44. Tiểu Kinh Phương Quản

19/05/202010:21(Xem: 21869)
44. Tiểu Kinh Phương Quản

TAM TẠNG THÁNH KINH PHẬT GIÁO

TẠNG KINH (NIKÀYA)
Thi Hóa
TRUNG BỘ KINH

( Majjhima  Nikàya )


Tập II
Hòa Thượng THÍCH MINH CHÂU
Dịch sang tiếng Việt từ Tam Tạng Pàli

Chuyển thể Thơ :

Giới Lạc  MAI LẠC HỒNG  tự TUỆ NGHIÊM

 ( Huynh Trưởng Cấp Tấn  - GĐPTVN tại Hoa Kỳ )

Email : [email protected]



44. Tiểu Kinh PHƯƠNG QUẢNG
( Cùlavedalla sutta )
 
Như vậy, tôi nghe :
 
          Một thời, đức Thế Tôn Giác Giả
          Trú Vương Xá – Rá-Chá-Ga-Ha, (1)
              Trúc Lâm – Vê-Lú-Va-Na,  (2)
       Ka-Lan-Đa-Ká Ni-Va-Pá (3) này
          Là địa phương tại đây Phật ngự,
 Chư Tăng Ni vâng giữ tịnh, hòa.
 
              Nam Cư Sĩ Vi-Sa-Kha  (4)
       Đi đến chỗ vị Tham-Ma-Đin-Nà  (4),
          Tỷ Kheo Ni thuần hòa giới hạnh
     A-La-Hán, bậc Thánh của Ni.
              Đến nơi đảnh lễ tức thì
       Một bên ngồi xuống, rồi thì thưa ra :
 
     – “ Bạch Sư Ni ! Sắc-Ka-Dá  (5) ấy
          Gọi như vậy : ‘tự thân’, ‘tự thân’.
              Thưa : Thế Tôn gọi ‘tự thân’,
      ‘Tự thân’ như vậy là nhân thế nào ? ”.
 
     – “ Này Hiền-giả ! Cao sâu Thiện Thệ
     ____________________________
 
(1) : Thành Vương Xá – Rajagaha . 
(2) : Trúc Lâm Tinh Xá – Veluvana(vihàra) .
(3) : Địa phương Kalandaka Nivapa .
(4) : Sư Cô Dhammadinna  ( lúc này đã đắc Thánh quả A-La-Hán )
   và Nam Cư Sĩ Visakha vốn là chồng cũ  ( đã đắc quả A-Na-Hàm )
    – Xem chú thích chi tiết ở trang trước .
(5) : Sakkaya – Tự thân .
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH –  102
 
          Gọi như thế Thủ Uẩn năm phần :
              Sắc, Thọ-thủ-uẩn của thân,
       Tưởng, Hành-thủ-uẩn gọi lần lượt đây,
          Thức-thủ-uẩn cũng tày như vậy,
          Năm thứ ấy, Phật gọi ‘tự thân’. 
 
         – “ Lành thay ! Giải thật chánh chân ! ”.
 
       Cư Sĩ hoan hỷ với phần đáp trên
          Rồi hỏi thêm Sư Ni câu mới :
 
    – “ Gọi ‘tự thân tập khởi’ như vầy
              Thế Tôn gọi vấn đề này 
       Thế nào vậy ? Xin trình bày rõ ra ”.
 
    – “ Hiền-giả Vi-Sa-Kha ! Khát ái !
          Đem tai hại, đưa tái sinh ngay
              Câu hữu với hỷ, tham  đây
 Tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia.
          Nếu phân chia : Dục và hữu-ái,
     Phi-hữu-ái – khát ái cả ba.
             ‘Tự thân tập khởi’ chính là
       Sắc-Ka-Dá Sa-Mu-Đa-Da (1) này,
          Được Thế Tôn gọi ngay thế đấy ”.
 
    – “ Tự thân diệt’, gọi vậy là sao ? ”.
 
        – “ Hiền-giả ! Sự đoạn diệt mau,
       Sự không tham đắm, (chìm vào nguy nan)
          Không dư tàn của khát ái đó,
       Sự xả ly, vất bỏ cả ngay.
              Sự giải thoát, vô chấp này
      ‘Tự thân diệt’, Phật gọi ngay như vầy ”.
     ____________________________
 
     (1) : Tự thân tập khởi – Sakkaya samudaya .
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH –  103
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Phật ngài thường bảo
          Chữ ‘tự thân diệt đạo’ là sao ? ”.
 
       – “ Hiền-giả ! Điều đó hiểu mau   
       Con đường Thánh đạo cao sâu tám ngành
          Trong mọi thì thực hành rốt ráo
          Gọi ‘tự thân diệt đạo’ như vầy ”.
 
        – “ Thưa Sư Ni ! Về Thủ đây
       Chính là năm thủ uẩn  (1) hay Thủ này
          Khác xa ngay với năm thủ uẩn ? ”.    
 
 – “ Năm thủ uẩn tức là Thủ này.
            ( Tức là năm thủ uẩn đây
       Không khác với Thủ ) như vầy hiểu qua.
          Hiền-giả Vi-Sa-Kha ! Nói tới
          Phàm dục tham có với cả năm
              Thủ uẩn ; tức là âm thầm
       Chấp thủ với chúng, như vầy xảy ra ”.
 
( Thân Kiến )
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Sao là ‘thân kiến’ ? ”.
 
    – “ Này Hiền-giả ! Phân biện trí ngu
              Những kẻ vô văn phàm phu
       Không đến yết kiến thuần từ Thánh nhân
          Không thuần thục pháp phần bậc Thánh
          Không tu tập pháp Thánh chánh chân,
              Không yết kiến các Chân nhân
     ____________________________
 
(1) : Năm Thủ Uẩn – Panca upàdana khandha  : nghĩa là năm uẩn
      là đối tượng của sự chấp thủ , của tâm tham ái  ;  gồm 5 điều :
      a/ Sắc thủ uẩn – Rùpa upàdana khandha .       b/ Thọ thủ uẩn –
      Vedanà  …..  c/ Tưởng thủ uẩn – Sannà ….. d/ Hành thủ uẩn –
      Sankhàra …..   e/ Thức thủ uẩn – Vinàna upàdana khandha . 
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH –  104
 
       Không thuần thục pháp Chân nhân các phần
Không tu tập Chân nhân các pháp.
          Xem Sắc là tự ngã, là ta
Tự ngã có sắc, nghĩ ra
Sắc trong tự ngã, thật là chẳng thông.
          Xem tự ngã là trong sắc đó,
          Hoặc xem thọ là tự ngã này,
              Xem  tự ngã có thọ đây,
Thọ trong tự ngã, như vầy nghĩ ngay
Tự ngã này là trong thọ  ấy.
          Xem tưởng đấy là tự ngã thôi,
              Xem tự ngã có tưởng rồi,
Tưởng trong tự ngã, đồng thời nghĩ ra,
          Xem tự ngã đó là trong tưởng.
          Xem hành là tự ngã  ở đây,
Tự ngã là có hành này, 
Hành trong tự ngã, ngã đây trong hành.
          Nghĩ thoáng nhanh : Thức là tự ngã,
          Xem tự ngã là có thức đây,
              Xem thức trong tự ngã này,
Tự ngã có thức, như vầy hiểu qua.
 
          Hiền-giả Vi-Sa-Kha ! Chính đó  
          Là ‘thân kiến’(1), giải rõ như vầy ”.
 
        – “ Thưa Sư Ni ! Xin trình bày 
      ‘Không phải thân kiến’ hiểu ngay thế nào ? ”.    
 
    – “ Này Hiền-giả ! Thanh cao gìn giữ,
          Đa văn Thánh đệ tử vị này
           ( Tâm luôn nghiêm tịnh thẳng ngay )
     ____________________________
 
(1) : Thân kiến – Sakkaya-ditthi  : một trong 10 kiết sử trói buộc .
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH – 105
 
       Đi đến yết kiến các ngài Thánh nhân (1),
          Thuần thục các pháp phần bậc Thánh,
          Tu tập pháp bậc Thánh chánh chân.
              Yết kiến các bậc Chân nhân (1),  
       Thuần thục pháp bậc Chân nhân các phần,
          Thường tu tập Chân nhân các pháp,   
Không xem sắc là tự ngã này.
Không xem tự ngã ở đây
       Chúng là có sắc. Sắc này cũng không
          Phải ở trong tự ngã như vậy,
Tự ngã ấy không trong sắc này.
 
Thọ không là tự ngã đây,  
Tự ngã không có thọ này, được xem,
          Cũng không xem thọ trong tự ngã,
          Và tự ngã không trong thọ này.
 
Tưởng không là tự ngã đây,
Không xem tự ngã có ngay tưởng liền,
Không xem tưởng là trong tự ngã,
          Và tự ngã không trong tưởng đây.    
 
Hành không là tự ngã này,  
Không xem tự ngã có ngay các hành,
Không xem hành là trong tự ngã,
          Và tự ngã không trong các hành.
 
Thức không là tự ngã đây, 
Không xem tự ngã có ngay thức rồi
Không xem thức là trong tự ngã,
          Và tự ngã không trong thức đây.
              Hiền-giả Vi-Sa-Kha này !
     ____________________________
(1) : Bậc Thánh nhân – Ariyasàvaka . Bậc Chân nhân : Suppurisa. 
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH – 106
 
      ‘Không có thân kiến’ như vầy trải qua ”.  
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Sao là Thánh đạo
          Có tám ngành an hảo ra sao ? ”.
 
        – “ Hiền-giả ! Con đường thanh cao
       Tám ngành, được kể trước sau tức thì :
          Bắt đầu là Chánh-tri-kiến ấy,
          Chánh-tư-duy, lại chánh-ngữ đây,
              Chánh-nghiệp, chánh-mạng rõ ngay,
       Chánh-tinh-tấn, chánh niệm này kể sang,
          Rồi chánh-định – vẹn toàn Bát Chánh ”.
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Bát Thánh Đạo ni
              Là hữu vi hay vô vi ? ”.
 
 – “ Hiền-giả ! Bát Thánh Đạo thì hữu vi ”.
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Giới, định, tuệ-uẩn
          Cả ba uẩn được Thánh Đạo ni
              Thâu nhiếp, hay ba uẩn thì
       Thâu nhiếp Thánh Đạo tám chi dần dà ? ”.
 
    – “ Hiền-giả Vi-Sa-Kha ! Phải rõ
          Ba uẩn đó không bị nhiếp thâu
              Bởi Thánh đạo tám ngành đâu !
       Thánh Đạo bị ba uẩn thâu nhiếp rồi.
          Chánh ngữ, chánh mạng, rồi chánh nghiệp
          Được thâu nhiếp trong Giới-uẩn phần,
              Tinh-tấn, chánh-định, niệm-chân
       Thâu nhiếp trong Định-uẩn nhân tức thì,
          Chánh-tư-duy và chánh-tri-kiến
          Bị Tuệ-uẩn thâu nhiếp cả vào ”.
 
( Định )
        – “ Thưa Sư Ni ! Định là sao ?
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH – 107
 
       Thế nào định-tướng, thế nào công phu
          Định-tư-cụ, định-tu-tập ấy ? ”.
 
    – “ Định như vậy là sự nhất tâm
              Bốn niệm xứ (1): ‘định-tướng’ phần.
      ‘Định-tư-cụ’ : Bốn tinh cần (1) này đây.
          Sự tu tập, sự hay luyện tập,
          Tái tu tập của những pháp này
         Là ‘định-tu-tập’ ở đây.
       Cả ba định ấy sâu dày thanh cao ”.
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Có bao Hành vậy ? ”.
 
    – “ Hiền-giả ! Có ba loại về ‘hành’:
              Thân hành, khẩu hành, tâm hành ”.
 
 – “ Thế nào thân, khẩu, tâm hành ở đây ? ”.
 
     – “ Hiền-giả này ! Thở vô, ra giữ
          Là thân hành. Tầm, tứ : khẩu hành.
              Tưởng và thọ là tâm hành ”.
 
 – “ Thở vô, ra là thân hành, vì sao ?
          Khẩu hành sao gọi là tầm, sát  (2)?
          Sao tưởng, thọ là các tâm hành ? ”.
 
        – “ Hiền-giả ! Hơi thở an lành
       Thở vô, ra đó đã đành về thân,
          Những pháp này với thân lệ thuộc,
  Thở vô, ra là thuộc thân hành.
 
              Trước, phải tầm, tứ phát sanh
       Mới phát lời nói, định danh vấn đề,
     ____________________________
(1) : Tứ Niệm Xứ  – Catu Satipatthàna  –  và Tứ Chánh Cần – Catu
   Patthàna  –  8 trong 37 Phẩm Trợ Đạo (hay 37 Pháp Trợ Bồ Đề).
(2) Trong 5 chi Thiền : Tầm – Vitakka  và Tứ  – Vicàra ; thì Vicàra
   còn được dịch là Sát  ( Tầm, Sát, Phỉ lạc, An lạc, Định ) .
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH –108
 
   Nên tầm, tứ thuộc về khẩu đó.
 
          Tưởng và thọ, tâm sở ..vân..vân..
              Các pháp này lệ thuộc tâm
       Nên tưởng và thọ thuộc tâm hành này ”.
 
( Diệt định )
 
      – “ Thưa Sư Ni ! ‘Diệt thọ tưởng định’
          Thế nào chứng nhập định như vầy ? ”. 
 
        – “ Hiền-giả Vi-Sa-Kha này !
       Tỷ Kheo tu tập thẳng ngay, tinh cần
          Chứng nhập phần ‘Diệt thọ tưởng định’,
          Không hề nghĩ, suy tính như vầy :
             ‘Tôi sẽ chứng nhập thẳng ngay
       Diệt thọ tưởng định’ ở đây dễ dàng’.
          Hoặc suy nghĩ : ‘Tôi đang chứng nhập’,
          Hay : ‘Tôi đã chứng nhập định này’.
              Vì rằng tâm của vị đây
       Đã được tu tập như vầy trước đây
          Nên có ngay trạng thái như vậy ”.
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Vị ấy tinh cần
             ‘Diệt thọ tưởng định’ chứng phần,
       Pháp gì diệt trước ? Khẩu, thân, tâm hành ? ”.
 
     – “ Này Hiền-giả ! Khẩu hành diệt trước,
          Thân, tâm hành sẽ được diệt sau ”.
 
        – “ Xin thưa ! Xuất khởi thế nào 
      ‘Diệt thọ tưởng định’ đuôi đầu trải qua ? ”.
 
     – “ Hiền-giả Vi-Sa-Kha ! Phải rõ
          Tỷ Kheo đó đã xuất khởi ngay
             ‘Diệt thọ tưởng định’ như vầy,
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH – 109
 
       Không nghĩ : ‘Tôi khởi định ngay bây giờ’,
         ‘Tôi sẽ chờ xuất khởi ‘Diệt thọ
          Tưởng định’ đó, hay tôi đã chuyên
              Khởi ‘Diệt thọ tưởng định’ liền’.
       Vì vị ấy đã tu chuyên như vầy,
          Nên đưa ngay đến trạng thái ấy ”.
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Như vậy Tỷ Kheo
              Diệt thọ tưởng định khởi theo
       Những pháp nào trước, hay đều khởi ra ? ”.
 
    – “ Hiền-giả Vi-Sa-Kha ! Phải biết
          Xuất khởi ‘Diệt thọ tưởng định’ yên,
             ‘Tâm hành’ khởi lên trước tiên
       Đến thân hành, khẩu hành liền khởi sau ”.
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Xúc nào cảm giác
          Khi Tỷ Kheo tự tác khởi ngay
              Diệt thọ tưởng định ở đây ? ”.
 
 – “ Hiền-giả ! Ba cảm giác này có ra :
         ‘Vô-tướng’ và ‘Không’, ‘Vô-nguyện-xúc ”.
 
     – “ Thưa Sư Ni ! Tiếp tục cần chuyên,
              Khi Tỷ Kheo xuất khởi liền
       Diệt thọ tưởng định, tâm thiên về gì ?
          Hướng về gì ? Về gì khuynh hướng ? ”.
 
 
    – “ Hiền-giả ! Diệt thọ tưởng định chuyên
              Khi Tỷ Kheo xuất khởi liền
       Diệt thọ tưởng định, tâm thiên hướng về
          Khuynh hướng về ‘độc cư’ điều đó ”.
 
( Thọ )
 
     – “ Sư Ni ! Bao nhiêu thọ có đây ? ”.
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH –110
 
        – “ Hiền-giả ! Có ba thọ này :
      ‘Lạc thọ’, ‘khổ thọ’ như vầy trải qua
          Thọ thứ ba ‘bất khổ bất lạc ”. 
 
     – “ Sư Ni ! Thế nào các thọ này ? ”.
 
         – “ Này Hiền-giả ! Phàm ở đây
       Được cảm thọ bởi thân này hay tâmiền-giả Hiềngia3HH     
          Một cách thầm khoái cảm, khoái lạc
   Gọi là ‘lạc-thọ’ ấy trải qua.
              Này Hiền-giả Vi-Sa-Kha !
       Được cảm thọ bởi thân và tâm đây
          Một cách đầy gian lao, đau khổ
          Gọi là ‘khổ-thọ’ khuấy tâm, thân.
              Cái gì cảm thọ bởi thân,
       Hay cảm thọ bởi tâm phần ở đây,
          Không đau khổ, không rày an lạc
          Là ‘bất khổ bất lạc thọ’ đây ”. 
 
        – ‘ Thưa Sư Ni ! Lạc-thọ này
       Cái gì là lạc ? Khổ đây cái gì ?
 
          Với khổ-thọ, cái gì khổ thế ?
          Và đại để cái gì lạc đây ?
 
              Bất-khổ-bất-lạc-thọ này
    Thì cái gì lạc, khổ đây cái gì ? ”.
 
    – “ Này Hiền-giả ! Đối vì thọ lạc
          Cái gì ‘trú’ là lạc, vui yên,
    Cái gì ‘biến hoại’ khổ liền.
 
       Đối với khổ thọ, ‘trú’ liền khổ nguy,
  Còn cái gì ‘biến hoại’ là lạc.
 
          Với bất khổ bất lạc thọ này
              Có ‘trí’ là lạc, vui thay !
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH – 111
 
      ‘Vô trí’ là khổ, như vầy tường tri ”.
 
( Tùy miên )
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Trong lạc thọ ấy
          Tùy miên gì tồn tại tức thì ?
              Trong khổ thọ, tùy miên gì ?
       Bất khổ bất lạc có tùy miên chi ? ”.
 
     – “ Này Hiền-giả ! ‘Tham tùy miên’ đó
   Tồn tại trong lạc thọ, ở yên.
              Khổ thọ có ‘Sân tùy miên’.
       Bất khổ bất lạc thọ chuyên chú liền
          Có ‘Vô minh tùy miên’ tồn tại ”.
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Có phải điều đây :
              Trong tất cả lạc thọ này
       Tham-tùy-miên tồn tại hoài hay sao ?
          Khổ thọ nào Sân đều tồn tại ?
          Hay trong mọi bất khổ & lạc đây
              Vô-minh-tùy-miên có hoài ? ”.
 
 – “ Hiền-giả ! Không phải có hoài liên miên,
         ‘Tham tùy miên’ , ‘Sân’ & ‘Vô minh’ đó
          Trong lạc thọ hay khổ thọ đây,
              Bất khổ bất lạc thọ này
       Các pháp ấy không có hoài tùy miên ”.
 
    – “ Thưa Sư Ni ! Trước tiên lạc thọ
          Cái gì phải từ bỏ, gạt đi ?
              Khổ thọ phải từ bỏ chi ?
       Bất khổ bất lạc cái gì bỏ ngay ? ”.
 
     – “ Hiền-giả này ! Trong phần lạc thọ
          Tham tùy miên phải bỏ tức thì.
              Khổ thọ, Sân phải bỏ đi.
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH – 112
 
       Bất khổ bất lạc bỏ tùy Vô minh ”.
 
     – “ Thưa Sư Ni ! Thật tình có phải
          Trong tất cả lạc thọ hiện tiền
              Phải từ bỏ ‘Tham tùy miên’ ?
       Khổ thọ phải bỏ ‘tùy miên sân’ liền ?
          Còn ‘vô minh tùy miên’ phải bỏ
          Trong tất cả bất khổ & lạc đây ? ”.
 
        – “ Hiền-giả Vi-Sa-Kha này !
       Không phải tất cả thọ đây phải liền
          Từ bỏ hết tùy miên ‘tham’, ‘hận’
  Cùng ‘vô minh’ bỏ hẳn như vầy.
              Vị Tỷ Kheo ấy đạt ngay
       Ly dục, bất thiện pháp đây ly liền,
          Chứng, an trú vào Thiền thứ nhất,
          Trạng thái thật hỷ lạc âm thầm
              Do ly dục ; có tứ, tầm,
       Tham được từ bỏ, mống mầm dứt yên,
          Không còn ‘tham tùy miên’ tồn tại.
 
          Tỷ Kheo lại suy tư như vầy :
             ‘Chắc chắn ta sẽ chứng qua
       An trú trong trú xứ mà hiện nay
          Các bậc Thánh ở đây an trú’.
          Vì muốn tự phát nguyện đến ngay
              Cảnh giải thoát vô thượng này,
       Do ước nguyện đó, khởi đầy ưu tư,
          Do vậy, sân được từ bỏ hẳn
          Không tồn tại ‘sân hận tùy miên’. 
 
              Rồi vị Tỷ Kheo cần chuyên
       Diệt hỷ ưu, cảm thọ liền trước đây
          Chứng, trú ngay vảo Thiền đệ tứ
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH –113
 
          Không khổ & lạc, không giữ niệm gì,
              Nên vô minh từ bỏ đi
       Không còn có ‘vô minh tùy miên’ đây ”.
 
( Đối tác )
 
    – “ Thưa Sư Ni !  như vầy lạc & khổ 
          Các thọ đó lấy gì tương đương ?
              Bất khổ bất lạc thọ thường
       Đã lấy gì làm tương đương như vầy ? ”.
 
     – “ Hiền-giả ! Ở đây lạc thọ
          Lấy ‘khổ thọ’ để làm tương đương.
  Khổ thọ lấy ‘lạc’ tương đương.
       Bất khổ bất lạc thọ tương đương gì ?
         ‘Vô minh’ thì tương đương với nó.
          Vô minh đó lấy ‘minh’ tương đương.
              Minh lấy ‘giải thoát’ tương đương.
       Giải thoát thì lấy Niết Bàn tương đương ”.
 
     – “ Thưa Sư Ni ! Luận thường như vậy
          Niết Bàn ấy tương đương với gì ? ”.
 
        – “ Hiền-giả ! Với câu hỏi ni 
       Vượt ngoài giới hạn phạm vi trả lời
          Với phạm hạnh là nơi thể nhập
          Vào Niết Bàn, để gấp vượt sang,
       Để đạt cứu cánh Niết Bàn.
       Nếu Hiền-giả muốn rõ ràng hiểu hơn,
          Hãy đến chỗ Thế Tôn đang ngụ
          Hỏi đầy đủ ý nghĩa thâm sâu
              Thế Tôn chỉ dạy thế nào
       Thọ trì như vậy thanh cao lời Ngài ”.
 
Trung Bộ (Tập 2) Tiểu K. 44 : PHƯƠNG QUẢNG  * MLH –114
 
( Kết luận )
 
          Vi-Sa-Kha lòng đầy hoan hỷ
          Tín thọ lời  của vị Thánh Ni
              Rồi ông đứng dậy tức thì
       Đảnh lễ vị Tỷ Kheo Ni thuần hòa
          A-La-Hán Tham-Ma-Đin-Ná
          Thân hữu nhiễu, từ giả đi qua.
              Đến nơi, đảnh lễ Phật Đà
       Thuật lại câu chuyện xảy ra vừa rồi,
          Đã đàm đạo ở nơi trú xá
          Của Sư Ni Tham-Má-Đin-Na
              Khi nghe vậy, Đức Phật Đà
       Liền nói : “ Này Vi-Sa-Kha ! Rõ là
          Tỷ Kheo Ni Tham-Ma-Đin-Ná
          Là Trí-giả, Đại tuệ minh tri
              Nếu ông hỏi ý nghĩa, thì
       Ta cũng đáp giống Sư Ni trả lời,
          Hãy thọ trì ở nơi nghĩa ấy ”.
 
          Nghe Thế Tôn như vậy giảng qua
              Nam Cư-sĩ  Vi-Sa-Kha
       Hoan hỷ tín thọ gấm hoa lời Ngài ./-
 
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  (3L )
 
 
 
*
*     *
 
 
( Chấm dứt  Kinh số 44  :  Tiểu Kinh PHƯƠNG QUẢNG
CÙLAVEDALLA   Sutta  )
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2026(Xem: 3170)
Hôm nay Tháng Chạp hăm ba Táo quân khắp chốn gần xa về chầu Bớ khanh Bắc Đẩu Nam Tào Mau mau mở máy bắt đầu online Táo Quân dưới đó là ai Trẫm đây miễn lễ, trình ngay phương nào ? Trong năm Ất Tỵ ra sao Mà ta bị réo điên đầu điếc tai.
02/02/2026(Xem: 4322)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 4918)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 4010)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 4030)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 4222)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 3641)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 4187)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 3125)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 4244)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng