Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

57. Phật Giáo truyền sang Sri Lanka (Tích Lan)

02/03/201421:57(Xem: 6490)
57. Phật Giáo truyền sang Sri Lanka (Tích Lan)
phatthichca2

Sự Tích Đức Phật Thích Ca
Soạn giả : Minh Thiện Trần Hữu Danh

(Ấn bản 09/2010, có hiệu chính và bổ túc)

5- Phật Giáo truyền sang Sri Lanka (Tích Lan)[1]

Vua Asoka (trị vì -272 / -236)

Năm 326 trước tây lịch, Hoàng đế Alexander the Great(-356 / -323) của xứ Macedonia, học trò của triết gia Aristotle, xâm chiếm miền bắc Ấn Độ và lập thành một vương quốc với thủ đô Taksasila (người Hy Lạp gọi là Taxila). Nhưng đến năm -323, Alexander băng hà tại Babylon, lúc mới được 32 tuổi.

Cùng năm ấy, Candragupta Maurya, mà người Hy Lạp gọi là Sandrocatus, nổi dậy tại bắc Ấn, chống lại quân xâm lăng của Alexander, và sau đó chiến thắng luôn vua Nandà[2]của xứ Ấn vào năm -316, lập thành đế quốc Mauryan (Moriyan), lấy Pàtaliputta (Patna) làm thủ đô. Candragupta được các sử gia xem là vị vua đầu tiên của xứ Ấn Độ. Candragupta truyền ngôi cho con là Bindusara. Vua Bindusara truyền ngôi lại cho con là Devanapiyena Piyadasina, tên là Asokavadanaputta, gọi tắt là Asoka, vào năm -272. Vua Asoka, sanh năm -304 tại Pataliputta, mất năm -232 cũng tại Pataliputta. Trước khi lên ngôi đã từng làm Phó Vương cai trị vùng Taxila và Ujjain. Trong thời gian này Asoka đã cưới con gái của nhà trưởng giả Deva tại Vedisa tên là Maharami Devi, và sanh được một người con trai tên Mahìndavà một người con gái tên Sanghamitta, nhỏ hơn anh hai tuổi.

Vua Asoka lên ngôi năm -272, là một hoàng đế hăng say chiến tranh như ông nội là Candragupta. Vào năm thứ tám sau khi lên ngôi, năm -264, ông đem quân xâm chiếm xứ Kalinga, nam Ấn. Trận chiến thắng tàn khốc này làm cho 100.000 người chết và 150.000 người bị bắt làm tù binh và số dân chúng bị chết oan còn nhiều hơn gấp mấy lần. Sau trận chiến thắng Kalinga, vua Asoka cảm thấy ăn năn hối hận, năm -260 ông làm một tờ hịch bất hủ khắc trên đá nói lên sự quyết tâm từ bỏ chiến tranh. Nhân cơ hội này, vị sa di A-la-hán Nigrodha, cháu gọi Asoka bằng chú, giảng cho vua Asoka một bài pháp ngắn về tình trạng giác ngộ và tỉnh thức. Vua Asoka liền ngộ đạo, trở nên một vị vua rất nhân từ đạo đức, được dân chúng mệnh danh là Dhammàsoka. Từ đó vua Asoka từ bỏ những cuộc chinh phục bằng chiến tranh (dig-vijaya), và bắt đầu “những cuộc chinh phục bằng Giáo Pháp” (dhamma-vijaya). Ông trở thành người ủng hộ Phật pháp rất nhiệt thành, thỉnh Đạo sư Moggaliputta Tissa[3]làm thầy hướng dẫn tinh thần, và làm chủ tọa cuộc kiết tập kinh điển lần thứ 3tại Pàtaliputta vào năm -252. Vua Asoka lại nhờ Đạo sư đưa đi chiêm bái tất cả các Phật tích, mỗi nơi vua đều có cho dựng trụ đá kỷ niệm, làm di tích muôn đời cho hậu thế. Vua Asoka truyền gom tất cả xá lợi Phật lại, chia đều thành 84.000 phần, đựng trong 84.000 cái bình bằng đồng giống nhau, lớn độ một lít, trên nắp có tượng một con sư tử, rồi giao cho các đại sư đi hoằng pháp xây tháp thờ ở rải rác khắp nơi trong xứ Ấn Độ và cả ở xứ ngoài. Vua Asoka lại cho cả hai người con là Mahìnda và Sanghamitta mang kinh điển vừa mới kiết tập và chiết một nhánh phía nam cây Bồ-đề sang trồng tại Sri Lanka (Tích Lan) để hoằng dương Phật pháp.

Vua Devanampiya Tissa

Lịch sử xứ Sri Lanka bắt đầu từ ngày Vijayađặt chân lên lãnh thổ này làm vua từ năm 543 trước tây lịch. Vua Vijaya đã cưới con gái vua Pandya xứ Mathura bên Ấn Độ về làm hoàng hậu, và có liên hệ mật thiết với nhiều xứ khác bên Ấn dộ. Các sách Mahàvamsa (Đại Sử) , Dipavamsa (Đảo Sử) và Samantàpasadika (Chú Giải Tạng Luật) đã mô tả rất sống động ba cuộc viếng thăm đảo này của đức Phật Sàkyamuni vào tháng thứ năm, năm thứ năm và năm thứ tám sau ngày thành đạo.

Vua Devanampiya Tissaxứ Sri Lanka có giao hảo thân thiện với vua Asoka. Mặt dù hai người không bao giờ gặp mặt nhau, nhưng qua các liên hệ ngoại giao mật thiết, có thể cho rằng vua Devanampiya Tissa và vua Asoka (Devanapiyena Piyadasina) là hai người bạn thân. Sử sách ghi rằng sau khi tiếp một đoàn sứ giả với nhiều tặng phẩm quý giá của vua Devanampiya Tissa, vua Asoka gởi trở lại một phái đoàn ngoại giao với bức thông điệp trong đó có câu sau đây :

“Tôi đã quy y Tam Bảo, tức là quy y với đức Phật, với Pháp bảo, và với chư Tăng trong Giáo Hội. Chính tôi đã tuyên bố rằng mình là một thiện tín cư sĩ trong Giáo Pháp của đức Thích Ca. Giờ đây, Đại vương ôi ! Ngài là một người tốt nhất trong đám người, hãy lấy niềm tin mà cải hóa tâm mình, hãy quy y với bảo vật quý giá nhất trong các bảo vật ở thế gian.”

Đại sư Mahà Mahìnda

Khi vị tỳ kheo Mahà Mahìnda, con trai vua Asoka, được cha và Đạo sư Moggaliputta Tissa phái sang Sri Lanka để thành lập cơ sở Phật Giáo (Buddha Sasana) tại đó, thì ngài mang theo Tam Tạng Kinh Điển vừa kiết tập được lần thứ ba, rời tự viện Asokaràma tại Pàtaliputta (Patna), đi Vedisa thăm mẹ là Devi. Cùng đi với ngài có các vị Tỳ kheo Ittiya, Uttiya, Sambala và Bhaddasàla, vị sa di Sumana, và vị cư sĩ Bhanduka, cháu của Vedisa Devi. Tất cả đều là những người có tu chứng và biệt tài. Mỗi phái đoàn truyền giáo thường có 5 vị Tỳ kheo để tiện việc làm lễ xuất gia truyền cụ túc giới (upasampada).

Sau khi ở lại Vedisa một tháng để chuẩn bị cuộc hành trình, phái đoàn lên đường đi Sri Lanka. Vào ngày trăng tròn tháng 6 năm 252 trước tây lịch, phái đoàn truyền giáo đến đỉnh đồi Missaka, cách thủ đô Anuradhapura 12 km về phía đông. Gặp nhằm ngày quốc lễ, vua Devanampiya Tissa đang săn bắn vui chơi, thình lình thấy năm người mặc cà-sa vàng nghệ đi tới. Nhà vua giật mình, ngài Mahà Mahìnda liền bước đến xá chào và trấn an :

– Tâu Đại vương, chúng tôi là những nhà sư, đệ tử của vì vua Chân Lý. Vì lòng từ bi đối với Đại vương, chúng tôi từ Jambudipa[4]đến đây.[5]

Với sự giúp đỡ tận tình của vua, việc hoằng hóa được tiến triển tốt đẹp. Xá lợi đức Phật được tôn thờ trong bảo tháp Thuparàma Dagaba tại thủ đô Anuradhapura. Nhà vua dâng cúng công viên Mahà Meghavana làm tinh xá cho Giáo Hội Tăng Già vừa được thành lập, và ngôi chùa chánh Mahà Vihara được dựng lên nơi đây. Với thời gian, cơ sở học tập này trở thành nổi tiếng và đào tạo được nhiều học giả uyên thâm. Trong số các giảng sư lỗi lạc tại đây có ngài Buddhaghosa (Phật Âm) từ Ấn Độ đến vào năm 423, đã viết nhiều sách chú giải quý giá về giáo lý Phật, trong khi lưu ngụ tại ngôi chùa này. Sri Lanka (Tích Lan) trở thành trung tâm truyền bá Phật giáo Nam Tông sang Miến Điện, Thái Lan, Kampuchea, Lào và Indonesia (Nam Dương).

Ni sư Sanghamitta

Chỉ một năm sau ngày phái đoàn truyền giáo do đại đức Mahà Mahìnda lãnh đạo đến Sri Lanka, cả triều đình và dân chúng thủ đô rất phấn khởi rủ nhau đến nghe thuyết pháp và xin xuất gia hoặc quy y Tam Bảo. Bà Anula, thứ phi của một vị Phó Vương tên Mahànàga, cùng một số đông thị nữ đến nghe pháp, cũng phát tâm xin đại đức Mahà Mahìnda cho xuất gia. Nhưng theo giới luật Nguyên thủy, một tỳ kheo không có quyền chủ trì lễ xuất gia cho người nữ, nếu đương sự chưa được hội chúng Tỳ kheo ni đề nghị sau khi đã phỏng vấn và chứng nhận người nữ này có đầy đủ điều kiện để xuất gia (Tạng Luật, Tiểu Phẩm, tập 2: 519, 573-580). Do đó đại đức Mahà Mahìnda trình với vua Devanampiya Tissa mời em ngài là Tỳ kheo ni Sanghamitta đến Sri Lanka để làm lễ xuất gia cho hàng phụ nữ và thành lập Giáo Hội Tỳ Kheo Ni.

Vua Devanampiya Tissa rất hoan hỉ gởi đến Hoàng đế Asoka một phái đoàn do vị đại thần Arittha hướng dẫn, để bày tỏ lòng mong mỏi của đại đức Mahà Mahìnda và của chính mình. Được vua cha chấp thuận, Tỳ kheo ni Sanghamitta chiết một nhánh nhỏ hướng về phương nam của cây Đại Bồ-đề nơi Phật thành đạo để mang theo sang Sri Lanka. Cùng đi với Tỳ kheo ni Sanghamitta còn có 11 vị Tỳ kheo ni khác, tất cả đều là những vị có tu chứng và biệt tài. Ngoài ra còn có các quan đại thần, các hoàng thân, các thân hào nhân sĩ rất đông, tháp tùng theo cung nghinh cây Bồ-đề con. Theo sử sách, buổi lễ đã được cử hành rất long trọng để tiễn đưa phái đoàn của ni sư Sanghamitta và cây Bồ-đề con ra đi từ hải cảng Tamralipti (Tamluk). Hoàng đế Asoka đưa con ra tận bến tàu, vô cùng xúc động, đứng nhìn đoàn thuyền xa dần cho đến khi khuất dạng[6].

Năm 251 trước tây lịch, sau bảy ngày vượt biển, thuyền đến hải cảng Jambukola, miền bắc xứ Sri Lanka. Vua Devanampiya Tissa đến tận nơi nhận lãnh cây Bồ-đề con trong một buổi lễ vô cùng long trọng kéo dài 10 ngày. Vào ngày thứ 10, cây Bồ-đề được đặt trên một cổ xe trang nghiêm, cùng với một đoàn xe linh đình cung nghinh đến thủ đô Anuradhapura. Nơi đây lại có một buổi lễ long trọng khác để trồng cây Bồ-đề tại tinh xá Mahà Meghavana. Đến nay cây Bồ-đề này vẫn còn sum sê tươi tốt, tiếp nhận lòng kính mộ của hằng triệu khách hành hương đến chiêm bái.


[1]Xem Phật Giáo Nhìn Toàn Diện, trang 569 - 590.

[2]Theo The Life of Buddha as Legend and History, trang 168-171, thì các triều vua lớn tại Ấn Độ vào thời Phật là : Bimbisàra55 năm (-608/-553), Ajàtasattu22 năm (-553/-531), Udayabhadda16 năm (-531/-515), Anuruddhaka+ Munda8 năm (-515/-507), Nàgadasaka24 năm (-507/-483); (Đổi dòng vua); Susunàga18 năm (-483/-465), Kalasoka28 năm (-465/-437), 10 người em của Kalasoka 22 năm (-437/-415); (Đổi dòng vua); 9 đời Nandà99 năm (-415/-316); (Đổi dòng vua); Candragupta dòng Moriya 24 năm (-316/-292), Bindusara28 năm (-292/-272), Asoka36 năm (-272/-236).

[3]Theo quyển Lumbini a Haven of Sacred Refuge, trang 118 và 125, thì chính Tổ Thứ Tư là Upagupta đã hướng dẫn vua Asoka đi chiêm bái các Phật tích. Xét về niên đại của 2 nhân vật này thì thuyết đó không đúng.

[4]Jambudipalà tên của bán đão Ấn Độ thời bấy giờ.

[5]Xem Trung Bộ 27.

[6]Lễ tiễn đưa và cung nghinh cây Bồ-đề con được mô tả trong hai bức tranh lạ lùng được chạm trổ trên đá tại cổng phía đông đền Sanchi, một di tích Phật giáo quan trọng gần thành phố lớn BHOPAL, thuộc tiểu bang Madhya Pradesh của Ấn Độ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn