Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

16. Phẩm "Tán Đại Thừa" (Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu; Diễn đọc: Phật tử Quảng Tịnh; Lồng nhạc: Cư Sĩ Quảng Phước)

26/05/202009:50(Xem: 658)
16. Phẩm "Tán Đại Thừa" (Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu; Diễn đọc: Phật tử Quảng Tịnh; Lồng nhạc: Cư Sĩ Quảng Phước)

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thin Bu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***
 Buddha-316

PHẨM "TÁN ĐẠI THỪA"

Phần sau quyển 56 cho đến phần đầu quyển 61, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương với phẩm “Thắng Xuất” và “Đẳng Không”, quyển 07, Kinh MHBNBLM).

 
Biên Soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Phật tử Kim Phương Quảng Tịnh
Lồng nhạc: Phật tử Quảng Phước






 

Tóm lược:

 

1. Đoạn một:

(Phẩm “Tán Đại Thừa”, phần sau quyển 56 cho đến phần đầu quyển 57, Hội thứ I, ĐBN,

tương đương với phẩm “Thắng Xuất” quyển thứ 07, MHBNBLM).

 

Đại thừa, là tôn, là diệu vượt hơn tất cả thế gian, trời, người, A tu la v.v… Đại thừa như vậy ngang bằng với hư không. Ví như hư không trùm cả vô số vô lượng vô biên hữu tình. Đại thừa cũng vậy, bao trùm vô số vô lượng vô biên hữu tình. Lại như hư không, không lai (đến) không khứ (đi) không trụ khá thấy. Đại thừa cũng vậy, không lai không khứ không trụ khá thấy. Lại như hư không, ngằn (mé) trước, sau, giữa đều bất khả đắc. Đại thừa cũng vậy, ngằn trước, sau, giữa đều bất khả đắc. Ba đời bình đẳng, đầy đủ vô biên công đức, nên gọi tên Đại thừa!

Đại thừa như vậy là lục Ba-la-mật, là mười tám pháp không, là 37 pháp trợ đạo, là mười tám pháp Phật bất cộng, là Nhất thiết trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao. Thảy vô lượng vô biên công đức thù thắng như vậy đều là Đại thừa của Bồ tát.

Nếu dục giới, sắc giới và vô sắc giới là chơn thật chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả có, là chắc thật, thường hằng, không biến dịch, có thật tánh, thì Đại thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì dục, sắc và vô sắc giới chẳng phải là chơn thật mà là hư vọng, là điên đảo, là giả có, chẳng phải chắc thật, không thường hằng, biến dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Nếu sắc là chơn thật; thọ, tưởng, hành, thức là chơn thật chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả có, là chắc thật, thường hằng, không biến dịch, có thật tánh, thì Đại thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì ngũ uẩn chẳng phải là chơn thật mà là hư vọng, là điên đảo, là giả có, chẳng phải chắc thật, không thường hằng, biến dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

 

Nếu mười hai xứ, mười tám gii là chơn thật chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả có, là chắc thật, thường hằng, không biến dịch, có thật tánh, thì Đại thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì mười hai xứ, mười tám gii chẳng phải là chơn thật mà là hư vọng, là điên đảo, là giả có, chẳng phải chắc thật, không thường hằng, biến dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Nếu Tứ đế, mười hai duyên khởi là chơn thật chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả có, là chắc thật, thường hằng, không biến dịch, có thật tánh, thì Đại thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì Tứ Đế, Mười Hai Duyên khởi chẳng phải là chơn thật mà là hư vọng, là điên đảo, là giả có, chẳng phải chắc thật, không thường hằng, có biến dịch đổi dời, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Nếu chơn như, pháp giới, pháp tánh, thật tế…, là chơn thật chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả có, là chắc thật, thường hằng, không biến dịch, có thật tánh, thì Đại thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì chơn như, pháp giới, pháp tánh… chẳng phải là chơn thật mà là hư vọng, là điên đảo, là giả có, chẳng phải chắc thật, không thường hằng, có biến dịch đổi dời, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu bố thí Ba-la-mật có thật tánh, thì Đại thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu-la v.v...; nhưng vì bố thí Ba-la-mật chẳng phải có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian. Nếu tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật thật tánh, thì Đại thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu 18 pháp không, tam giải thoát môn, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, 18 pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí có thật tánh, thì Đại thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì 18 pháp không cho đến Nhất thiết tướng trí, không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác, đại Bồ tát, chư phật Chánh Đẳng Chánh Giác(1) có thật tánh, thì Đại thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, cho đến chư Phật Chánh Đẳng Chánh Giác không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu Kim cang dụ (2) của đại Bồ tát có thật tánh, thì Đại thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì Kim cang dụ của đại Bồ tát không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu các thứ trang nghiêm thân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác là 32 tướng đại sĩ và 80 vẻ đẹp phụ thuộc có thật tánh, thì oai quang diệu đức của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chẳng vượt hơn trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì các thứ trang nghiêm thân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác không thật tánh, nên oai quang diệu đức của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã quay xe pháp (3) có thật tánh, thời các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã quay xe pháp chẳng cực thanh tịnh, cũng chẳng phải tất cả thế gian, Sa môn, Bà la môn, Trời, Ma, Phạm thảy chẳng thể nào quay được.  Bởi các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã quay xe pháp không có thật tánh, nên các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã quay xe pháp rất cực thanh tịnh, tất cả thế gian, Sa môn, Bà la môn, Trời, Ma, Phạm thảy chẳng thể nào quay được.

Thiện Hiện! Nếu các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác quay xe diệu pháp hữu tình khắp nhờ có thật tánh, thời các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã quay xe pháp, chẳng thể khiến các loại hữu tình kia đối với cõi Vô dư y Niết bàn đã vào, đang vào, sẽ vào Niết bàn.  Bởi các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác quay xe diệu pháp hữu tình khắp nhờ không có thật tánh, nên các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã quay xe pháp, đều năng khiến được các loại hữu tình kia đối với cõi Vô dư y Niết bàn đã vào, đang vào, sẽ vào Niết bàn.

Thiện Hiện!  Do vì vô lượng nhân duyên như vậy thảy, nên nói Đại thừa vượt hơn tất cả thế gian, trời, người, A tu la, rất tôn rất diệu.

 Thích nghĩa cho đoạn một này:

(1). Tánh Nhơn pháp, Bát Nhơn pháp, Tu Đà Hoàn pháp, Tư Đà Hàm pháp, A Na Hàm pháp, A La Hán pháp, Bích Chi Phật pháp và Phật pháp: Ý muốn nói đến thập vị cộng (hay cọng) Tam thừa pháp từ Tánh Quán địa pháp cho đến Phật địa pháp (thập địa). Cách diễn tả có khác nhưng thực chất không khác. Đã thích nghĩa nhiều lần.

(2). Tập khí: Do tư tưởng, hành vi (đặc biệt là phiền não) của người ta nổi dậy hằng ngày, rồi huân tập (xông ướp) thành những thói quen, hơi hướng rơi rớt lại trong tâm gọi là tập khí, giống như để hương trong hộp, khi lấy hương ra rồi mà trong hộp vẫn còn mùi thơm. Nói cách nôm na là tất cả ý nghĩ và việc làm của chúng ta đều để lại trong ta những kinh nghiệm và thói quen, đó chính là Tập khí.

(3). Quay xe pháp hay còn gọi là Pháp luân: (法輪) Phạm: Dharmacakra. Pàli: Dhammacakka. Bánh xe pháp, ví dụ giáo pháp của đức Phật, có 3 nghĩa: 1- Tồi phá: Vì Phật pháp có công năng phá trừ tội ác của chúng sinh, giống như bánh xe báu của Chuyển luân Thánh vương có thể nghiền nát núi non nham thạch, cho nên ví dụ là Pháp luân. 2- Triển chuyển: Vì đức Phật nói pháp không dừng ở 1 người nào, cũng không vướng mắc ở 1 chỗ nào, giống như bánh xe quay mãi không dừng, cho nên gọi là Pháp luân. 3- Viên mãn: Vì giáo pháp do đức Phật nói đầy đủ không thiếu, giống như bánh xe tròn trịa, nên gọi là Pháp luân. Luận Đại trí độ quyển 25 (Đại 25, 245 thượng) nói: Đức Phật quay bánh xe pháp, tất cả trời và người trong thế gian không bị trở ngại, không bị ngăn che (...) gặp được Pháp luân của Phật thì tất cả phiền não, tà kiến, nghi hối, độc hại thảy đều tiêu diệt. Pháp luân cũng gọi là Phạm luân, trong các kinh luận có nêu ra nhiều ý nghĩa khác nhau về từ ngữ này: 1- Phạm nghĩa là thanh tịnh, mà pháp của đức Phật nói cũng thanh tịnh, nên gọi Phạm luân. 2- Phật là đấng Đại phạm, Phật dùng Phạm âm để nói pháp, nên gọi Phạm luân. 3- Lúc đức Phật vừa mới thành đạo, Phạm thiên đến khuyến thỉnh Ngài chuyển pháp luân, vì thế gọi là Phạm luân. 4- Đức Phật dùng 4 tâm Phạm hạnh (4 tâm vô lượng): Từ, bi, hỉ, xả để tuyên thuyết đại pháp, cho nên gọi là Phạm luân. 5- Người Ấn độ thời xưa rất tôn quí Phạm thiên, vì tùy thuận thế gian, nên gọi là Phạm luân. Nhưng cũng có thuyết cho rằng giữa 2 từ Pháp luân và Phạm luân có ý nghĩa khác nhau: - Phạm luân chỉ dạy pháp Tứ vô lượng tâm và pháp Tứ thiền định của Thánh đạo thiền định. - Pháp luân chỉ dạy pháp Tứ thánh đế và 37 phẩm trợ đạo của Thánh đạo trí tuệ. Lại về tự tính của Pháp luân thì các bộ nói cũng đều khác nhau. Trong đó, 10 bộ như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Đa văn bộ, Kinh lượng bộ... chủ trương lấy Bát chính đạo làm thể của Pháp luân. Còn 10 bộ như: Đại chúng bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ... thì chủ trương lấy lời Phật nói làm thể của Pháp luân. Thuyết này được thấy trong luận Đại tì bà sa quyển 182, 183, luận Câu xá quyển 24, chương Tổng liệu giản trong Đại thừa nghĩa chương quyển 1, phần đầu và Kinh Đại bát niết bàn quyển 14 (bản Bắc). Hoa nghiêm kinh thám huyền ký quyển 3 thì lại dựa vào sự cạn sâu của thuyết Ngũ giáo mà bàn về thể tính bất đồng của Pháp luân, nghĩa là Tiểu thừa giáo lấy Bát chính đạo làm thể của Pháp luân; Thủy giáo lấy trí vô phân biệt làm thể của Pháp luân; Chung giáo lấy chân lý làm thể của Pháp luân; Đốn giáo lấy chỗ lí và trí đều bặt, lời và ý đều dứt làm thể của Pháp luân; còn Viên giáo thì lấy Vô tận pháp môn làm thể của Pháp luân. [X. luận Đại trí độ Q.8; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10]. (xt. Tượng Trưng, Chuyển Pháp Luân)- Phật Quang Từ điển. Đã thích nghĩa rồi, nhắc lại cho nhớ!

 

Sơ giản:

 

Đây là phẩm ca tụng đại thừa, kinh nói rằng: "Nếu dục giới, sắc giới và vô sắc giới là chơn thật chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả có, là chắc thật, thường hằng, không biến dịch, có thật tánh, thì Đại thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v...; nhưng vì dục, sắc và vô sắc giới chẳng phải là chơn thật mà là hư vọng, là điên đảo, là giả có, chẳng phải chắc thật, không thường hằng, biến dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian".

Sở dĩ, Đại thừa được tán tụng là tôn là diệu, vì rằng Đại thừa là chắc thật, thường hằng, là quảng đại vi diệu, là chân thiện mỹ. Còn ba cõi vô thường ngược lại luôn luôn biến dịch, đổi dời, hư vọng, điên đảo, giả có, chẳng thật. Nên nói Đại thừa hơn tất cả Trời, Người, A tu la... về mọi phương diện, nên được tán tụng là tôn là diệu.

Cũng vậy, nếu ngũ uẩn, mười hai xứ, mười tám gii là chơn thật chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả có, là chắc thật, thường hằng, không biến dịch, có thật tánh, thì Đại thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... Nhưng vì ngũ uẩn, mười hai xứ, mười tám gii ngược lại chẳng phải là chơn thật mà là hư vọng, là điên đảo, là giả có, chẳng phải chắc thật, không thường hằng, biến dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A tu la v.v... trong thế gian.

Nếu lục Ba-la-mật, Tứ đế... cho đến Phật mười lực có thật tánh, thời Đại thừa đây chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt tất cả thế gian, Trời, Người, A tu la v.v...  Bởi lục Ba-la-mật, Tứ đế... cho đến Nhất thiết trí trí không có thật tánh, nên Đại thừa đây là tôn là diệu, vượt hơn tất cả thế gian, Trời, Người, A tu la.  Nếu bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí thật có tánh, thời Đại thừa đây chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt tất cả thế gian, Trời, Người, A tu la.  Bởi lục Ba-la-mật. Tứ đế cho đến Nhất thiết tướng trí, không có thật tánh, nên Đại thừa đây là tôn là diệu, vượt hơn tất cả thế gian, Trời, Người, A tu la v.v...và v.v...

Tất cả những điều nói trên chứng tỏ Đại thừa là thường trụ chắc thật, chẳng biến dịch đổi dời, chẳng hư vọng điên đảo. Đại thừa là chân thật nghĩa. Nên nói Đại thừa là tối tôn, tối thắng, là quảng đại vi diệu không gì bằng. Vì vậy, phẩm này mới được gọi là "Tán hay Khen Đại Thừa".

 

2. Đoạn hai:

(Phần sau quyển 57 đến phần đầu quyển 61, phẩm “Tán Đại Thừa”, Hội thứ I, ĐBN

 tương đương với phẩm “Đẳng Không” quyển thứ 07, MHBNBLM).

 

1- So sánh Đại thừa với hư không:

 

Đại thừa ngang đồng với hư không. Vì sao? Vì hư không chẳng phải có ranh  giới, phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Tứ vi, Thượng Hạ có thể nắm bắt được, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải có phân ranh phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Tứ vi, Thượng Hạ có thể nắm bắt được, nên nói Đại thừa cùng đồng hư không.

Hư không chẳng phải có cái hình sắc dài ngắn, vuông tròn, cao thấp, cong ngay, có thể nắm bắt được, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải có cái hình sắc dài ngắn, vuông tròn, cao thấp, cong ngay, có thể nắm bắt được, nên nói Đại thừa cùng đồng hư không.

Hư không chẳng hiển sắc xanh, vàng, đỏ, trắng v.v... có thể nắm bắt được, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải có hiển sắc xanh, vàng, đỏ v.v... có thể nắm bắt được, nên nói Đại thừa cùng đồng hư không.

Lại nữa hư không chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, nên nói Đại thừa cùng đồng hư không; hư không chẳng phải tăng, chẳng phải giảm, chẳng phải tấn, chẳng phải thối, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải tăng, chẳng phải giảm, chẳng phải tấn, chẳng phải thối; hư không chẳng phải tạp nhiễm, chẳng phải thanh tịnh, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải tạp nhiễm, chẳng phải thanh tịnh; hư không chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải trụ, chẳng phải dị, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải trụ, chẳng phải dị, nên nói Đại thừa cùng đồng hư không.

 

2- Đại thừa không phải là nhị pháp:

 

Lại như hư không chẳng phải thiện, chẳng phải phi thiện, chẳng phải hữu ký, chẳng phải vô ký, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải thiện, chẳng phải phi thiện, chẳng phải hữu ký, chẳng phải vô ký; hư không chẳng phải kiến, chẳng phải văn, chẳng phải giác, chẳng phải tri, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải kiến, chẳng phải văn, chẳng phải giác, chẳng phải tri; hư không chẳng phải sở tri, chẳng phải sở đạt, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải sở tri, chẳng phải sở đạt; hư không chẳng phải biến tri, chẳng phải vĩnh đoạn, chẳng phải tác chứng, chẳng phải tu tập, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải biến tri (1), chẳng phải vĩnh đoạn (2), chẳng phải tác chứng, chẳng phải tu tập; hư không chẳng phải dị thục, chẳng phải có pháp dị thục, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải dị thục, chẳng phải có pháp dị thục; hư không chẳng phải có pháp tham, chẳng phải có pháp ly tham, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải có pháp tham, chẳng phải có pháp ly tham, nên nói Đại thừa cùng đồng hư không.

Lại như hư không chẳng phải có pháp sân, pháp si, chẳng phải có pháp ly sân, ly si, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải có pháp sân, pháp si, chẳng phải có pháp ly sân, ly si, nên nói Đại thừa cùng đồng hư không.

Lại như hư không chẳng phải đọa Dục giới, chẳng phải đọa Sắc giới, chẳng phải đọa Vô sắc giới, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải đọa Dục giới, chẳng phải đọa Sắc giới, chẳng phải đọa Vô sắc giới; hư không chẳng phải có bậc sơ phát tâm, có thể nắm bắt được, cho đến chẳng phải có bậc thứ mười phát tâm (ý nói thập địa Bồ tát), có thể nắm bắt được, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải có bậc sơ phát tâm, có thể nắm bắt được, cho đến chẳng phải có bậc thứ mười phát tâm, có thể nắm bắt được; hư không chẳng phải có bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc giác, bậc Bồ tát, bậc Như Lai (thập vị cộng Tam thừa), có thể nắm bắt được, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải có bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai có thể nắm bắt được; hư không chẳng phải có Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, A la hán hướng, A la hán quả, Độc giác hướng, Độc giác quả, Bồ tát, Như Lai có thể nắm bắt được, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải có Dự lưu hướng, Dự lưu quả cho đến Bồ tát, Như Lai có thể nắm bắt được.

Lại như hư không chẳng phải hữu sắc, chẳng phải vô sắc, chẳng phải hữu kiến, chẳng phải vô kiến, chẳng phải hữu đối, chẳng phải vô đối, chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải hữu sắc, chẳng phải vô sắc, chẳng phải hữu kiến, chẳng phải vô kiến, chẳng phải hữu đối, chẳng phải vô đối, chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng; hư không chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, chẳng phải lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải ngã, chẳng phải vô ngã, chẳng phải tịnh, chẳng phải bất tịnh, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, chẳng phải lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải ngã, chẳng phải vô ngã, chẳng phải tịnh, chẳng phải bất tịnh; hư không chẳng phải không, chẳng phải bất không, chẳng phải hữu tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải hữu nguyện, chẳng phải vô nguyện, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải không, chẳng phải bất không, chẳng phải hữu tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải hữu nguyện, chẳng phải vô nguyện; hư không chẳng phải tịch tịnh, chẳng phải bất tịch tịnh, chẳng phải viễn ly, chẳng phải bất viễn ly, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải tịch tịnh, chẳng phải bất tịch tịnh, chẳng phải viễn ly, chẳng phải bất viễn ly; hư không chẳng phải sáng, chẳng phải tối, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải sáng, chẳng phải tối, nên nói Đại thừa cùng đồng hư không.

Lại như hư không chẳng phải có thể nắm bắt được, chẳng phải chẳng có thể nắm bắt được, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải có thể nắm bắt được, chẳng phải chẳng có thể nắm bắt được; hư không chẳng phải khả thuyết, chẳng phải bất khả thuyết, Đại thừa cũng vậy, chẳng phải khả thuyết, chẳng phải bất khả thuyết.

Do vô lượng nhân duyên như vậy, nên nói Đại thừa cùng đồng hư không.

 

3- Tánh cách vô sở hữu của các pháp:

 

Vì hữu tình không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Vì hữu tình, hư không, Đại thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Vì ngã không có sở hữu, nên hữu tình cũng không có sở hữu. Vì hữu tình không có sở hữu, nên dòng sinh mạng cũng không có sở hữu. Vì dòng sinh mạng không có sở hữu, nên cho đến cái thấy cũng không có sở hữu. Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên chơn như cũng không có sở hữu. Vì chơn như không có sở hữu, nên pháp giới cũng không có sở hữu. Vì pháp giới không có sở hữu, nên pháp tánh cũng không có sở hữu. Vì pháp tánh không có sở hữu, nên bình đẳng tánh, ly sanh tánh, cảnh giới bất tư nghì… vô sở hữu. Vì cảnh giới bất tư nghì vô sở hữu, nên cảnh giới hư không cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới hư không không có sở hữu, nên cảnh giới đoạn, cảnh giới ly, cảnh giới diệt, cảnh giới vô tánh, cảnh giới vô tướng, cảnh giới vô tác, cảnh giới vô vi, cảnh giới an ổn, cảnh giới tịch tịnh, pháp định, pháp trụ, bổn vô, thật tế cũng không có sở hữu. Vì thật tế không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại thừa cũng không có sở hữu.

Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên sắc cũng không có sở hữu. Vì sắc không có sở hữu, nên thọ cũng không có sở hữu. Vì thọ tưởng hành thức vô sở hữu, nên mười hai xứ, mười tám gii không có sở hữu. Vì mười hai xứ, mười tám gii vô sở hữu, nên tứ thiền bất định, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao vô sở hữu. Vì quả vị Giác ngộ tối cao vô sở hữu, nên hư không cũng vô sở hữu. Vì hư không vô sở hữu, nên Đại thừa cũng vô sở hữu. Vì Đại thừa vô sở hữu, nên vô số cũng vô sở hữu. Vì vô số vô sở hữu, nên vô lượng cũng vô sở hữu. Vì vô lượng vô sở hữu, nên vô biên cũng vô sở hữu. Vì vô biên vô sở hữu, nên tất cả pháp cũng vô sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Thanh văn thừa, Độc giác thừa, Chánh đẳng giác thừa, hoặc hư không, Đại thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Nên biết, như cảnh giới Niết bàn có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại thừa cũng vậy, có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình.

Do nhân duyên này, cho nên nói: Thí như hư không có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại thừa cũng vậy có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình.

 

4- Tánh cách bất khả đắc của các pháp:

 

Tất cả pháp không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Vì tất cả pháp hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Tất cả pháp Phật không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của tất cả pháp Phật cũng không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của tất cả pháp Phật không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của tất cả pháp Phật không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì tất cả pháp Phật và bản tánh chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Cũng như vậy, hữu vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; vô vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của hữu vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của vô vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của hữu vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của vô vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của hữu vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của vô vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của hữu vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của vô vi không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Vì hữu vi, vô vi và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Cho nên nói Đại thừa không đến, không đi, không trụ, có thể thấy, giống như hư không. (Q.59, ĐBN)

 

5- Tam tế bất khả đắc:

 

Đời trước, đời sau, đời giữa đều chẳng thể nắm bắt được, Đại thừa cũng vậy, đời trước, đời sau, đời giữa đều chẳng thể nắm bắt được, vì ba đời đều bình đẳng, nên gọi là Đại thừa. Vì đời quá khứ tức là cái không của đời quá khứ, đời vị lai tức là cái không của đời vị lai, đời hiện tại tức là cái không của đời hiện tại, tánh bình đẳng ba đời tức là cái không của tánh bình đẳng ba đời, tánh Đại thừa tức là cái không của tánh Đại thừa, tánh đại Bồ tát tức là cái không của tánh đại Bồ tát. Vì sao? Vì cái không không có tướng dị biệt một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười. Vì vậy, Đại thừa bình đẳng ba đời. Như vậy, trong Đại thừa, tướng bình đẳng, bất bình đẳng hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được; tướng tham, chẳng tham; tướng sân, chẳng sân; tướng si, chẳng si; tướng kiêu mạn, chẳng kiêu mạn hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được. Như vậy, cho đến tướng thiện, phi thiện; tướng hữu ký, vô ký; tướng hữu lậu, vô lậu; tướng hữu tội, vô tội; tướng hữu nhiễm, ly nhiễm; tướng thế gian, xuất thế gian; tướng tạp nhiễm, thanh tịnh; tướng sanh tử, Niết bàn; tướng thường, vô thường; tướng lạc, khổ; tướng ngã, vô ngã; tướng tịnh, bất tịnh; tướng tịch tịnh, bất tịch tịnh; tướng viễn ly, bất viễn ly; tướng Dục giới, ra khỏi Dục giới; tướng Sắc giới, ra khỏi Sắc giới; tướng Vô sắc giới, ra khỏi Vô sắc giới hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong Đại thừa, tự tánh của các pháp, chẳng thể nắm bắt được.

 

6- Tánh không cũng không; trong cái không, cái không cũng chẳng thể nắm bắt được:

 

Sắc quá khứ tức là cái không của sắc quá khứ; sắc vị lai tức là cái không của sắc vị lai; sắc hiện tại tức là cái không của sắc hiện tại; thọ, tưởng, hành, thức quá khứ tức là cái không của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ; thọ, tưởng, hành, thức vị lai tức là cái không của thọ, tưởng, hành, thức vị lai; thọ, tưởng, hành, thức hiện tại tức là cái không của thọ, tưởng, hành, thức hiện tại. Vì sao? Vì trong cái không, sắc quá khứ, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì sắc quá khứ tức là không, tánh không cũng không; trong cái không, cái không còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái không, có sắc quá khứ, có thể nắm bắt được!

Trong cái không, sắc vị lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì sắc vị lai tức là không; tánh không cũng không; trong cái không, cái không còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái không, có sắc vị lai có thể nắm bắt được!

Trong cái không, sắc hiện tại chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì sắc hiện tại tức là không; tánh không cũng không; trong cái không, cái không còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái không, có sắc hiện tại có thể nắm bắt được!

Trong cái không, sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì sắc quá khứ, vị lai, hiện tại tức là không; tánh không cũng không; trong cái không, cái không còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái không, có sắc quá khứ, vị lai, hiện tại có thể nắm bắt được! Trong cái không, thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tại chẳng thể nắm bắt được, cũng lại như thế.

Tất cả pháp Phật cũng lại như thế: Trong cái không, tất cả pháp Phật quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tất cả pháp Phật quá khứ, vị lai, hiện tại tức là không; tánh không cũng không; trong cái không, cái không còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái không, có tất cả pháp Phật quá khứ, vị lai, hiện tại, có thể nắm bắt được. Vì ngã, hữu tình cho đến cái biết, cái thấy, chẳng thể nắm bắt được.

 

7- Bình đẳng ba đời cũng bất khả đắc:

 

Sắc đời trước, sắc đời sau, sắc đời giữa, chẳng thể nắm bắt được; trong cái bình đẳng của ba đời, sắc chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, sắc của quá khứ, vị lai, hiện tại, đều chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, tánh bình đẳng còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái bình đẳng, có sắc của quá khứ, vị lai, hiện tại, có thể nắm bắt được!

Thọ, tưởng, hành, thức đời trước, đời sau, đời giữa, chẳng thể nắm bắt được. Trong cái bình đẳng của ba đời, thọ, tưởng, hành, thức, cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, thọ, tưởng, hành, thức của quá khứ, vị lai, hiện tại, đều chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, tánh bình đẳng còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái bình đẳng, có thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tại, có thể nắm bắt được.

Tứ thiền, tứ định, tứ đế, thập nhị nhân duyên, ba mươi bảy pháp trợ đạo, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí đời trước, đời sau, đời giữa chẳng thể nắm bắt được. Trong cái bình đẳng của ba đời, tứ thiền tứ định cho đến Nhất thiết tướng trí, cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, tứ thiền tứ định cho đến Nhất thiết tướng trí quá khứ, vị lai, hiện tại, đều chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, tánh bình đẳng còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái bình đẳng, có bốn điều không sợ cho đến Nhất thiết tướng trí quá khứ, vị lai, hiện tại, có thể nắm bắt được.

Phàm phu đời trước, đời sau, đời giữa chẳng thể nắm bắt được. Trong cái bình đẳng của ba đời, phàm phu cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, phàm phu quá khứ, vị lai, hiện tại, đều chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, tánh bình đẳng còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái bình đẳng, có phàm phu quá khứ, vị lai, hiện tại, có thể nắm bắt được. Vì vậy ngã, hữu tình cho đến cái biết, cái thấy, chẳng thể nắm bắt được.

Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Như Lai đời trước, đời sau, đời giữa, chẳng thể nắm bắt được. Trong cái bình đẳng của ba đời, các quả vị đó, cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Như Lai quá khứ, vị lai, hiện tại, đều chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì trong cái bình đẳng, tánh bình đẳng còn chẳng thể nắm bắt được, huống gì trong cái bình đẳng, có Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, Như Lai quá khứ, vị lai, hiện tại, có thể nắm bắt được. Vì vậy ngã, hữu tình cho đến cái biết, cái thấy, chẳng thể nắm bắt được.

Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, an trụ trong tướng bình đẳng ba đời này, tinh cần tu học Nhất thiết trí trí, không thủ trước, nên mau được viên mãn. Đó gọi là tướng Đại thừa bình đẳng ba đời của đại Bồ tát. Nếu đại Bồ tát an trú trong tướng Đại thừa như vậy, thì vượt hơn tất cả trời, người, A Tu la v.v…, có khả năng mau chứng đắc Nhất thiết trí trí, lợi lạc hữu tình.

Thích nghĩa cho đoạn hai này:

(1). Biến tri: (遍知) Biết khắp tất cả. Phạm: Parijĩà. Vốn chỉ cho trí vô lậu hoàn toàn biết rõ đạo lý bốn đế; nếu người ta biết rõ suốt hết tất cả mọi hiện tượng chung quanh, thì có thể được trí vô lậu. Sau gọi cái trí biết rõ khắp tất cả ấy là Trí biến tri, và lại còn lập riêng Đoạn biến tri, nghĩa là Đoạn biến tri dùng Trí biến tri làm nhân mà đoạn trừ phiền não, lấy Trạch diệt làm thể. Đây là quả biến tri, cũng tức là cái quá trình dùng trí biết rõ khắp hết để đoạn trừ tất cả phiền não gọi là Biến tri, thông thường đặc biệt gọi là Biến tri sở duyên đoạn, ý nói thường tình người ta vốn bám dính vào cảnh sở duyên, nhưng nếu có thể giải thoát khỏi sự bám dính này một cách triệt để, thì đó chính là chân nghĩa biến tri. Bởi thế, Kinh A hàm nói Biến tri tức là sự diệt bỏ tham, sân, si, hơn nữa, từ biến tri đầu tiên hàm ý là thực tiễn. Luận Câu xá quyển 21, trong đoạn biến tri, lập ra chín biến tri, là chín loại trí dứt trừ Kiến hoặc và Tư hoặc. [X. luận Phẩm loại túc Q.6; luận A tỳ đạt ma phát trí Q.4; luận Đại tỳ bà sa Q.34, Q.186; Câu xá luận quang kí Q.21]. (xt. Cửu Biến Tri) - Phật Quang Từ điển.

(2). Vĩnh đoạn: 永斷; C: yŏngduàn; J: yōdan; Vĩnh viễn cắt đứt, thường nói đến sự cắt đứt phiền não. Theo Du-già sư địa luận, dạng nầy thù thắng hơn Phục đoạn (伏斷), là chỉ chặn đứng phiền não nhất thời. (Từ điển Đạo Uyển)

 

Lưu ý:

Thường thì chúng tôi chỉ lược giải những pháp môn khó khăn hay tư tưởng chính của phẩm cần lược giải mà thôi. Phần trùng tuyên hay kinh đã giải thích quá rõ thì không cần lặp lại nữa. Thí dụ như đoạn hai của phẩm "Tán Đại Thừa" này chúng tôi chỉ thích nghĩa, không cần lược giải, quý vị có thể đọc và tự tìm hiểu cũng được.

 

Lược giải:

 

Đại thừa được coi là cổ xe lớn chở tất cả chúng sinh từ bờ triền phược đến bờ giải thoát. Đại thừa dung thọ vô số vô biên chúng sanh giống như hư không. Đại thừa gồm thâu tất cả lục Ba-la-mật, 18 pháp không, tứ đế, 12 nhân duyên, 37 pháp trợ đạo, đại từ đại bi đại hỉ đại xả…cho đến Nhất thiết trí trí, nghĩa là gồm thâu tất cả pháp Phật. Đại thừa không dung chứa các pháp vô thường, biến hoại, điên đảo, hư vọng, phân biệt… Đại thừa là chân, là thường còn, chẳng biến hoại, chẳng hư vọng, chẳng điên đảo, không phân biệt… như hư không. Vì vậy, Đại thừa được xem là tôn, là diệu vượt qua các pháp thế gian.

Vì là cái nôi, là hậu cứ của chư Phật và Bồ tát, nơi phát xuất tất cả pháp lành thế gian, nơi ban phát lợi dưỡng cho toàn thể chúng sanh, nên Đại thừa được tán dương là quảng đại vi diệu, là tôn là thượng... không gì bằng ngang đồng với hư không!

 

Không thể tưởng tượng Đại thừa cũng như Bát nhã là vô tri, vô thức, trống rỗng như hư không? Nhưng trong cái rỗng không, vô tri, vô thức như vậy lại sanh ra vô vàn công đức trí tuệ không thể nghĩ bàn. Đó chính là cái khó hiểu của Đại thừa, của Bát nhã... Chính ở cái không thể tưởng tượng nổi lại có vô cùng quyền năng công đức trí tuệ gọi là "diệu hữu chân không" lại xây dựng được lâu đài trí tuệ của Viễn Đông này mà thế giới hằng ngưỡng mộ!

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn