như Thật Tri Kiến Về Phật Thân

(Đoạn 35)

Chính Văn.-

(35) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, có thể hay không nhìn thấy Như lai bằng cái sắc thân toàn hảo đặc tướng? Không, bạch Thế tôn, không nên nhìn Ngài bằng cái sắc thân toàn hảo đặc tướng. Tại sao như vậy, vì cái sắc thân toàn hảo đặc tướng thì Thế tôn nói là phi sắc thân toàn hảo đặc tướng, đó là lý do tại sao Thế tôn nói là sắc thân toàn hảo đặc tướng. Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, có thể hay không nhìn thấy Như lai bằng các đặc tướng toàn hảo tất cả? Không, bạch Thế tôn, không nên nhìn Ngài bằng các đặc tướng toàn hảo tất cả. Tại sao như vậy, vì các đặc tướng toàn hảo tất cả thì Thế tôn nói là phi đặc tướng toàn hảo tất cả, đó là lý do tại sao Thế tôn nói là đặc tướng toàn hảo tất cả.

Lược Giải.-

Đây là lần thứ 3 trong 5 lần (các đoạn 7, 19, 35, 41, 42) đã và còn nói về sự thấy Phật bằng tướng hảo. Nhưng 5 lần như vậy văn đồng mà ý khác. Ở đây, đoạn 35, là như thật tri kiến về cái chủ thể có cái thân đầy đủ tướng hảo và có tướng hảo đầy đủ.

Nhã 2. - Như Thật Tri Kiến Về Phật Thuyết

(Đoạn 36)

Chính Văn.-

(36) Trưởng lão Thiện hiện, đừng nói Như lai có cái ý nghĩ Như lai thuyết pháp. Đừng nói như vậy. Lý do tại sao, vì nói Như lai có sự thuyết pháp thì thế chính là phỉ báng Như lai. Nói thế tức là không khéo lĩnh hội ý nghĩa đã được Như lai tuyên thuyết. Trưởng lão Thiện hiện, gọi là thuyết pháp là thật không có pháp gì để thuyết, như thế mới được gọi là thuyết pháp.

Lược Giải.-

Thuyết pháp không những chỉ là thuyết rằng Pháp là Phi (Như): là siêu việt ngôn thuyết, mà ngay cái người thuyết pháp cũng là Phi. Đó là như thật tri kiến về Phật thuyết Pháp và Pháp của Phật thuyết.

Nhã 3. - Như Thật Tri Kiến Về Phật Hóa

(Đoạn 37)

Chính Văn.-

(37) Lúc ấy Thiện hiện, người lấy tuệ giác mà làm tính mạng, kính bạch Thế tôn, có thể có ai trong thì vị lai nghe Pháp như vậy mà tin tưởng không? Đức thế tôn dạy, những người như vậy không phải chúng sinh hay không chúng sinh; tại sao, trưởng lão, gọi là chúng sinh thì Như lai nói là phi chúng sinh, vì thế Như lai gọi là chúng sinh (108) .

Lược Giải.-

Người thuyết Pháp và Pháp được thuyết như thế nào thì người nghe Pháp cũng vậy. Người nghe Pháp không phải là chúng sinh (vì là Phi, là Như), dầu hiện không phải là không chúng sinh (vì chưa tự biết là Phi, là Như). Phật hóa là giáo hóa cho họ biết sự không tự biết ấy. Hãy như thật tri kiến như vậy về Phật hóa và người được Phật hóa.

Nhã 4. - Như Thật Tri Kiến Về Phật Pháp

(Đoạn 38)

Chính Văn.-

(38) Trưởng lão Thiện hiện kính bạch Thế tôn, Thế tôn đạt được vô thượng bồ đề, thật ra là sự phi đạt được chăng? Đúng, đúng như vậy, trưởng lão Thiện hiện; Như lai đối với vô thượng bồ đề không có chút gì gọi là đạt được, nên được gọi là vô thượng bồ đề. Thêm nữa, trưởng lão, Pháp thì đồng đẳng, không bất đồng đẳng (109) , thế nên gọi là vô thượng bồ đề: không có ngã nhân chúng sinh thọ giả mà làm pháp lành, thế thì đạt được vô thượng bồ đề. Trưởng lão Thiện hiện, gọi là pháp lành thì Như lai nói là phi pháp lành, thế nên Như lai gọi là pháp lành.

Lược Giải.-

Pháp là pháp vô thượng bồ đề của Phật, là Phật pháp. Pháp ấy là Như, siêu việt mọi khái niệm mà độc chất là ngã chấp. Thiện pháp đạt đến Pháp ấy cũng là Như biểu hiện - là thuận tánh khởi dụng.

Bát 3. - Phước Đức Của Pháp Thoại

(Đoạn 39)

Chính Văn.-

(39) Trưởng lão Thiện hiện, có người đem cho bảy loại vàng ngọc chất đống bằng với những núi Tu di trong cõi đại thiên, và có người khác tiếp nhận ghi nhớ dầu chỉ bốn câu bản kinh Bát nhã ba la mật này, và nói cho người, thì phước người trước không bằng phần trăm, phần ngàn vạn ức, toán pháp, ví dụ, cũng không bằng được một phần nào cả.

Nhã 1. - Như Thật Tri Kiến Mà Loại Bỏ Tà Kiến Thường Còn

(Đoạn 40-41)

Chính Văn.-

(40) Trưởng lão Thiện hiện, các vị đừng nói Như lai nghĩ rằng Như lai giải thoát các loại chúng sinh; trưởng lão Thiện hiện, đừng nghĩ như vậy, vì thật không có một chúng sinh nào Như lai giải thoát. Nếu có chúng sinh Như lai giải thoát, thì thế chính là Như lai đã có ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả. Trưởng lão Thiện hiện, ý tưởng về ngã thì Như lai nói phi ý tưởng ngã (110) , nhưng người tầm thường thì bảo là ngã. Trưởng lão Thiện hiện, người tầm thường ấy Như lai nói là phi người tầm thường (111) .

Lược Giải.-

Loại bỏ chấp thường còn (chấp có) có 2 đoạn. Đây là đoạn thứ nhất cốt nói nếu Phật thấy có chúng sinh được mình hóa độ (cũng như nếu thấy có mình hóa độ chúng sinh) thì cái thấy ấy là ngã chấp: chấp thường, chấp có.

Chính Văn.-

(41) Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, phải chăng có thể nhìn thấy Như lai bằng ba mươi hai đặc tướng siêu nhân? Kính bạch Thế tôn, theo chỗ con hiểu nghĩa của Ngài dạy, không thể nhìn Ngài bằng ba mươi hai đặc tướng siêu nhân. Đức Thế tôn dạy, trưởng lão Thiện hiện, thật đúng như vậy, bởi vì nếu nhìn ba mươi hai nét đặc tướng siêu nhân mà cho có thể nhìn thấy Như lai, thì Chuyển luân vương cũng là Như lai. Thế nên không thể nhìn thấy Như lai bằng ba mươi hai đặc tướng siêu nhân; hãy nhìn Như lai bằng cách nhìn thấy tất cả đặc tướng là phi đặc tướng (112) . Bấy giờ Thế tôn nói chỉnh cú này:

"Nếu đem sắc tướng
nhìn thấy Như lai,
hoặc đem âm thanh
nhận thức Như lai,
thì những người ấy
đã đi lạc đường,
không còn thể nào
thấy biết Như lai" (113) .

Lược Giải.-

Đây là đoạn thứ hai loại bỏ chấp thường còn (chấp có): Nếu thấy Phật qua sắc tướng (hay tìm Phật qua âm thanh) như cái thấy (và cái nghe) của ngã chấp, thì ai có 32 tướng tốt (dầu không tốt bằng Phật) cũng là Phật cả.

Nhã 2. - Như Thật Tri Kiến Mà Loại Bỏ Tà Kiến Đoạn Diệt

(Đoạn 42-43)

Chính Văn.-

(42) Trưởng lão Thiện hiện, nếu ông nghĩ rằng Như lai không do (114) đặc tướng toàn hảo mà được tuệ giác vô thượng bồ đề, thì này, trưởng lão, đừng nghĩ như vậy, rằng ta, Như lai, không do đặc tướng toàn hảo mà được vô thượng bồ đề (115) .

Lược Giải.-

Loại bỏ chấp đoạn diệt (chấp không) cũng bằng 2 đoạn. Đây là đoạn thứ nhất, nói quả bất diệt (Phật đà bất diệt). Quả ấy là Phật thân đủ mọi tướng hảo: chính Phật thân này tự phủ nhận sự chấp không (chấp đoạn) rồi. Muốn hiểu Phật đà bất diệt như thế nào thì coi Pháp hoa phẩm 16.

Chính Văn.-

(43) Trưởng lão Thiện hiện, nếu ông nghĩ rằng những người phát tâm vô thượng bồ đề nói rằng các pháp là tiêu diệt hẳn, thì đừng nghĩ thế, tại sao, bởi vì những người phát tâm vô thượng bồ đề đối với các pháp không nói tiêu diệt (116) .

Lược Giải.-

Đây là đoạn thứ hai loại bỏ chấp đoạn diệt (chấp không), bằng cách nói nhân bất diệt (Bồ tát bất diệt). Nhân ấy là phát tâm vô thượng bồ đề: chính sự phát tâm này tự phủ nhận sự chấp không (chấp đoạn) rồi.

Bát 2. - Loại Bỏ Tà Kiến Mà Hội Nhập Như Thật Tri Kiến

Phân khoa trên đây, có thể đổi từ ngữ mà nói một cách khác, nghĩa là nhìn một cách khác hơn nữa về 4 nhã này: nhã 1 hội nhập như thật tri kiến về nghiệp quả, nhã 2 hội nhập như thật tri kiến về thực thể, nhã 3 hội nhập như thật tri kiến về vũ trụ, nhã 4 hội nhập như thật tri kiến về bản thân. Cách nhìn như vầy có nghĩa đoạn 44 cho thấy phi thường phi đoạn nên có nghiệp thì có nghiệp quả, đoạn 45 cho thấy phi thường phi đoạn nên bản thể vốn siêu việt, đoạn 46-47 cho thấy phi thường phi đoạn nên cảnh giới là phi cảnh giới, đoạn 48 cho thấy phi thường phi đoạn nên bản thân là Phật thân. Cách nhìn như vầy sát ý hơn, nhưng hơi kém sát văn, nhất là văn đoạn 44, nên tôi không dùng mà thấy phải nêu lên ở đây.

Nhã 1. - Hội Nhập Như Thật Tri Kiến Về Nhân

(Đoạn 44)

Chính Văn.-

(44) Trưởng lão Thiện hiện, một vị Bồ tát đem cho tất cả bảy loại vàng ngọc chất đầy thế giới như cát sông Hằng; vị Bồ tát khác biết tất cả pháp toàn là vô ngã (117) , thành được sức Nhẫn (118) , thì Bồ tát này hơn Bồ tát trước. Lý do là vì, trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát thì không tiếp nhận phước đức. Trưởng lão Thiện hiện kính bạch Thế tôn, tại sao Bồ tát không nhận phước đức? Bởi vì, Thiện hiện, Bồ tát làm hết mọi sự phước đức, thế nhưng không nên tham đắm phước đức, Như lai do vậy nói là không nhận mọi sự phước đức (119) .

Lược Giải.-

Hội nhập như thật tri kiến về nhân là thấy Vô sinh pháp nhẫn hoạt dụng thành cái phước đức siêu việt đam mê, cố thủ.

Nhã 2. - Hội Nhập Như Thật Tri Kiến Về Quả

(Đoạn 45)

Chính Văn.-

(45) Trưởng lão Thiện hiện, nếu nói Như lai có đến, có đi, có ngồi, có nằm, thì người nói ấy không hiểu ý nghĩa Như lai đã nói. Tại sao như vậy, bởi vì Như lai không đến từ đâu, không đi về đâu, nên gọi Như lai.

Lược Giải.-

Hội nhập như thật tri kiến về quả là thấy Như lai và Như: siêu việt mọi sự không Như.

Nhã 3. - Hội Nhập Như Thật Tri Kiến Về Vũ Trụ

(Đoạn 46-47)

Chính Văn.-

(46) Trưởng lão Thiện hiện, có ai nghiền nát thế giới đại thiên thành ra vi trần, thì ông nghĩ sao, những vi trần ấy là nhiều hay ít? Rất nhiều, bạch Ngài. Tại sao, bởi vì những vi trần ấy nếu là thật có, thì Ngài không nói là những vi trần --Thế nhưng vi trần thì Ngài đã nói là phi vi trần, do đó Ngài nói là những vi trần (120) .

(47) Và bạch Thế tôn, cái mà Ngài nói thế giới đại thiên thì phi thế giới, vì thế nên được gọi là thế giới. Tại sao như vậy, bởi vì nếu nói thế giới thật có, thì đó chỉ là ý tưởng hợp nhất --Ý tưởng hợp nhất thì Ngài nói phi ý tưởng hợp nhất, nên được gọi là ý tưởng hợp nhất. Đức Thế tôn dạy, trưởng lão Thiện hiện, ý tưởng hợp nhất thì không là gì để mà nói cả, nhưng người tầm thường đam mê dính mắc cái sự như vậy. (121)

Lược Giải Đoạn 46-47.-

Cả 2 đoạn 46 và 47 này là hội nhập như thật tri kiến về vũ trụ (về phân tử của vũ trụ và về vũ trụ của phân tử), thấy chúng không là gì để mà cãi và ham.

Nhã 4. - Hội Nhập Như Thật Tri Kiến Về Bản Thân

(Đoạn 48)

Chính Văn.-

(48) Trưởng lão Thiện hiện, nếu có ai nói Thế tôn nói về ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả, thì này, trưởng lão, ông nghĩ thế nào, người đó có hiểu ý nghĩa Như lai đã nói hay không? Không, bạch Thế tôn, người ấy không hiểu ý nghĩa đã được Thế tôn nói ra. Lý do tại sao, vì Thế tôn nói ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả thì tức là phi (122) ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả, thế nên gọi là ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả.

Lược Giải.-

Hội nhập như thật tri kiến về bản thân là thâm tín Bát nhã. Thâm tín Bát nhã thì thường nghĩ nhớ bản thân, nhất là bản thân trong ngã chấp, vốn là và vẫn là Phi, là Như.

Cương 1. - Kết Thúc ��� Với 2 Câu Hỏi Đáp Căn Bản

(Đoạn 49)

Chính Văn.-

(49) Trưởng lão Thiện hiện, những người phát tâm vô thượng bồ đề, thì với các pháp (123) hãy biết như vậy, hãy thấy như vậy, tin tưởng, lĩnh hội cũng là như vậy: đừng nên trú ở nơi ý tưởng pháp. Trưởng lão Thiện hiện, nói ý tưởng pháp thì Như lai nói phi ý tưởng pháp, vì thế mới gọi là ý tưởng pháp.

Lược Giải.-

"Đừng nên trú ở nơi ý tưởng pháp" là lặp lại vô trú bát nhã đã nói suốt từ đoạn 2 đến đây, tổng kết kinh này ứng với 2 câu hỏi đáp căn bản mở đầu trong đoạn 2-6.

Cương 2. - Khuyến Cáo Tu Học Và Diễn Tả Kim Cương

(Đoạn 50)

Chính Văn.-

(50) Trưởng lão Thiện hiện, nếu có người nào đem cho tất cả bảy loại vàng ngọc chất đầy vô lượng vô số thế giới, và có người khác, không kể thiện nam hay là thiện nữ, đối với pháp thoại Bát nhã như vầy, tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc, diễn tả cho người, thì dầu chỉ được chỉnh cú bốn câu, phước họ đạt được vẫn hơn người trước.

Lược Giải.-

Pháp hạnh đối với Kim cương mà đoạn này và các đoạn tương tự ở trước đã khuyến cáo là sao chép ấn hành, tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, diễn nói cho người (thư tả, thọ trì, độc, tụng, vị tha nhân thuyết). Tựu trung, diễn nói hay diễn tả cho người là giới thiệu, loan báo và giảng dạy. Cách này được chỉ thêm ở đoạn 51 dưới đây. Cách ấy cho thấy diễn tả Kim cương cho người thì chính mình phải có và sống theo tuệ giác Kim cương.

Cương 3. - Chỉ Cách Diễn Tả Kim Cương

(Đoạn 51)

Chính Văn.-

(51) Diễn tả cho người bằng cách thế nào? Bằng cách đừng nắm ý tưởng về pháp, mà như sự Như chứ không dao động (124) . Tại sao mà phải diễn tả cách ấy?

"Bởi vì tất cả
các pháp hữu vi
toàn là giống như
chiêm bao, ảo thuật,
bóng nước, ảnh tượng,
sương mai, điện chớp;
rất cần phải có
cái nhìn như vậy"(125) .

Lược Giải.-

Hãy diễn tả Kim cương bằng cách chính mình phải thường xuyên tưởng nhớ, chiêm nghiệm và diệu dụng đạo lý chữ Phi. Như thế đó là vô trú bát nhã mà hủy diệt ngã chấp cũng ở đó, phát tâm với hàng tâm và trú tâm cũng ở đó.

Kim 2. - Kết Thúc Như Các Kinh Khác

(Đoạn 52)

Chính Văn.-

(52) Khi đức Thế tôn tuyên thuyết hoàn tất bản kinh Kim cương bát nhã này rồi, trưởng lão Thiện hiện, các vị tỷ kheo và tỷ kheo ni, những cận sự nam và cận sự nữ, toàn thể thế giới chư thiên, nhân loại, và a tu la, được nghe những điều Thế tôn tuyên thuyết, ai cũng hoan hỷ, tín thọ, phụng hành.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn