Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

13. Phẩm “Ma Ha Tát” (Tổng Luận Kinh Đại Bát Nhã; Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên Lồng nhạc: Jordan Lê Quảng Thiện Hùng)

26/05/202009:22(Xem: 768)
13. Phẩm “Ma Ha Tát” (Tổng Luận Kinh Đại Bát Nhã; Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên Lồng nhạc: Jordan Lê Quảng Thiện Hùng)

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thin Bu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

Duc Phat

 

PHẨM “MA HA TÁT”

Quyển 47 đến phần đầu quyển 49, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương với phẩm “Kim Cương” quyển thứ 04, MHBNBLM)


Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Jordan Lê Quảng Thiện Hùng





 

 

Gợi ý:

 Phẩm “Ma Ha Tát” của kinh ĐBN do Ngài Huyền Trang dịch gồm 4 phẩm của kinh MHBNBLM gộp lại, như sau:

1. Phẩm”Kim Cang”;

2. Phẩm “Đoạn Chư Kiến”;

3. Phẩm “Phú Lâu Na” và

4. Phẩm “Thừa Đại Thừa”.

Vì phẩm "Ma Ha Tát" tương đương với 4 phẩm kể trên của Kinh MHBNBLM, nên để nắm vững phẩm "Ma Ha Tát" của Kinh ĐBN, chúng tôi cũng chia phẩm này làm bốn đoạn như sau:

 

Tóm lược:

 

1. Đoạn một:

 

(Đoạn kinh sau đây tương đương với phẩm “Kim Cang”,

quyển thứ 04, Kinh MHBNBLM)

 

Tại sao gọi Bồ tát là Ma Ha Tát? Là Bồ tát ở trong chúng đại hữu tình, sẽ là thượng thủ, nên gọi là Ma Ha Tát. Nhưng ai được gọi là những đại hữu tình? Đó là bậc trụ chủng tánh thứ tám(1), tánh địa nhơn, bát nhơn, Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật. Đó gọi là chúng đại hữu tình, Bồ tát ở trong chúng đại hữu tình như vậy, nhất định là thượng thủ, nên còn gọi là Ma Ha Tát. Đại Bồ tát này phát tâm Kim cang dụ(2), quyết chẳng thối hoại. Vì do tâm này, mà ở trong chúng đại hữu tình, nhất định được làm thượng thủ.

Nếu đại Bồ tát sanh tâm thế này: Ta phải mặc giáp mũ kiên cố, ở trong cánh đồng sanh tử mênh mông, đập phá vô lượng oán địch phiền não; ta phải làm khô cạn biển lớn sanh tử sâu rộng; ta phải xả bỏ tất cả gánh nặng về thân mạng, của cải trong ngoài; ta phải đem tâm bình đẳng làm việc lợi ích lớn cho tất cả hữu tình; ta phải dùng pháp ba thừa cứu độ tất cả hữu tình khiến họ nhập Niết bàn; tuy ta phải dùng pháp ba thừa khiến tất cả hữu tình được diệt độ, nhưng thật ra chẳng thấy có hữu tình nào được diệt độ; ta phải hiểu rõ như thật đối với tất cả pháp là vô sanh, vô diệt; ta nên chuyên thuần lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí mà tu hành sáu pháp Ba la mật; ta phải tu học tất cả pháp cho thông đạt rốt ráo, biến nhập diệu trí; ta sẽ phải tỏ thấu chư pháp nhất tướng trí môn(3), ta sẽ phải tỏ thấu nhẫn đến chư pháp vô lượng tướng trí môn; ta phải tu học dẫn phát pháp môn tịnh lự vô biên, pháp môn vô sắc vô lượng; ta phải tu học dẫn phát pháp ba mươi bảy Bồ đề phần, ba pháp môn giải thoát, sáu pháp môn đáo bỉ ngạn; ta phải tu học, dẫn phát vô biên pháp môn như năm loại mắt, sáu phép thần thông, Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Đây gọi là đại Bồ Tát phát sanh đại tâm chẳng hư hoại như kim cang.

Nếu đại Bồ tát lấy vô sở đắc làm phương tiện, an trụ trong đại tâm này chẳng tự ỷ lại mà sanh kiêu mạn thì ở trong chúng đại hữu tình, nhất định được làm thượng thủ.

Nếu đại Bồ tát sanh tâm thế này: Trong tất cả loài địa ngục, bàng sanh, quỷ giới, người, trời, các loài hữu tình nào chịu nhiều khổ não, ta phải chịu thay để họ được an lạc; nếu đại Bồ tát sanh tâm thế này: Ta phải vì một hữu tình mà trải qua vô lượng trăm ngàn vô số đại kiếp chịu các thống khổ kịch liệt trong các địa ngục, lần lượt như vậy, cứ mỗi hữu tình cho đến tất cả hữu tình, phải trải qua vô lượng trăm ngàn vô số đại kiếp, chịu những thống khổ vô vàn trong các địa ngục; và cũng vì từng hữu tình dùng vô số phương tiện giáo hóa, khiến chứng nhập được Niết bàn; làm việc này rồi, tự trồng căn lành, lại trải qua vô lượng trăm ngàn vô số đại kiếp, hoàn thành tư lương để tu tập Bồ đề, sau đó mới chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Như vậy gọi là tâm Kim cang dụ của đại Bồ tát.

Nếu đại Bồ tát lấy vô sở đắc làm phương tiện, an trú trong tâm này, cũng chẳng tự ỷ lại mà sanh kiêu mạn, thì ở trong chúng đại hữu tình, nhất định được làm thượng thủ.

Nếu đại Bồ tát sanh tâm thế này: Từ sơ phát tâm cho đến khi chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, trong khoảng thời gian này, ta thề chẳng khởi tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm phẫn (giận), tâm hận (hờn), tâm phú (che dấu), tâm não (buồn buồn), tâm cuống (dối),tâm siểm (bợ đỡ), tâm tật (tật đố, ganh ghét), tâm san (bỏn xẻn), tâm kiêu (kiêu căng), tâm hại (tổn hại) v.v... cũng chẳng khởi tâm hướng đến bậc Thanh văn, Độc giác. Đó chính là tâm thù thắng quảng đại của đại Bồ tát.

Nếu đại Bồ tát lấy vô sở đắc làm phương tiện, an trú trong tâm này cũng chẳng ỷ lại mà sanh kiêu mạn, thì ở trong chúng đại hữu tình, nhất định được làm thượng thủ.

Nếu đại Bồ tát sanh tâm thế này: Ta phải cùng tận đời vị lai, đối với tất cả hữu tình, làm chỗ nương, làm chiếc cầu, làm con thuyền, làm bờ bến, làm hải đảo, cứu giúp, che chở họ, thường chẳng xa lìa. Chính tâm đó gọi là tâm lợi ích an lạc của đại Bồ tát.

Nếu đại Bồ tát, lấy vô sở đắc làm phương tiện, an trú trong tâm này, cũng chẳng tự ỷ lại mà sanh kiêu mạn, thì ở trong chúng đại hữu tình, nhất định được làm thượng thủ.

Nếu đại Bồ tát này, khi tu hành Bát Nhã, thường hay thích pháp, ưa pháp, vui mừng với pháp, hoan hỷ với pháp. Do vì duyên này nên ở trong chúng đại hữu tình nhất định được làm thượng thủ.

Nói là thích pháp, nghĩa là đối với pháp ấy, khởi lên sự ham muốn mong mỏi, tìm cầu; nói là ưa pháp, nghĩa là đối với pháp ấy, khen ngợi công đức; nói là vui mừng với pháp, nghĩa là đối với pháp ấy vui mừng, tin tưởng, thọ trì; nói là hoan hỷ với pháp, nghĩa là đối với pháp ấy hâm mộ và hết lòng tu tập. Vì do tâm này, mà ở trong chúng đại hữu tình, nhất định được làm thượng thủ.

Vì đại Bồ tát này, khi tu hành Bát Nhã, lấy vô sở đắc làm phương tiện, an trụ trong 18 pháp không, an trú trong bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí...(tất cả các thiện pháp), nên được ở trong chúng đại hữu tình, nhất định được làm thượng thủ.

Vì đại Bồ tát này, khi tu hành Bát Nhã, lấy vô sở đắc làm phương tiện, an trú trong Tam ma địa Kim cang dụ, lấy vô sở đắc làm phương tiện, an trú trong Tam ma địa vô trước, vô vi, vô nhiễm, giải thoát như hư không, nên ở trong chúng đại hữu tình, nhất định được làm thượng thủ. Vì vậy, nên Bồ tát được gọi là Ma ha tát.

Thích nghĩa cho đoạn một này:

 (1). Chủng tánh thứ tám nằm trong Quyết định chúng hay Quyết định chủng tánh. Tùy theo kinh mà phân loại các chủng tính khác nhau như Kinh Nhân vương Bát Nhã quyển thượng lập thuyết ba chủng tính, tức là Tập chủng tính, Tính chủng tính, Đạo chủng tính, theo thứ tự có thể phối với mười tín tâm, mười trụ tâm và mười kiên tâm trong giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa. Lại Kinh Bồ tát Anh lạc bản nghiệp quyển thượng, lập sáu chủng tính là: Tập chủng tính, Tính chủng tính, Đạo chủng tính, Thánh chủng tính, Đẳng giác chủng tính, và Diệu giác chủng tính, theo thứ tự, có thể phối với mười trụ, mười hành, mười hồi hướng, mười địa, Đẳng giác và Diệu giác. Trong đây, trừ tính Diệu giác (tức giai vị Phật), còn năm tính kia gọi chung là năm chủng tính. Ngoài ra, Kinh Đại tập, quyển 8 cũng nêu lên mười chủng tính là: 1- Tính phàm phu. 2- Tính tín hành. 3- Tính pháp hành. 4- Tính tám nhẫn. 5- Tính Tu đà hoàn. 6- Tính Tư đà hàm. 7- Tính A na hàm. 8- Tính A la hán. 9- Tính Bích chi Phật. 10- Tính Phật chủng.

Nếu nói chung về Quyết định chúng, thì có 10 giai vị Ba thừa là: Càn tuệ địa (còn gọi Tịnh quán địa: Nghĩa là địa vị này chỉ có tuệ chứ chưa có định, tương đương với giai vị Tam hiền của Thanh văn và Giai vị của Bồ tát từ Sơ phát tâm cho đến trước khi được Thuận nhẫn), Tính địa (cũng gọi Chủng tính địa, Chủng địa: Tức địa vị tương đương với giai vị Tứ thiện căn của Thanh văn và giai vị Thuận nhẫn của Bồ tát, tuy đắm trước thực tướng các pháp, nhưng không sinh tà kiến, đầy đủ trí tuệ và thiền định), Bát nhân địa (cũng gọi Đệ bát địa, Bát địa. Nhân nghĩa là nhẫn. Tương đương với 15 tâm kiến đạo của Thanh văn và vô sinh pháp nhẫn của Bồ tát), Kiến địa (cũng gọi Cụ kiến địa: Tương đương với quả Tu đà hoàn của Thanh văn và địa vị A bệ bạt trí (bất thoái chuyển của Bồ tát), Bạc địa (cũng gọi Nhu nhuyến địa, Vi dục địa: Tức giai vị đã đoạn trừ 1 phẩm (tùy theo kinh, có kinh như Pháp Hoa Huyền Nghĩa, quyển 4 hạ và Ma Ha Chỉ Quán, quyển 6 thượng nói là trừ 6 phẩm) trong 9 phẩm Tư hoặc (phiền não) ở cõi Dục, tức quả Tư đà hàm. Cũng chỉ cho địa vị Bồ tát đã đoạn trừ các phiền não, nhưng vẫn còn các tập khí mỏng (bạc), tức địa vị từ A bệ bạt trí trở lên cho đến trước quả Phật), Ly dục địa (cũng gọi Ly tham địa: Tức giai vị Thanh văn đoạn hết phiền não cõi Dục được quả A na hàm và địa vị Bồ tát lìa dục được 5 thần thông), Dĩ tác địa (cũng gọi Sở tác biện địa, Dĩ biện địa: Tức địa vị Thanh văn được tận trí, vô sinh trí chứng đắc A la hán quả, hoặc Bồ tát thành tựu Phật địa), Bích chi Phật địa (Duyên giác quán xét 12 nhân duyên mà thành đạo), Bồ tát địa (Chỉ cho các địa vị từ Càn tuệ địa cho đến Li dục địa đã nói ở trên, hoặc chỉ cho Bồ tát thập địa từ Hoan hỉ địa cho đến Pháp vân địa), Phật địa (Chỉ cho địa vị hoàn toàn đầy đủ các pháp của chư Phật như Nhất thiết chủng trí...) - Phỏng theo Từ điển Phật Quang.

Lưu ý: Nhưng nếu chỉ đề cập bậc Chủng tánh thứ tám không thôi, thì Kinh ĐBN chỉ liệt kê: Tánh địa nhơn, bát nhơn, Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật. Thích nghĩa trên rất khó nhớ, tuy nhiên đọc đi đọc lại nhiều lần tự nhiên sẽ thuộc. Đó là lý do, tại sao chúng tôi thường lặp lại một số thích nghĩa. Thích nghĩa này đã ghi trong phẩm " Học Quán ",  quyển 03 cho đến đầu quyển 04, Hội thứ I, ĐBN rồi!

(2). Tâm Kim cang dụ: Tâm cứng chắc như kim cương có nghĩa là không thể lay động, biến đổi, thoái hoại. Tâm này sắc bén, bất hoại như kim cương, có thể cắt đứt tất cả phiền não câu sanh, những lậu hoặc vi tế tương tục. Kinh có giải thích bên dưới, nên không cần phải dài dòng!

(3). Nhất tướng trí (一相智)môn: Trí tuệ chứng ngộ thực tướng các pháp. Luận Đại Trí Độ, quyển 6 (Đại 25, 107 trung) nói: Tướng của các pháp đều là thực tướng, không hề chướng ngại. Dùng phương tiện ấy giáo hóa các đệ tử để thâm nhập Nhất tướng trí, gọi là Nhất tướng trí môn (Từ điển Phật Quang).

 

Lược giải:

(cho riêng đoạn một)

 

Ma Ha Tát nói trọn là Ma Ha Tát Đỏa, Hán dịch là đại hữu tình, đại chúng sanh, từ gọi chung chỉ cho bậc Bồ tát hay Đại sĩ. Ma Ha Tát tức là bậc có nguyện đại, hạnh đại, độ chúng sinh đại, là bậc tối thượng trong thế gian, do chúng sanh, vì chúng sanh, bởi chúng sanh mà xả thân cứu độ, không sợ gian khổ, không hề mệt mỏi quên cả bản thân mình, quên cả thời gian, quên cả kiếp số. Các bậc ấy không bao giờ lui sụt đại bi tâm cho nên gọi là Ma Ha Tát.

Tất cả những gì đem lại tốt đẹp cho đời vượt hơn những chúng đại hữu tình khác nên được gọi là thượng thủ. Vì vậy, Bồ tát phải có tâm quảng đại thù thắng, tâm lợi ích an lạc cho toàn thể chúng sanh, nghĩa là đối với tất cả hữu tình, làm chỗ quay về, làm chỗ nương, làm chiếc cầu, làm con thuyền, làm bờ bến, làm hòn đảo, cứu giúp, che chở họ, thường chẳng xa lìa. Cho nên, ở trong chúng đại chúng, nhất định được làm thượng thủ, mới được xưng tán là Ma ha tát.

Thiết nghĩ, Kinh đã diễn tả quá rõ ràng không cần phải thêm thắt nữa, vô ích!

 

2. Đoạn hai:

 

(Đoạn kinh này là phần phát biểu của Ngài Xá lợi Phất và Tư Bồ Đề:

"Tại sao Bồ tát được gọi là Ma ha tát?", trích dẫn nguyên văn từ phẩm

“Đoạn Chư Kiến”, quyển thứ 04, kinh MHBNBLM).

 

Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Con cũng muốn nói sở dĩ Bồ Tát được gọi là Ma ha tát”.

Đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: "Ông cứ nói".

Ngài Xá Lợi Phất nói: "Ngã kiến, thọ kiến, mạng kiến, chúng sanh kiến, sanh kiến, dưỡng dục kiến, chúng số kiến, nhơn kiến, tác kiến, sử tác kiến, khởi kiến, sử khởi kiến, thọ kiến, sử thọ kiến, tri giả kiến, kiến giả kiến, đoạn kiến, thường kiến, hữu kiến, vô kiến, ấm kiến, nhập kiến, giới kiến, đế kiến, nhơn duyên kiến, niệm xứ kiến, nhẫn đến bất cộng pháp kiến, Phật đạo kiến, thành tựu chúng sanh kiến, tịnh Phật quốc độ kiến, Phật kiến, chuyển pháp luân kiến.

Vì dứt trừ những kiến chấp trên đây mà vì mọi người thuyết pháp nên Bồ Tát được gọi là Ma ha tát”.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: "Duyên cớ gì mà sắc kiến là vọng kiến(1)? Duyên cớ gì thọ, tưởng, hành, thức kiến nhẫn đến chuyển pháp luân kiến là vọng kiến?"

Ngài Xá Lợi Phất nói: "Lúc thực hành Bát Nhã Ba-la-mật, vì không phương tiện nên Bồ Tát ở nơi sắc sanh kiến chấp, ở nơi thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến chuyển pháp luân sanh kiến chấp, vì pháp dụng (dùng pháp) có sở đắc vậy.

Nơi đây đại Bồ Tát thực hành Bát Nhã Ba-la-mật dùng sức phương tiện mà vì họ thuyết pháp để dứt trừ những vọng kiến, vì pháp dụng vô sở đắc vậy"

Ngài Tu Bồ Đề bạch đức Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Con cũng muốn nói sở dĩ mà Bồ Tát được gọi là Ma ha tát”.

Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: "Ông cứ nói”.

Ngài Tu Bồ Đề nói: "Tâm Vô thượng Bồ đề, tâm vô đẳng đây chẳng cùng chung(2) với tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật. Tại sao? Vì đây là tâm Nhất thiết trí vô lậu chẳng hệ phược(3). Cũng chẳng chấp trước trong tâm Nhất thiết trí vô lậu chẳng hệ phược đây. Do duyên cớ nầy mà Bồ Tát được gọi là Ma ha tát”.

Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Những gì là tâm vô đẳng đẳng của đại Bồ Tát chẳng cùng chung với tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật?"

Ngài Tu Bồ Đề nói: "Đại Bồ Tát từ lúc sơ phát tâm trở đi trọn không thấy một pháp nào có sanh, có diệt, có cấu, có tịnh, có tăng, có giảm. Nếu đã là pháp chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng tăng, chẳng giảm, thời trong đó không tâm Thanh Văn, không tâm Bích Chi Phật, không tâm Vô thượng Bồ đề, không Phật tâm. Đây gọi là tâm vô đẳng đẳng của đại Bồ Tát chẳng cùng chung với tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật”.

Ngài Xá Lợi Phất nói: "Như lời Ngài Tu Bồ Đề nói, trong tâm Nhất thiết trí vô lậu chẳng hệ phược đây cũng chẳng chấp trước.

Này Ngài Tu Bồ Đề! Sắc cũng chẳng chấp trước, thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng chấp trước, tứ niệm xứ nhẫn đến bất cộng pháp cũng chẳng chấp trước. Sao Ngài chỉ nói tâm đây chẳng chấp trước?"

Ngài Tu Bồ Đề nói: "Phải lắm! Sắc nhẫn đến pháp bất cộng cũng chẳng chấp trước”.

Ngài Xá Lợi Phất nói: "Tâm phàm phu cũng là vô lậu chẳng hệ phược, vì tánh rỗng không vậy. Tâm Thanh Văn, tâm Bích Chi Phật, tâm chư Phật cũng là vô lậu chẳng hệ phược, vì tánh rỗng không vậy”.

Ngài Tu Bồ Đề nói: "Phải lắm!"

Ngài Xá Lợi Phất nói: "Sắc cũng là vô lậu chẳng hệ phược, vì tánh không vậy. Thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến ý xúc, nhơn duyên, sanh thọ cũng là vô lậu chẳng hệ phược, vì tánh không vậy. Tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám pháp bất cộng cũng là vô lậu chẳng hệ phược, vì tánh không vậy”.

Ngài Tu Bồ Đề nói: "Vâng! Như lời Ngài Xá Lợi Phất đã nói, tâm phàm phu nhẫn đến pháp bất cộng cũng là vô lậu chẳng hệ phược, vì tánh không vậy”.

Ngài Xá Lợi Phất nói: "Như lời Ngài Tu Bồ Đề đã nói, vì tâm là không nên chẳng chấp trước tâm.

Nầy Tu Bồ Đề! Vì sắc là không nên chẳng chấp trước sắc. Vì thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến ý xúc, sanh thọ là không nên chẳng chấp trước, thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến chẳng chấp trước ý xúc, sanh thọ. Vì tứ niệm xứ là không nhẫn đến bất cộng pháp là không nên chẳng chấp trước tứ niệm xứ, nhẫn đến chẳng chấp trước bất cộng pháp”.

Ngài Tu Bồ Đề nói: "Vâng, vì sắc là không nên trong sắc chẳng chấp trước. Nhẫn đến vì bất cộng pháp là không nên trong bất cộng pháp chẳng chấp trước.

Đại Bồ Tát lúc thực hành Bát Nhã Ba-la-mật dùng tâm Vô thượng Bồ đề, tâm vô đẳng đẳng chẳng cùng chung với tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật, cũng chẳng nghĩ nhớ có tâm vô đẳng đẳng này, vì pháp dụng vô sở hữu vậy. Do duyên cớ nầy mà Bồ Tát được gọi là Ma ha tát”. (4)

 

Thích nghĩa cho đoạn hai này:

(1). Vọng kiến (Phạm là vitatha): Chấp mê một cách phi lý như vọng kiến, vọng thức, vọng tâm, vọng niệm, vọng chấp, vọng tình v.v…

(2). Chẳng cùng chung với: Dịch từ chữ bất cộng với…

(3). Hệ phược (cũng gọi kiết phược hay kết phược): Chỉ cho thân tâm của chúng sanh bị các phiền não vọng tưởng hoặc những sự vật của thế giới bên ngoài ràng buộc mà mất tự do, mãi trôi lăn trong dòng sanh tử. Cứ theo kinh Chúng tập trong Trường A hàm, quyển 8, thì có 4 thứ phiền não trói buộc thân tâm của chúng sanh là: Tham dục, sân khuể, giới đạo và ngã kiến. Hệ phược trong phẩm nầy chính là các ngã kiến trói buộc. Đã thích nghĩa rồi!

(4). Đoạn kinh này trong phẩm "Đoạn Chư Kiến" của kinh MHBNBLM do Ngài La Thập tóm dịch, rất gọn, nên chúng tôi trích dẫn ở đây. Như nhiều lần lưu ý: Kinh MHBNBLM, Phật thuyết ở Hội thứ II do La Thập tóm dịch cũng được gọi là đại bản giống như Kinh ĐBN, chỉ khác ĐBN là Kinh MHBNBLM chỉ tóm lược có một Hội là Hội thứ II, trong khi Kinh ĐBN ghi trọn cả 16 Hội.

Quyển 411, phẩm "Đoạn Chư Kiến", Kinh ĐBN cũng có tư tưởng tương tự, tuy nhiên diễn tả dài dòng hơn.

 

Lược giải:

(cho riêng đoạn hai)

 

Khi trình bày một vấn đề gì, tức là đưa ra quan điểm hay ý kiến, thì ý kiến đó do cái thấy biết, nhận định của chính người đó. Khi nghe thì người đó được cái lợi là biết cả hai kiến: Của mình và của người khác. Ý kiến của mình tuy không nói ra, nhưng nhờ biết ý kiến của người khác, so sánh đối chiếu để tự sửa chữa cải thiện, nên có lợi còn hơn là nói ra đôi khi chỉ làm trò đùa cho kẻ khác. Vậy biết buông bỏ cái kiến của mình thì tiếp thu được cái hiểu biết khác ngoài mình. Nên nói im lặng là vàng. Đó là cái khó. Nhưng còn khó hơn nữa là bỏ ngoài cả ý kiến của mình và của người khác. Vì tất cả kiến đó chỉ do cóp nhặt, vay mượn từ bên ngoài mà danh từ chuyên môn gọi là hữu sư trí, cái trí phát sanh ra kiến do thâu lượm qua bao nhiêu đời từ trước khi cha mẹ sanh. Chỉ cái kiến phát sanh từ cần tu khổ tập ở giờ phút chứng ngộ, gọi là tri kiến (tri kiến là Phật trí nói theo Kinh Pháp Hoa). Đó là vô sư trí, nó không do ai chỉ dạy, nó xuất sanh từ huệ giác của chính mình, đó chính là gia bảo của nhà mình.

Cái thấy biết bằng thức là cái thấy biết phân hai, nên lúc nào cũng thiên lệch, nghiêng ngả. Thân kiến, biên kiến, kiến thủ…chính nó che mờ trí tuệ tánh giác của chính mình.

Nói chung, tất cả kiến dưới bất cứ hình thức nào dù là Phật đạo kiến, Phật kiến, chuyển pháp luân kiến… cũng trở thành “bệnh”. Vì vậy, kinh nói “dứt trừ những kiến chấp nầy mà vì mọi người thuyết pháp nên Bồ Tát được gọi là đại Bồ Tát”. Vì đại Bồ tát là hữu tình giác ngộ. Dứt bỏ văn tự ngôn thuyết, trực nhận bản tâm, không qua trung gian của kiến thức, tri thức của người khác. Có kiến là có chấp, nên sanh chướng. Đó là sở tri chướng, nên nói là bệnh. Nó cũng là một thứ phiền não, đi ngược với giải thoát và giác ngộ. Còn đối với Bồ tát khi giảng thuyết Bát Nhã nói lên ý kiến của mình thì sao?

Theo Bát Nhã là khi Bồ tát giảng thuyết, không phi các Ngài phát biểu một quan điểm nào đó của riêng mình, mà đó là do tác dụng của Bát Nhã. Kinh Tiểu Phẩm Bát Nhã mở đầu bằng nghi vấn về tư cách của Tu Bồ Đề khi Ngài giảng thuyết về Bát Nhã, Tu Bồ Đề xác định rằng không phải tự Ngài có khả năng giảng thuyết về ý nghĩa sâu xa của Bát Nhã, nhưng chính diệu dụng của Bát Nhã là như thế: Người nói là Không, người nghe cũng Không, tất cả đều Không, “giả tỉ có pháp nào cao hơn Niết bàn, tôi cũng gọi đó là không”.

Ngôn thuyết biện giải có tính cách bác học đòi hỏi tri thức phân tích, có phần trừu tượng, ý niệm… hơn là trực giác thông qua kinh nghiệm thực chứng của từng cá thể. Không ai cần lý luận hay phân biện để sống. Sống là “đói ăn mệt ngủ”, đó là đời sống vô công dụng hạnh, vô đạo hành, vô kiến, vô niệm, vô sở y…

Kinh Lăng Nghiêm nói:

 

“Tri kiến lập tri tức vô minh bổn.

    Tri kiến vô kiến tự tức Niết bàn”.

 

(Trên cái thấy mà lập thêm cái biết là gốc vô minh. Thấy mà không thấy tức

Niết bàn!)

 

Tâm kinh Bát Nhã Ba-la-mật nói "Vô trí diệc vô đắc". Vô trí là năng không, vô đắc là sở không. Năng không, sở cũng không. "Quá khứ tâm bất khả đắc, tương lai tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc", tâm tức tức tri giác đều không. Vạn pháp cũng không, do nhân duyên sanh, thể của chúng cũng không, trọn chẳng thể nắm bắt được là vô sở đắc. Cái để chứng, chỗ chứng (không gian), thời chứng (thời gian) cũng không thể được. Năng sở đều không, mảy trần chẳng nhiễm, nên tâm mới được rỗng rang tự tại.

 

1- Bích Nham Lục, tắc thứ 94, Niết Bàn kinh kể lại câu chuyện bọn người mù sờ voi rồi mỗi người đưa ra một ý kiến. Có ông Tăng dựa vào đó hỏi Ngưỡng Sơn: "Có người hỏi về thiền về đạo, Hòa Thượng bèn vẽ một vòng tròn rồi viết một chữ ‘bò’ trong ấy, ý của Hòa Thượng là như thế nào?" Ngưỡng Sơn nói: "Cái đó cũng chỉ là việc làm vớ vẩn mà thôi, nếu như ông hiểu ngay được nó không phải là từ bên ngoài mà đến. Nếu như ông không hiểu ngay được, nhất định là ông không thể hiểu đâu. Tôi thử hỏi ông điều này, các bậc tôn túc chỉ các nơi trên người ông nói cái gì là Phật tính? Ông xem nó là cái có nói hay cái im lặng? Hay là cái không nói mà cũng chẳng im lặng? Hay các ông coi rằng tất cả là nó hay tất cả đều không là nó? Nếu như các ông coi ngôn ngữ là nó thì các ông cũng giống như người mù nắm đuôi con voi. Nếu như các ông coi im lặng là nó thì các ông cũng giống như người mù rờ tai con voi. Nếu như các ông coi không phải ngôn ngữ hay không phải im lặng là nó thì các ông cũng giống như người mù rờ vòi voi. Nếu như các ông coi tất cả là nó thì các ông giống như người mù rờ bốn chân con voi. Nếu như các ông coi tất cả đều không phải là nó thì các ông vứt bỏ con voi mà rơi vào không kiến. Những gì mà những người mù này cảm thấy thì chỉ là cùng một con voi mà họ mô tả khác nhau mà thôi. Nếu như các ông muốn khá hơn thì đừng có rờ voi, đừng nói kiến văn giác tri là nó mà cũng đừng nói là không phải”.

 

Cũng cùng một con voi mà rờ đuôi thì bảo là cây chổi, rờ tai thì bảo là cây quạt, rờ chân thì bảo là cột đình... Thật "nhiều dấu vết đưa đến những nẻo đường sai khác". Cái thấy riêng rẽ sanh ra kiến chấp cục bộ, quên đi cái tổng thể, chính nó mới là chân. Vì vậy, Ngưỡng Sơn nói tốt hơn hết là "đừng rờ voi, đừng nói kiến văn giác tri là nó mà cũng đừng nói là không phải nó"!

 

2- Có người hỏi Ngài Hoàng Bá:

- Nay chính khi ngộ, Phật ở chỗ nào?

Sư đáp:

- Hỏi từ đâu đến? Biết từ đâu khởi? Nói nín động tịnh, tất cả đều là Phật sự, chỗ nào để tìm Phật? Không thể trên đầu lại thêm đầu(1), trên mỏ lại thêm mỏ. Chỉ chớ sinh kiến chấp, thì núi là núi, nước là nước, mặt trời mặt trăng, sao… thảy đều không ngoài tâm ông. Ba ngàn thế giới là tự thể của ông, chỗ nào có nhiều thứ? Ngoài tâm không có pháp, khắp thấy núi xanh, hư không, thế giới rõ ràng mà không bằng mảy lông sợi tóc cho ông hiểu biết. Nên nói: “Tất cả thanh sắc là mắt tuệ của Phật”.

 

Nhà Thiền nói: “Chạm mắt tức Bồ đề”. Tâm đã bặt niệm thì thấy cái gì cũng là ánh sáng, cái gì cũng trong suốt, rỗng không. Thiền sư Thiền Lão nói:

 

“Trúc biết hoa vàng đâu cảnh khác,

Trăng trong mây bạc lộ toàn chân”.

 

Không sanh kiến chấp thì núi là núi, sông là sông… Tâm bặt niệm thì trăng trong mây bạc hiện toàn chân. Đó chính là đoạn chư kiến! Cổ đức cũng nói: “Cuồng tâm chẳng nghỉ, nghỉ tức Bồ đề”.

Thích nghĩa cho phần lược giải này:

(1). Kinh điển nói: “Nhất niệm khởi, thiện ác phân”. Hiện tượng phân tâm ấy Thiền tông gọi là “Tâm thượng sanh tâm” (trên cái tâm nầy lại thêm một cái tâm). Cái tâm sau là niệm hoặc tư tưởng. Đó là cái thừa nên sanh mê mà chịu kh. Thiền tông hình dung hiện tượng phân hóa ấy bằng hình ảnh một cái đầu ghép trên một cái đầu (đầu thượng trước đầu). Tổ Vân Môn nói cụ thể là: “Đầu thượng trước đầu, tuyết thượng gia sương”. Trên cái đầu ghép thêm một cái đầu có nghĩa là mỗi người có cái suy tư riêng, bây giờ lại nhét thêm ý kiến khác vào nữa, cả hai ý kiến đánh nhau, chẳng tích sự gì, giống đỗ sương lên tuyết.

 

3. Đoạn ba:

 

(Đoạn kinh này là lời phát biểu của Ngài Mãn Từ Tử(1),

 tương đương với phẩm “Phú Lâu Na”, thuộc quyển thứ 04, MHBNBLM)

 

1- Thế nào là đại Bồ tát, vì lợi lạc hữu tình, nên mặc giáp bị đại công đức(2)?

 

Mãn Từ Tử phát biểu: “Các Bồ tát, vì muốn lợi lạc tất cả hữu tình, mặc giáp bị đại công đức, phát tâm hướng đến Đại thừa, y cứ Đại thừa, nên còn gọi là Ma ha tát”. Đại Bồ tát tu Bồ tát đạo chẳng vì một nhóm nhỏ hữu tình mà vì tất cả hữu tình được lợi lạc, nên tu Bồ tát đạo. Như vậy, gọi là đại Bồ tát vì muốn lợi lạc tất cả hữu tình mà mặc giáp bị đại công đức.

Đại Bồ tát, khi an trú sáu pháp Ba la mật, khi tu hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã chẳng vì một nhóm nhỏ hữu tình được lợi lạc, mà chính là vì tất cả hữu tình được lợi lạc, nên tu sáu pháp Ba la mật. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc tất cả hữu tình, nên mặc giáp bị đại công đức.

Đại Bồ tát mặc giáp bị đại công đức, lợi lạc hữu tình, chẳng hạn cuộc, nghĩa là chẳng nghĩ: Ta đã giáo hóa được số hữu tình như vậy khiến chứng đắc hoặc chẳng khiến chứng đắc Vô dư y Niết bàn. Ta đã giáo hóa số hữu tình như vậy, khiến an trú hoặc chẳng khiến được an trú quả vị Giác ngộ tối cao. Nhưng đại Bồ tát này, đều muốn tất cả hữu tình đều chứng đắc Vô dư y Niết bàn và an trú quả vị Giác ngộ tối cao, nên mặc giáp bị đại công đức như vậy.

Đại Bồ tát khởi lên ý nghĩ: Ta nên tự viên mãn bố thí Ba la mật, cũng giáo hóa cho tất cả hữu tình, đối với bố thí Ba la mật, tu hành khiến được viên mãn. Ta nên tự viên mãn tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã, cũng giáo hóa cho tất cả hữu tình, đối với tịnh giới cho đến Bát Nhã tu hành khiến được viên mãn. Ta nên tự an trú trong tất cả pháp Phật được viên mãn, cũng giáo hóa cho tất cả hữu tình, khiến được an trú trong tất cả pháp Phật được viên mãn.

Như vậy, gọi là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc tất cả hữu tình, nên mặc giáp bị đại công đức.

Các đại Bồ tát, khi tu hành bố thí Ba la mật, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí mà tu bố thí, lấy vô sở đắc mà làm phương tiện, cùng với tất cả hữu tình hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, đối với thân mạng v.v... đều không lẫn tiếc. Xá Lợi Tử! Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành bố thí, mặc giáp bị đại công đức bố thí Ba la mật.

Cũng vậy, nếu Bồ tát khi tu hành bố thí Ba la mật, đối với hạnh bố thí chẳng khởi ý nghĩ Thanh văn, Độc giác. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành bố thí, mặc giáp bị đại công đức tịnh giới Ba la mật.

Nếu Bồ tát khi tu hành hành bố thí Ba la mật, đối với pháp bố thí tin tưởng chịu đựng ưa thích, vui vẻ. Như vậy, gọi là các đại Bồ tát, khi tu hành bố thí, mặc giáp bị đại công đức an nhẫn Ba la mật.

Nếu Bồ tát khi tu hành hành bố thí Ba la mật, đối với hạnh bố thí, siêng năng tu hành không dừng nghỉ. Như vậy, gọi là các đại Bồ tát, khi tu hành bố thí, mặc giáp bị đại công đức tinh tấn Ba la mật.

Nếu Bồ tát khi tu hành hành bố thí Ba la mật, đối với hạnh bố thí, nhất tâm hướng về Nhất thiết trí trí, chẳng xen lẫn ý nghĩ Thanh văn, Độc giác. Như vậy, gọi là các đại Bồ tát, khi tu hành bố thí, mặc giáp bị đại công đức tịnh lự Ba la mật.

Nếu Bồ tát khi tu hành hành bố thí Ba la mật, đối với pháp bố thí, an trú trong tưởng như huyễn, như mộng, như ảnh tượng, như tiếng vang, như bóng sáng, như hoa đốm giữa hư không, như trò biến hóa, như ảo thành, không thấy người cho, kẻ nhận, vật cho. Như vậy, gọi là các đại Bồ tát, khi tu hành bố thí, mặc giáp bị đại công đức Bát Nhã Ba-la-mật.

Như vậy, các đại Bố tát ấy, khi tu hành bố thí Ba la mật, mặc áo giáp đại công đức, đầy đủ sáu phép Ba la mật. Đối với cái tướng của sáu phép Ba la mật, chẳng thủ đắc, chẳng đắm trước, thì nên biết đại Bồ tát ấy đã mặc giáp bị đại công đức.

Các đại Bồ tát, khi tu hành tịnh giới Ba la mật, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí mà tu tịnh giới, lấy vô sở đắc mà làm phương tiện, cùng với tất cả hữu tình hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, vì bảo hộ tịnh giới nên đối với các sở hữu, đều không luyến trước. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành tịnh giới, mặc giáp bị đại công đức bố thí Ba la mật.

Cũng vậy, nếu Bồ tát khi tu hành tịnh giới Ba la mật, đối với hạnh tịnh giới còn chẳng cầu đến Thanh văn, Độc giác, huống là địa vị phàm phu. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành tịnh giới, mặc giáp bị đại công đức tịnh giới Ba la mật.

Nếu Bồ tát khi tu hành hành tịnh giới Ba la mật, đối với pháp tịnh giới tin tưởng, chịu đựng ưa thích, vui vẻ. Như vậy, gọi là các đại Bồ tát, khi tu hành tịnh giới, mặc áo giáp đại công đức an nhẫn Ba la mật.

Nếu Bồ tát khi tu hành hành tịnh giới Ba la mật, đối với hạnh tịnh giới, siêng năng tu hành không dừng nghỉ. Như vậy, gọi là các đại Bồ tát, khi tu hành tịnh giới, mặc giáp bị đại công đức tinh tấn Ba la mật.

Nếu Bồ tát khi tu hành hành tịnh giới Ba la mật, đối với hạnh tịnh giới, chuyên lấy đại bi làm đầu, với nhị thừa, còn chẳng tác ý xen lẫn, huống là tâm phàm phu. Như vậy, gọi là các đại Bồ tát, khi tu hành tịnh giới, mặc giáp bị đại công đức tịnh lự Ba la mật.

Nếu Bồ tát khi tu hành hành tịnh giới Ba la mật, đối với pháp tịnh giới, an trú trong tưởng như huyễn, như mộng, như ảnh tượng, như tiếng vang, như bóng sáng, như hoa đóm trong hư không, như trò biến hóa, như ảo thành, đối với tịnh giới, chẳng ỷ lại, chẳng chấp trước, đối với việc ác phá giới, chẳng nhàm chán, chẳng chấp thủ, vì thọ trì cùng hủy phạm, bản tánh là không. Như vậy, gọi là các đại Bồ tát, khi tu hành tịnh giới, mặc giáp bị đại công đức Bát Nhã Ba-la-mật.

Như vậy, các đại Bố tát ấy, khi tu hành tịnh giới Ba la mật, mặc áo giáp đại công đức, đầy đủ sáu phép Ba la mật. Đối với cái tướng của sáu phép Ba la mật, chẳng thủ đắc, chẳng đắm trước, thì nên biết đại Bồ tát ấy đã mặc giáp bị đại công đức.

Các đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn Ba la mật, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí mà tu an nhẫn, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, vì thành tựu an nhẫn mà đối với thân mạng v.v... không có sự luyến trước. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn, mặc giáp bị đại công đức bố thí Ba la mật.

Cũng vậy, các đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn Ba la mật, đối với hạnh an nhẫn, chẳng tác ý xen tạp Thanh văn, Độc giác, phàm phu hạ liệt. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn, mặc giáp bị đại công đức tịnh giới Ba la mật.

Các đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn Ba la mật, đối với pháp an nhẫn, tin tưởng, chịu đựng ưa thích, vui vẻ. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn, mặc giáp bị đại công đức an nhẫn Ba la mật.

Lại nữa, các đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn Ba la mật, đối với hạnh an nhẫn, siêng năng tu hành chẳng dừng nghỉ. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn, mặc giáp bị đại công đức tinh tấn Ba la mật.

Lại nữa,  các đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn Ba la mật, nhiếp tâm vào một duyên tu hạnh an nhẫn, tuy gặp việc khổ mà chẳng đổi duyên khác. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn, mặc giáp bị đại công đức tịnh lự Ba la mật.

Các đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn Ba la mật, đối với pháp an nhẫn, an trú trong tưởng như huyễn, như mộng, như ảnh tượng, như tiếng vang, như bóng sáng, như hoa đóm giữa hư không, như trò biến hóa, như thành tầm hương, vì muốn tu tập tất cả Phật pháp, vì muốn thành thục tất cả hữu tình, quán các pháp là không, chẳng chấp oán hại. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành an nhẫn, mặc giáp bị đại công đức Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát ấy, khi tu hành an nhẫn Ba la mật, đã mặc giáp bị đại công đức đầy đủ sáu phép Ba la mật, nhưng đối với cái tướng của sáu phép Ba la mật, chẳng thủ đắc, chẳng chấp trước, thì nên biết đại Bồ tát ấy đã mặc giáp bị đại công đức.

Các đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn Ba la mật, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí mà tu tinh tấn, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, siêng tu các hạnh bố thí khó làm. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn, mặc giáp bị đại công đức bố thí Ba la mật.

Cũng vậy, các đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn Ba la mật, tinh cần hộ trì cấm giới thanh tịnh. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn, mặc giáp bị đại công đức tịnh giới Ba la mật.

Lại nữa, các đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn Ba la mật, siêng năng tu các hạnh an nhẫn khó làm. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn, mặc giáp bị đại công đức an nhẫn Ba la mật Ba la mật.

Các đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn Ba la mật, nhiệt thành, siêng năng tu khổ hạnh có lợi ích. Như vậy, gọi là đại Bố tát, khi tu hành tinh tấn, mặc áo giáp đại công đức tinh tấn Ba la mật.

Các đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn Ba la mật, siêng năng tu các thứ tịnh lự đẳng chí. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn, mặc giáp bị đại công đức tịnh lự Ba la mật.

Lại nữa, các đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn Ba la mật, tinh tấn tu hành trí tuệ không thủ trước. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành tinh tấn, mặc giáp bị đại công đức Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát ấy, khi tu hành tinh tấn Ba la mật, mặc áo giáp đại công đức đầy đủ sáu phép Ba la mật, đối với tướng của sáu phép Ba la mật, chẳng thủ đắc, chẳng chấp trước, thì nên biết đại Bồ tát ấy đã mặc giáp bị đại công đức.

Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí mà tu Bát Nhã, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ cao tột, chẳng thấy người cho, kẻ nhận, vật cho, ba luân thanh tịnh(3) mà hành bố thí. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, mặc giáp bị đại công đức bố thí Ba la mật.

Cũng vậy, các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng thấy trì giới và phá giới v.v... dùng tâm vô trước mà tu tịnh giới. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành tịnh lự, mặc giáp bị đại công đức tịnh giới Ba la mật.

Lại nữa, các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng thấy các việc năng nhẫn, sở nhẫn ... dùng không tuệ thù thắng mà tu an nhẫn. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, mặc giáp bị đại công đức an nhẫn Ba la mật. 

Lại nữa, các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, quán tất cả pháp rốt ráo đều không, dùng tâm đại bi mà hành tinh tấn. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, mặc giáp bị đại công đức tinh tấn Ba la mật.

Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, quán nhập, trú, xuất định và định cảnh đều rốt ráo không mà tu đẳng chí. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành tịnh lự, mặc giáp bị đại công đức tịnh lự Ba la mật.

Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, đối với tất cả pháp, tất cả hữu tình, tất cả Ba la mật, an trú tưởng như huyễn, như mộng, như ảnh tượng, như tiếng vang, như bóng sáng, như hoa đốm giữa hư không, như trò biến hóa, như ảo thành mà tu các thứ tuệ không thủ trước. Như vậy, gọi là đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, mặc giáp bị đại công đức Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát ấy, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, mặc giáp bị đại công đức đầy đủ sáu phép Ba la mật, đối với tướng của sáu phép Ba la mật, chẳng thủ đắc, chẳng chấp trước, thì nên biết đại Bồ tát ấy đã mặc giáp bị đại công đức.

Vì các Bồ tát do lợi lạc tất cả hữu tình, nên mặc các giáp bị đại công đức như vậy. Cho nên còn gọi là Ma ha tát.

Các đại Bồ Tát nầy được chư Phật mười phương hoan hỉ xưng danh giữa đại chúng ca ngợi rằng: Ở phương đó, trong thế giới đó, có đại Bồ tát tên như vậy, vì muốn lợi lạc tất cả hữu tình mặc giáp bị đại công đức, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật.

 

2- Thế nào gọi là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, mà phát tâm(4) hướng đến Đại thừa?

 

Lúc thực hành sáu Ba la mật, vì muốn lợi ích hữu tình, đại Bồ Tát xa lìa ái dục cùng những pháp ác bất thiện, ly sanh hỉ lạc hữu giác hữu quán nhập sơ thiền, nhẫn đến xả niệm thanh tịnh nhập tứ thiền. Lại nương thiền, khởi tâm tương ưng với từ, bi, hỷ, xả hành tướng quảng đại, vô nhị, vô lượng, vô oán, vô hại, vô hận, vô não, khéo tu cùng khắp, thắng giải tràn đầy mười phương tận cùng hư không, pháp giới. Nương vào gia hạnh này, lại vượt lên tất cả sắc tưởng, diệt trừ tưởng hữu đối, chẳng tư duy các thứ tưởng, nhập vào vô biên không, an trú trọn vẹn trong không vô biên xứ; vượt lên tất cả không vô biên xứ, nhập vào vô biên thức, an trú trọn vẹn trong thức vô biên xứ; vượt lên tất cả thức vô biên xứ, nhập vào vô sở hữu, an trú trọn vẹn trong vô sở hữu xứ; vượt lên tất cả vô sở hữu xứ, nhập vào phi tưởng, an trú trọn vẹn trong phi phi tưởng xứ. Đại Bồ tát ấy, lấy vô sở đắc làm phương tiện, phụng trì tịnh lự, vô lượng, vô sắc(5) này, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao. Đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc hữu tình, nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Các đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên trước hết tự an trú tịnh lự, vô lượng, vô sắc như vậy. Đối với các trạng thái hành tướng của nhập, trụ, xuất khéo phân biệt hiểu biết, được tự tại rồi, lại khởi lên ý nghĩ thế này:

- Ta lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và đại bi làm đầu, vì đoạn trừ phiền não của tất cả hữu tình mà nói các tịnh lự vô lượng, vô sắc, phân biệt, khai thị, khiến khéo hiểu rõ. Đó là đại Bồ tát nương vào tịnh lự Ba la mật, mà tu bố thí, vì muốn lợi lạc các hữu tình, mà phát tâm hướng đến Đại thừa.

- Nếu đại Bồ tát, khi nói các tịnh lự, vô lượng, vô sắc, chẳng bị các tâm Thanh văn, Độc giác làm gián tạp, thì đó là đại Bồ tát, nương vào tịnh lự Ba la mật để tu tịnh giới, vì muốn lợi lạc các hữu tình nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

- Nếu đại Bồ tát khi nói các tịnh lự, vô lượng, vô sắc, đối với pháp như vậy, tin tưởng, chịu đựng, ưa thích, thì đó gọi là đại Bồ tát nương vào tịnh lự Ba la mật mà tu an nhẫn, vì muốn lợi lạc các hữu tình nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

- Nếu đại Bồ tát khi tu các tịnh lự vô lượng, vô sắc, lấy thiện căn của mình, vì hữu tình mà hồi hướng cầu quả vị Giác ngộ tối cao, đối với các thiện căn siêng tu chẳng dừng nghỉ, thì đó gọi là đại Bồ tát nương tịnh lự Ba la mật mà tu tinh tấn, vì muốn lợi lạc các hữu tình nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

- Nếu đại Bồ tát nương các tịnh lự, vô lượng, vô sắc mà dẫn phát các định đẳng chí, đẳng trì, giải thoát, thắng xứ, biến xứ thù thắng, đối với sự nhập, trụ, xuất đều được tự tại, chẳng đọa vào các bậc Thanh văn, Độc giác. Đó là đại Bồ tát nương tịnh lự Ba la mật, tu hành tịnh lự, vì muốn lợi lạc hữu tình nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

- Nếu đại Bồ tát khi tu hành các tịnh lự, vô lượng, vô sắc, đối với các tịnh lự, vô lượng, vô sắc và các chi tịnh lự, lấy hành tướng vô thường, hành tướng khổ, hành tướng vô ngã, hành tướng không, hành tướng vô tướng, hành tướng vô nguyện, mà như thật quán sát, chẳng xả đại bi, chẳng đọa vào các bậc Thanh văn, Độc giác, thì đó là đại Bồ tát nương tịnh lự Ba la mật, tu Bát Nhã, vì muốn lợi lạc các hữu tình nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Nếu đại Bồ tát lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, nương tứ vô lượng, tứ vô sắc định tu sáu pháp Ba la mật để cứu độ chúng sanh, thì có thể nói các đại Bồ tát ấy vì muốn lợi lạc các hữu tình nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Nếu đại Bồ tát tu hành đầy đủ 37 pháp trợ đạo, tam giải thoát môn, tứ nhiếp pháp, năm loại mắt, sáu thần thông, Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm phương tiện, khởi lên mười tám trí, từ trí không nội cho đến trí không không tánh tự tánh, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, đối với tất cả pháp, khởi trí chẳng phải loạn, chẳng phải định, khởi lên trí chẳng phải thường, chẳng vô thường, trí chẳng vui, chẳng khổ, ngã hay vô ngã, tịnh hay chẳng tịnh, không hay chẳng không, hữu tướng hay vô tướng, hữu nguyện hay vô nguyện, tịch tịnh hay chẳng tịch tịnh, viễn ly hay chẳng viễn ly, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Lại nữa, nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, khởi lên trí chẳng biết pháp quá khứ, pháp vị lai, pháp hiện tại hay trí chẳng phải chẳng biết pháp ba đời; trí chẳng biết pháp thiện, phi thiện, vô ký hay cả ba trí; trí chẳng biết pháp Dục giới, Sắc giới, vô sắc giới hay chẳng phải chẳng biết pháp cả ba cõi; trí chẳng biết pháp học, pháp vô học, pháp chẳng phải học, chẳng phải vô học, chẳng phải chẳng biết pháp học, vô học, chẳng phải học, chẳng phải vô học; trí chẳng biết pháp kiến sở đoạn, pháp tu sở đoạn, pháp phi sở đoạn, chẳng phải chẳng biết cả ba trí, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm trí phương tiện, trí chẳng biết pháp thế gian, trí chẳng biết pháp xuất thế gian, trí chẳng phải chẳng biết pháp thế gian xuất thế gian, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm trí phương tiện, trí chẳng biết pháp sắc, trí chẳng biết pháp vô sắc, trí chẳng phải chẳng biết pháp sắc, vô sắc, trí chẳng biết pháp hữu kiến, trí chẳng biết pháp vô kiến, trí chẳng phải chẳng biết pháp hữu kiến, vô kiến, trí chẳng biết pháp hữu đối, trí chẳng biết pháp vô đối, trí chẳng phải chẳng biết pháp hữu đối, vô đối, trí chẳng biết pháp hữu lậu, trí chẳng biết pháp vô lậu, trí chẳng phải chẳng biết pháp hữu lậu, vô lậu, trí chẳng biết pháp hữu vi, trí chẳng biết pháp vô vi, trí chẳng phải chẳng biết pháp hữu vi, vô vi, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Vì các Bồ tát, do các phương tiện thiện xảo như vậy, vì muốn lợi lạc tất cả hữu tình, phát tâm hướng đến Đại thừa, nên còn gọi là Ma ha tát.

Các đại Bồ Tát nầy được chư Phật mười phương hoan hỉ xưng danh giữa đại chúng ca ngợi rằng: Ở phương đó, trong thế giới đó, có đại Bồ tát tên như vậy, vì muốn lợi lạc tất cả hữu tình mặc giáp bị đại công đức, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật.

Thích nghĩa cho đoạn ba này:

(1). Mãn Từ tử hay Phú Lâu Na còn gọi là Phú Lâu Na Di đa la ni tử. (Hán dịch: Mãn Từ tử, Mãn Chúc tử, Mãn Nguyện tử. Mãn là tên của Ngài, Từ là họ mẹ; vì lấy họ mẹ nên gọi là Mãn Từ tử. Di đa la là tên tộc của bà mẹ, có nghĩa là chúc, nguyện, vì thế gọi là Mãn Chúc tử, Mãn Nguyện tử): Một trong mười đại đệ tử của đức Phật, người Ca tì la vệ, con vị Quốc sư triều Vua Tịnh phạn, thuộc dòng Bà la môn. Ngài có dung mạo đoan chính, thông minh từ thủa nhỏ, am hiểu các luận Phệ đà, lớn lên Ngài cảm thấy chán thế tục, muốn tìm đường giải thoát, nên đầu Phật xuất gia thụ giới Cụ túc, sau đó chứng được quả A la hán. Ngài có biện tài thuyết pháp không ai bằng trừ Phật. Ngài xin Phật đến xứ Thâu lu na thuyết pháp độ sinh. Người xứ nầy có tiếng là hung bạo, nhưng Ngài hóa độ gần 10 vạn người, sau đó Ngài nhập Niết bàn tại xứ nầy.

(2). Mặc giáp bị đại công đức: Kinh MHBNBLM gọi là “đại thệ trang nghiêm” cũng gọi “hoằng thệ nguyện”: Thệ nguyện rộng lớn bao trùm khắp cả chúng sanh. Nguyện nghĩa của tiếng Phạm là mặc giáp lớn, tức là lập thệ nguyện rộng lớn cứu độ chúng sanh để thành tựu Vô thượng Bồ đề. Cụm từ "đại thệ nguyện trang nghiêm" diễn tả xác nghĩa và dễ hiểu hơn “mặc áo giáp lớn”.

(3). Ba luân thanh tịnh hay Tam luân thanh tịnh: Bố thí mà không thấy mình là người cho (cho mà thấy mình cho tức có chấp, có khoe là còn ngã tướng), không thấy kẻ nhận (phân biệt giàu nghèo, phân biệt thân sơ tức còn thấy tướng), không thấy vật cho (ít nhiều, xấu tốt nghĩa là không chấp tướng). Không thấy ba tướng đó thì tam luân thanh tịnh.

(4). Phát tâm đến Đại thừa: Bản dịch khác dùng từ “phát thú Đại thừa”, Kinh MHBNBLM dùng từ “phát xu Đại thừa”. Xu có nghĩa là xu hướng, hướng về; thú cũng có nghĩa là xu hướng, mục đích, tôn chỉ. Đó là hai từ Hán Việt, có nghĩa tương tự nhau, phát tâm hướng đến Đại thừa, tu sửa nghiệp của mình từ một địa vị đến một địa vị, cho công hạnh vuông tròn để hóa độ chúng sanh.

(5). Tịnh lự, vô lượng, vô sắc: Chỉ cho tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc.

 

Lược giải:

(cho riêng đoạn ba này)

 

Đoạn kinh này có hai ý:

1- Ý thứ nhất giải thích Bồ tát phải làm thế nào để được gọi là đại Bồ tát, vì lợi lạc hữu tình, nên mặc giáp bị công đức. Muốn thế Bồ tát phải học tất cả các pháp mầu Phật đạo, kế đó phải tinh luyện thuần thục sáu pháp đáo bỉ ngạn là bố thí, trì giới, an nhẫn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Bồ tát không những tự mình tu tập mà còn giáo hóa các hữu tình tu tập tất cả pháp môn trên.

Không phải học một môn mà được một môn, một môn đã học thuần thục rồi sẽ hỗ trợ các môn khác. Bố thí là xả bỏ tự kỷ, là phá ngã. Xả bỏ và phá ngã là con đường tốt đưa đến tiết chế tư dục. Một khi tư dục đã được tiết chế, thúc liễm rồi thì dễ tu tịnh giới. Có tịnh giới mới có an nhẫn, có an nhẫn mới có tinh tấn. Nhờ đó mới có thể tịnh tu thiền định để phát triển tuệ. Đó là diễn trình hỗ tương sinh khởi trong sự tu tập nhưng với điều kiện là chẳng nên thủ trước.

Tự mình tu, tự mình chứng đạo thì phải biết mở đạo nhãn cho kẻ khác. Đó chính là đại Bồ tát mặc giáp bị công đức. Người làm được như vậy mới được gọi là đại Bồ tát Bồ tát Ma Ha Tát, Bồ đề Tát Đỏa.

2- Ý thứ hai giải thích thế nào gọi là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc hữu tình mà phát tâm hướng đến Đại thừa? "Nếu đại Bồ tát lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, tu đầy đủ các pháp mầu Phật đạo từ tứ thiền, tứ vô lượng, tứ vô sắc định, sáu pháp Ba la mật cho đến Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết chủng trí... để cứu độ chúng sanh, thì có thể nói các đại Bồ tát ấy vì muốn lợi lạc các hữu tình nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí, lấy đại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm phương tiện, khởi trí chẳng phải loạn, chẳng phải định, chẳng phải thường, chẳng vô thường, trí chẳng vui, chẳng khổ, ngã hay vô ngã, tịnh hay bất tịnh...; khởi lên trí chẳng biết pháp quá khứ, pháp vị lai, pháp hiện tại hay trí chẳng phải chẳng biết pháp ba đời; trí chẳng biết pháp thiện, phi thiện, vô ký hay cả ba trí; trí chẳng biết pháp Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới...; chẳng biết pháp thế gian xuất thế gian; trí chẳng biết pháp sắc vô sắc; trí chẳng biết pháp hữu kiến vô kiến; trí chẳng biết pháp hữu đối vô đối; trí chẳng biết pháp hữu lậu vô lậu; trí chẳng biết pháp hữu vi vô vi v.v... nghĩa là đừng dùng trí để phân biệt chấp trước, lấy vô sở đắc làm phương tiện, cùng tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị Giác ngộ tối cao, thì đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên phát tâm hướng đến Đại thừa.

Vì các Bồ tát, do các phương tiện thiện xảo như vậy, muốn lợi lạc tất cả hữu tình, phát tâm hướng đến Đại thừa, nên còn gọi là Ma ha tát".

 

4. Đoạn bốn:

 

(Phần cuối quyển 47 cho đến phần đầu quyển 49,

thuộc phẩm "Ma Ha Tát" của kinh ĐBN,

tức tương đương với phẩm "Thừa Đại Thừa"của kinh MHBNBLM)

 

Lúc bấy giờ, cụ thọ Xá Lợi Tử hỏi Phú Lâu Na: Tại sao, gọi là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình nên "nương" vào(1) Đại thừa?

Phú Lâu Na đáp: Xá Lợi Tử! Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, dùng vô sở đắc làm phương tiện, nương bố thí, chẳng thấy bố thí, chẳng thấy pháp bố thí, chẳng thấy có người cho, chẳng thấy có kẻ nhận, chẳng thấy có vật cho, chẳng thấy có pháp ngăn trở, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát nương bố thí Ba la mật.

Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, dùng vô sở đắc làm phương tiện, nương tịnh giới, chẳng thấy có tịnh giới, chẳng thấy pháp tịnh giới Ba la mật, chẳng thấy có người trì giới, chẳng thấy có kẻ phạm giới, chẳng thấy có pháp ngăn trở, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát nương tịnh giới Ba la mật.

Nếu đại Bồ tát, khi tu hành như trên, nương an nhẫn, chẳng thấy có an nhẫn, chẳng thấy pháp an nhẫn Ba la mật, chẳng thấy có người nhẫn, chẳng thấy có cảnh để nhẫn, chẳng thấy có pháp ngăn trở, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát nương an nhẫn Ba la mật.

Nếu đại Bồ tát, khi tu hành như trên, nương tinh tấn, chẳng thấy có tinh tấn, chẳng thấy pháp tinh tấn Ba la mật, chẳng thấy có người tinh tấn, chẳng thấy có kẻ giải đãi, chẳng thấy pháp ngăn trở, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát nương tinh tấn Ba la mật.

Nếu đại Bồ tát, khi tu hành như trên, nương tịnh lự, chẳng thấy có tịnh lự, chẳng thấy pháp tịnh lự Ba la mật, chẳng thấy có người tu định, chẳng thấy có kẻ tán loạn, chẳng thấy có cảnh giới định, chẳng thấy có pháp ngăn trở, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát nương tịnh lự Ba la mật.

Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, dùng vô sở đắc làm phương tiện, nương Bát Nhã, chẳng thấy Bát Nhã, chẳng thấy pháp Bát Nhã Ba-la-mật, chẳng thấy có người tu tuệ, chẳng thấy có kẻ ngu si, chẳng thấy pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng thấy pháp thiện, bất thiện, vô ký, chẳng thấy pháp dục giới, sắc giới, vô sắc giới, chẳng thấy pháp học, vô học, phi học, phi vô học, chẳng thấy pháp kiến sở đoạn, tu sở đoạn, phi sở đoạn, chẳng thấy pháp thế gian, xuất thế gian, chẳng thấy pháp sắc, vô sắc, chẳng thấy pháp hữu kiến vô kiến, chẳng thấy pháp hữu đối vô đối, chẳng thấy pháp hữu lậu vô lậu, chẳng thấy pháp hữu vi vô vi, chẳng thấy pháp bị ngăn trở, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát nương Bát Nhã Ba-la-mật

Xá Lợi Tử! Nên biết, đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên nương vào Đại thừa.

Lại nữa, Xá Lợi tử! Nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, dùng vô sở đắc làm phương tiện, tu bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, tu ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên nương vào Đại thừa.

Nếu đại Bồ tát lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, dùng vô sở đắc làm phương tiện, tu trí nội không, trí ngoại không, trí nội ngoại không, trí không không, trí đại không, trí thắng nghĩa không, trí hữu vi không, trí vô vi không, trí tất cánh không, trí vô tế không, trí tản không, trí vô biến dị không, trí bản tánh không, trí tự tướng không, trí cộng tướng không, trí nhất thiết pháp không, trí bất khả đắc không, trí vô tánh không, trí tự tánh không, trí vô tánh tự tánh không, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên nương vào Đại thừa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, dùng vô sở đắc làm phương tiện, quán sát như thật: Đại Bồ tát chỉ có giả danh, mượn lời nói để nói, vì Bồ đề(2) và Tát đỏa(3) đều chẳng thể nắm bắt được, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên nương vào Đại thừa.

Nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, dùng vô sở đắc làm phương tiện, quán sát như thật: Sắc chỉ có giả danh; mười hai xứ, mười tám gii chỉ có giả danh, mượn lời nói để nói, vì sắc, vì mười hai xứ, mười tám gii chẳng thể nắm bắt được, chỉ có giả danh, mượn lời nói để nói; vì mười hai xứ, mười tám gii, tứ thiền tứ định, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến quả vị Giác ngộ tối cao chỉ có giả danh, mượn lời nói để nói, chẳng thể nắm bắt được, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên nương vào Đại thừa.

Lại nữa, Xá Lợi tử! Nếu đại Bồ tát, lấy tâm tương ưng Nhất thiết trí trí và lấy đại bi làm đầu, dùng vô sở đắc làm phương tiện, từ khi mới phát tâm cho đến chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao, thường tu hoàn thành thần thông bất thối, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen chư Phật Thế Tôn, ở chỗ các đức Phật, nghe và thọ pháp tương ưng Đại thừa; đã nghe và thọ rồi, như lý tư duy, tinh tấn tu học, thì này Xá Lợi Tử, đó là đại Bồ tát, vì muốn lợi lạc các hữu tình, nên nương vào Đại thừa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ tát như vậy, an trú trong bậc bất nhị(4), quán các hữu tình, nên dùng thân nào để được lợi ích, thì liền hiện thọ ngay thân ấy để khiến hữu tình kia được lợi ích. Đại Bồ tát như vậy, cho đến khi chứng đắc Nhất thiết trí trí, tùy nơi sanh, chẳng lìa Đại thừa.

Nương Đại thừa nầy, đại Bồ Tát được Nhất thiết chủng trí chuyển pháp luân mà Thanh Văn, Bích Chi Phật và Thiên Long bát bộ đến tất cả người thế gian không thể chuyển được. Bấy giờ, chư Phật mười phương đều hoan hỉ xưng danh hiệu để ca ngợi rằng ở phương đó, quốc độ đó có đại Bồ Tát nương Đại thừa được Nhất thiết trí trí chuyển pháp luân.

Đây gọi là đại Bồ Tát nương Đại thừa, cũng còn gọi là Ma ha tát.

Thích nghĩa cho đoạn bốn này:

(1). “Nương vào Đại thừa”, “ngồi Đại thừa”, “cỡi Đại thừa”: Kinh MHBNBLM do HT Thích Trí Tịnh dịch là “ngồi”. Bản dịch cũ Kinh ĐBN do HT Thích Trí Nghiêm dịch lại dùng từ “cỡi” Đại thừa. Bản dịch mới cửu soát bản dịch cũ lại dùng từ “nương” Đại thừa. Ai đọc phẩm nầy đều có thể tạm hiểu ý nghĩa của ba từ “ngồi”, “cỡi” hay “nương”. Các từ này dịch từ chữ Hán là “thừa” (), Phạm: Yàna, Hán âm: Diễn na, Hán dịch: Thừa vật, vận tải, vận độ: Chỉ cho vật có khả năng chuyên chở chúng sanh đến bờ bên kia, cũng tức là chỉ cho giáo pháp của đức Phật. Thừa có Đại thừa, Tiểu thừa, Nhất thừa, Nhị thừa, Tam thừa, Ngũ thừa... Giáo pháp chân thực gọi là Chính thừa; giáo pháp phương tiện (tạm thời giả đặt ra để đưa đến giáo pháp chân thực) gọi là Phương tiện thừa. Giáo pháp chuyển Phương tiện thừa thành Tu chính thừa gọi là Cứu tế thừa…Trong ba từ trên, chúng tôi chọn từ “nương”, vì nương vào giáo pháp của chư Phật mà có thể đến bến bờ bên kia.

(2). Bồ đề: Có nghĩa là Đạo, Giác, Trí, Tri. Có phiền não thì không có Bồ đề hay ngược lại: có Bồ đề thì không có phiền não. Đắc Bồ đề thì diệt hết phiền não, chứng Niết bàn. Bồ đề đầy đủ thì thành Như Lai, gọi là Vô Thượng Bồ đề, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh giác.

Kinh Bát Nhã định nghĩa Bồ đề như sau: "Bồ đề (Bodhi, giác ngộ) là Không nghĩa (sunyata), là Chân như nghĩa (tathata) là Thật tế nghĩa (dharmata). Thế nhưng, đấy là những danh tướng giả lập, những ngôn thuyết tạm thời. Bồ đề là chân thật giác, là tối thượng diệu. Bồ đề là chân, là thật, là không hư vọng, không biến dị, không bị phá hoại, không phân biệt; Bồ đề là thanh tịnh chân thật, là giác ngộ cùng khắp mà Phật sở hữu. Bồ đề là sự viên mãn căn bản từ đó chư Phật hiện Đẳng chính giác soi thấy hết thảy các pháp, hết thảy chủng tướng; vượt ngoài mọi danh ngôn thế tục tạm thời". Từ này đã được thích nghĩa rồi, nay lặp lại bổ túc thêm cho rõ nghĩa.

(3). Tát đỏa (Phạm: Sattva. Pàli: Satta) Cũng gọi Tát đa bà, Tát hòa tát, Tát bà tát đỏa. Tát đỏa gồm có các nghĩa: Tồn tại, sinh, thực, chân, thiện, m, hiền... Trong Thành duy thức luận thuật ký quyển 1, phần đầu, Tát đỏa được gọi là hữu tình, nghĩa là có tình có ý; Phật địa kinh luận quyển 2 thì cho Tát đỏa nghĩa là dũng mãnh. Ngoài ra, còn có các nghĩa: Tâm lực, hữu, hữu tướng, hàm thức, chúng sinh... Tát đỏa cũng chỉ cho Bồ tát, tức gọi đủ là Bồ đề tát đỏa. Trong Mật giáo, Tát đỏa là chỉ cho Kim cương tát đỏa. Ngoài ra, học phái Số luận ở Ấn độ cho rằng Tát đỏa là một trong ba đức mà Tự tính (Phạm: Prakfti) phải có. (Từ điển Phật Quang).

Danh từ Tát đỏa, chúng tôi đã giải thích nhiều lần, nói đại khái là chúng sanh. Mong rằng những giải thích trên bổ túc cho các thích nghĩa trước đây thêm rõ ràng hơn.

(4). Pháp bất nhị (hay bất nhị pháp môn): Pháp môn không hai. Là giáo pháp hiển bày chân lý bình đẳng tuyệt đối, siêu việt hết thảy mọi (tương đối) sai biệt. Trong 84.000 pháp môn, bất nhị pháp môn là tối thượng hơn cả. Giáo pháp nầy được Kinh Duy Ma và Đại Bát Nhã xiển dương nhiều nhất. Chúng tôi đã thích nghĩa nhiều lần: Vì phân biệt vốn là giới xứ tương đối của phàm phu. Có phân biệt là có đối đãi, có đối đãi là có chấp trước, có chấp trước là mắc kẹt ở hai đầu. Để tránh phân biệt chấp trước nên Phật chủ trương pháp bất nhị. Siêu vượt trên có và không, là giới xứ tuyệt đối của Thành giả. Vì vậy, pháp môn bất nhị cùng với “bất phân biệt” được coi như là Chân như. Bồ tát phải vượt qua bậc Viễn hành địa trở lên mới đạt được tri kiến nầy!

 

Lược giải:

(cho riêng đoạn bốn này)

 

Quyển 55,  phẩm "Biện Đại Thừa", kinh ĐBN:

Để trả lời câu hỏi của Cụ thọ Thiện Hiện "Ai là người nương vào Đại thừa mà xuất hiện?"

Phật nói: "Hoàn toàn không có ai nương vào Đại thừa ấy mà xuất hiện. Vì sao? Hoặc chỗ để nương và người nương do lẽ nầy, hoặc vì lẽ nầy, mà có chỗ xuất hiện, chỗ đi đến, lúc xuất hiện, lúc đi đến, tất cả điều ấy đều không có sở hữu, hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tất cả pháp đều vô sở hữu, bất khả đắc, rốt ráo thanh tịnh, thì như vậy tại sao có thể nói là có chỗ để nương, có người nương, có sự xuất hiện, sự đi đến và lúc xuất hiện lúc đi đến?"

Ngã, hữu tình, mạng giả… đến tri giả, kiến giả đều vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Kẻ tu Đại thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì rốt ráo thanh tịnh. Sắc vô sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ tu Đại thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, thọ, tưởng, hành, thức vô sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ tu Đại thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì rốt ráo thanh tịnh. Lục Ba la mật, tứ niệm xứ… đến 18 pháp bất cộng vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được; kẻ tu Đại thừa cũng không thể nắm bắt được. Chân như, pháp giới, pháp tánh…cho đến quả vị Vô thượng Bồ đề vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được. Vì tất cả pháp vô sở hữu, chẳng phải đã, sẽ nắm bắt hay hiện nắm bắt được. Vì các pháp rốt ráo thanh tịnh. Kẻ tu Đại thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì rốt ráo thanh tịnh.

Phật Bảo: "Thiện Hiện! Các đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, tuy quán tất cả pháp đều vô sở hữu, chẳng thể nắm bắt được, rốt ráo thanh tịnh, nên không nương vào Đại thừa mà xuất hiện và đi đến, nhưng lấy vô sở đắc làm phương tiện, nương vào Đại thừa ra khỏi sanh tử ba cõi, đến Nhất thiết chủng trí, lợi ích, an ổn tất cả hữu tình, đến tận cùng đời vị lai, thường không dừng nghỉ".

 

Kết luận:

 

Để kết thúc cho phẩm nầy, Kinh MHBNBLM nói: "Đại Bồ Tát từ một Phật quốc đến một Phật quốc để thanh tịnh quốc độ, thành tựu chúng sanh, trọn không có cảm tưởng Phật quốc, cũng không có cảm tưởng chúng sanh. Bồ Tát nầy an trụ trong pháp bất nhị, vì chúng sanh mà thọ thân, tùy chỗ đáng được độ mà tự thị hiện để thuyết pháp giáo hóa chúng sanh. Như vậy mãi đến đạt được Nhất thiết chủng trí vẫn không rời Đại thừa. Đây gọi là đại Bồ Tát nương Đại thừa.

Nương Đại thừa nầy, đại Bồ Tát được Nhất thiết chủng trí chuyển pháp luân mà Thanh Văn, Bích Chi Phật và Thiên Long bát bộ cho đến tất cả người thế gian không thể chuyển được. Bấy giờ chư Phật mười phương đều hoan hỉ xưng danh hiệu để ca ngợi rằng phương đó, quốc độ đó có đại Bồ Tát nương Đại thừa được Nhất thiết chủng trí chuyển pháp luân. Đây gọi là đại Bồ Tát nương Đại thừa".

 

Lưu ý: Hầu hết kinh điển Phật học, kể cả Bát Nhã Ba-la-mật, theo lối hành văn và cách thức trình bày khi xưa, thường không có chấm phếch hay đánh số thứ tự, phân đoạn rõ ràng, nhất là các kinh điển dịch bằng chữ Hán. Để độc giả dễ nắm ý của từng đoạn, chúng tôi đánh dấu theo số La tin hay số thứ tự hoặc mẫu tự alphabet. Đó là hình thức trình bày của hầu hết các học giả hiện đại. Lối trình bày này không làm sai lạc ý kinh, đôi khi mang lại kết quả tốt.

Nhưng không phải công thức này có thể áp dụng bất cứ lúc nào. Cái hữu ích của phương pháp này là giúp độc giả nắm vững vấn đề hơn. Nhưng đôi khi cũng mang lại nhiều rối rắm. Phần đánh dấu của chúng tôi có tánh cách đại cương, chúng tôi không muốn dẫn quý vị đọc giả vào rừng và bảo quý vị "đây là rừng", trong khi quý vị lại than phiền "chúng tôi không thấy rừng mà chỉ thấy lá và cây".

Như Kinh "Kim Cương Bát Nhã Ba-la-mật", ghi ở quyển 577, ĐBN không gọi là phẩm mà gọi là phần: "Kim Cương Năng Đoạn" phần, thuộc Hội thứ IX, ĐBN do Ngài Huyền Trang dịch, không có phân đoạn. Thái tử Chiêu Minh đời Lương, khi đọc kinh này, lãnh hội được nghĩa thú, nên chia kinh làm 32 đoạn, mỗi đoạn lại đặt tên riêng cho phù hợp với ý nghĩa của nó, rất thâm thúy. Nhiều học giả bấy giờ cũng như hiện đại rất khen ngợi và phỏng theo đó mà trình bày, giải luận.

Như đã nói ở trên, kinh Đại Bát Nhã có tới 600 quyển, từ xưa đến nay không có ai có thể làm công việc phân đoạn và đặt tên như Thái tử Chiêu Minh. Tuy nhiên, kinh tập hợp nhiều đoạn hay nhiều quyển thành phẩm, và mỗi phẩm có đặt tên riêng. Nhìn chung, nếu so sánh mỗi Hội với nhau trong toàn bộ Đại Bát Nhã, chúng ta thấy sự phân đoạn và phẩm cũng khác nhau từ hình thức trình bày cho đến nghĩa thú phẩm tựa, mặc dầu tư tưởng vẫn là một.

Để tránh ngộ nhận trong việc đọc tụng Đại Bát Nhã Tổng Luận này, chúng tôi xin quý vị độc giả đừng quá quan tâm đến việc phân đoạn của chúng tôi. Nó chỉ là những diễn đạt có tánh cách chỉ dẫn, và bất cứ chỉ dẫn nào cũng là kiến. Hãy xem nó như những bản chỉ dẫn bên đường. Kiến là thức tức có phân biệt, có phân biệt là có chấp. Ai cũng biết rằng kiến giải kinh (trình bày, phân tích, giảo nghiệm…) cũng là động niệm, khó tu. Nhưng không trình bày, phân tích,… thì làm sao truyền đạt hay lưu hành Bát Nhã đây?

Xin trở lại vấn đề: Đọc tụng phần đầu, Hội thứ I xong, đọc đến phần hai, Hội thứ II, quý vị sẽ thấy “dễ chịu” hơn. Vì phần hai, Hội thứ II, rất tổng quát gãy gọn, không có đánh dấu, không chiết giải nhiều, rất "nguyên chất" (có thể xem phần hai, Hội thứ II như một bản tóm lược của phần nhất, Hội thứ I), quý vị sẽ nắm được cấu trúc tổng quát của Kinh ĐBN hơn. Vì phần nhất, Hội thứ I như đã nói trên "có thể xem" như phần triển khai của các Kinh Bát Nhã đã lưu hành trước khi có ĐBN, vì rằng Kinh ĐBN do Ngài Huyền Trang dịch quá dài, quá trùng tụng có thể "làm mệt óc độc giả tân tiến ngày nay".

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn