Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 8: Nghiệp trần duyên

22/05/201313:08(Xem: 4712)
Chương 8: Nghiệp trần duyên
Chuyện Tình Liên Hoa Hòa Thượng


Chương 8: Nghiệp Trần Duyên

Sa Môn Thích Như Điển
Nguồn: Sa Môn Thích Như Điển


“ Ngẫm hay muôn sự tại Trời Trời kia đã bắt làm người có thân Bắt phong trần, phải phong trần Cho thanh cao, mới được phần thanh cao Có đâu thiên vị người nào Chữ tài, chữ mệnh dồi dào cả hai Có tài, mà cậy chi tài Chữ tài liền với chữ tai một vần Đã mang lấy nghiệp vào thân Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa Thiện căn vốn tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài Lời quê góp nhặt dông dài Mua vui cũng được một vài trống canh.”

Nguyễn Du

Có ai đó đi ngang qua lại, rồi đi xung quanh tháp của Hòa Thượng Liên Hoa, ngâm lên 14 câu thơ trong chuyện Kiều của Nguyễn Du; nghe ra xé nát tâm cang của người có cùng tâm sự. Vì cái chết của Hòa Thượng Liên Hoa quá đột ngột, làm cho Tăng chúng bên trong chùa Từ Ân, Khải Tường, Đại Giác, Giác Lâm v.v… có nhiều nỗi suy tư, lo lắng. Dẫu biết rằng qua bài thơ thị tịch của Ngài để lại; chứng tỏ rằng Ngài đã liễu đạo với lẽ sắc không rồi; nhưng đa phần những người còn lại ở trong và ngoài các chùa này cũng còn lắm nỗi phân vân, khó tả.

Nay lại nghe những vần thơ ai oán như thế này vọng lại trong đêm khuya, khiến cho ai nghe được cũng tê tái nỗi lòng. Không biết đây là tâm trạng của nàng Kiều hay của Hòa Thượng Liên Hoa; hoặc tâm sự của Hoàng Cô trong hiện tại? Nếu đứng vào hoàn cảnh của mỗi người trong chuyện ấy thì có lẽ nhân vật nào cũng đúng cả. Đúng cho mọi hoàn cảnh, đúng cho mọi thời đại và đúng cho mọi tâm sự của mọi người.

Riêng nàng Kiều cũng vì hiếu nên đã bán mình để chuộc cha ra khỏi cảnh đọa đày tù tội. Đây là chữ hiếu mà dầu cho là người con gái của thời xưa đi nữa cũng có thể thể hiện tấm lòng của mình đối với các đấng sanh thành; không nhất thiết phải là nam nhi. Sau khi bị gạt gẫm rồi bị bán vào lầu xanh, làm gái giang hồ mấy bận, tâm trạng của nàng Kiều vẫn nhớ về người bạn tình Kim Trọng năm xưa. Tuy thân đã nhớp nhơ; nhưng tâm vẫn còn trong sạch, trinh khiết để mong có ngày hội ngộ.

Thúc Sinh người bạn đời tạm bợ, đã có vợ nhà rồi; nhưng thấy Kiều đẹp cả tài lẫn sắc; cho nên đã quên đi vợ nhà đã có; nhưng ai trên đời này có thể quên được cái ghen của Hoạn Thư, để rồi phải đau khổđoạn trường, rồi tìm chốn yên tịnh nơi Quan Âm Các để tu hành; nhưng đường tình duyên vẫn còn trắc trở; nên bị dụ dỗ bán vào lầu xanh lần nữa. May đâu gặp Từ Hải là đấng anh hào đã ra tay cứu vớt người đẹp. Đến khi thắng trận thì ân đền, oán trả. Kiều đã thi thố hết khả năng tự chủ sẵn có của mình để làm cho hả dạ một phen. Thế rồi bị Hồ Tôn Hiến chinh phục và Từ Hải đã hàng cũng như chết dưới cái chết điến hồn dưới hai giọt lệ của nàng Kiều nhỏ xuống.

Kiều tưởng như thếđã yên thân; nhưng không ngờ Hồ Tôn Hiến cũng là kẻ không vừa, đã lợi dụng nàng Kiều rồi ép duyên, ép phận, khiến cho sông Tiền Đường thêm một mệnh bạc. Nếu không có Sư Giác Duyên vớt lên đem về chùa nuôi thì thân Kiều cũng đã ra người thiên cổ.

Kim Trọng và Vương Quan đã làm quan; nên đi tìm người thân của mình. Khi đến sông Tiền Đường nghe tin Kiều đã trầm mình tại đó; cho nên đã làm đàn tràng chiêu mộ. Khi Sư Giác Duyên đến tụng kinh mới cho hay Kiều còn sống tại sao lại có cảnh trớ trêu như thế này. Lúc ấy Kim Trọng và Vương Quan mừng vui thỏa thích. Thế là Kim Kiều tái hợp. Bây giờ thì Thúy Vân đã có 2 con cùng Kim Trọng rồi; nhưng vì chị mà nàng đã thay thế trong hơn 15 năm qua. Bây giờ Kiều sẽđóng cả 2 vai là chị ruột và vợ lớn. Có lẽ cả nhà sẽ vui. Vì tình, hiếu, trung, tiết đều vẹn toàn …

Đó là câu chuyện tóm tắt về cuộc đời của nàng Kiều, ai xem truyện, ai xem cải lương, hát bội, kịch nói v.v… cũng đều cảm động và thông cảm cho “hồng nhan mà mệnh bạc” như nàng Kiều vậy. Do vậy cụ Nguyễn Du đã diễn tả không sai về thuyết “tài mệnh tương đố” ấy. Nghĩa là: “Có tài mà cậy chi tài, chữ tài liền với chữ tai một vần”. Rõ ràng là trong ngôn ngữ văn chương Việt Nam sự kết cấu về âm điệu, cách gieo vần cũng như bỏ lững những câu, chữ v.v… khiến cho người đọc vào tự nhiên cảm nhận được những tình tiết tiếp theo qua cách gieo vần ấy.

Rồi nghiệp của nhà Phật cũng đã thể hiện qua câu: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách bởi trời gần trời xa”. Nghiệp do ta gây thì cũng chẳng nên than thân, trách phận; than trời trách đất làm gì. Đó là kết quả của những hành vi mà mỗi người trong chúng ta đã gây tạo trong quá khứ, liên hệ đến hiện tại và cái nhân trong hiện tại sẽ là cái quả của tương lai vậy.

Nho giáo quan niệm rằng con người do trời định đoạt mọi việc. Cho nên mới bảo: “bắt phong trần, phải phong trần. Cho thanh cao, mới được phần thanh cao”. Nghĩa là khi sanh ra đời này sự thanh cao hay làm phong trần khách như nàng Kiều đều do trời bắt buộc và định đoạt cả. Còn con người chỉ là một nhân tố phụ, trong tấn tuồng ảo hóa của thế gian mà thôi.

Nhưng theo Lão giáo cũng lý luận rằng: cái căn lành ấy là do lòng của mình tạo ra. Cái tâm ấy mới là quan trọng, còn cái tài thì không thể sánh bằng. Rõ ràng là vậy. Cuộc đời của nàng Kiều truân chuyên cực khổ, vinh hoa, phú quý xen lẫn với nhau như khúc tơ vò, bảo ai có thể gỡ ra được những uẩn khúc của cuộc đời nàng Kiều chăng?

Có lẽ Cụ Nguyễn Du nhân cơ hội đi sứ sang Trung Hoa rồi thấy câu chuyện “Thanh Tâm tài nhân” này nó giống với tâm trạng của mình vì phải ra làm quan trong 3 triều đại vào cuối thế kỷ thứ 18 và đầu thế kỷ thứ 19; nên mới mượn hình ảnh của Kiều để diễn tả tâm trạng của mình qua hơn 3.000 câu thơ lục bát, là loại thơ đặc biệt chỉ riêng Đại Việt mình mới có. Đây cũng có thể là lời minh oan cho chính mình khi phải làm quan cho Triều Lê, chúa Trịnh ởĐàng Ngoài rồi Nguyễn Tây Sơn và cả Triều Gia Long Nguyễn Ánh nữa.

Bây giờ thử phân tích hoàn cảnh của Hoàng Cô trong hiện tại để xem thử tình tiết câu chuyện của đời bà có liên hệ với nàng Kiều ởđiểm nào chăng? Tại sao bà đau khổ cũng như tuyệt vọng như vậy? Tại sao không yêu một người nào khác trong nhân gian mà đem mối tình đầu ấy suốt cả hơn 40 năm trường để yêu một người mà không dám nói ra, để rồi phải đi đến chỗ lẫn thẫn như vậy? Có phải đây là nghiệp trần duyên không?

Nghiệp như ai trong chúng ta cũng đã rõ đó là:

“Dục tri tiền thế nhân
Kim sanh thọ giả thị
Dục tri lai thế quả Kim sanh tác giả thị”.

Nghĩa là:
“Muốn biết nhơn đời trước
Xem đời này thọ gì
Muốn rõ quả đời sau
Xem đời này làm gì”.

Vậy thì trước đây bà Hoàng Cô này có lẽđã có liên hệ với Ngài Liên Hoa như giấc mộng mà Ngài Liên Hoa đã thấy chăng? Nghĩa là ở một kiếp tiền thân nọ; Hoàng Cô đã đi xuất gia, còn Ngài Hòa Thượng Liên Hoa làm cư sĩ. Người cư sĩ này không muốn cho người tình của mình đi xuất gia; cho nên muốn lôi kéo trở lại kiếp sống trần gian? Rồi kiếp này hai người lại đổi vị trí với nhau để đóng tiếp vở kịch của đời người; nhưng có lẽ vẫn chưa chấm dứt. Riêng Ngài Liên Hoa có thể xem nhưđã “siêu phàm nhập thánh”; nhưng “lũy thế oán thân” trong bao nhiêu đời kiếp chồng chất lên nhau, vừa thân vừa thù, rồi thương, rồi ghét vẫn còn tiếp diễn với Hoàng Cô. Vậy ai là người có thể làm cho bà bớt truân chuyên đây?

Theo nàng Kiều thì vì hiếu; nên nàng mới bán mình để chuộc cha. Còn Hoàng Cô không phải vì hiếu, mà chỉ vì tình. Điều ấy có đáng trách hay đáng thương? Tại sao bà phải làm cho mẹ bà đau khổ? Có lẽ Hiếu Khương Thái Hậu cũng đã chẳng vui gì, khi thấy một người con gái lớn lên chẳng chịu lấy chồng mà lo đi ôm mộng xây dựng với một người đã xuất trần làm tăng sĩ. Hoàng Cô là một người trí, người có học. Tại sao xây dựng một cuộc tình chỉ có một chiều như vậy để làm gì?

Dưới mắt của Hoàng Cô, có lẽ bà cho là đúng, là phải, là đáng yêu, đáng nên làm; cho nên bà mới đeo đuổi một mối tình vụng trộm suốt hơn 40 năm như thế. Nếu bà bảo rằng mình làm điều ấy sai, thì có lẽ bà ta đã dừng lại từ lâu rồi. Nhưng rồi thân cát bụi sẽ trả về cho cát bụi. Thân này được cấu tạo bởi 4 chất lớn. Đó là: đất, nước, gió và lửa. Khi hơi thở không còn nữa và các chất kia đã tan hoại, thì bụi ấy trở lại với bụi của thế gian mà thôi. Đã hiểu được vậy thì tại sao bà và những người khác còn khổ làm gì?

Còn duyên ởđây cũng có thể là nhơn duyên hoà hợp, nhân duyên tụ và tán; nhân duyên gặp nhau để rồi chia ly. Nhân duyên ấy không gì khác hơn là những điều giả hợp, không thật tướng. Cái duyên này Ngài A Thuyết Thị khi gặp Ngài Xá Lợi Phất đã nói qua rồi. Đó là:

“Tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh
Tất cả các pháp đều do nhân duyên diệt
Tự tánh của các pháp là không”.

Khi Ngài Xá Lợi Phất nghe xong ba câu kệ này rồi, Ngài chứng quả Dự Lưu ngay. Vì Ngài đã rõ được tự tánh của các pháp là không, mà cái không này chưa có vị thầy nào trước đây có thể dạy cho Ngài hiểu rõ cả.

Nay duyên đã mãn thì mọi việc xem nhưđã xong. Duyên vẫn còn, có nghĩa là sự sinh tử vẫn còn đón đưa qua lại nhiều lần nữa. Phàm là duyên thì như gió; không có gì thật có cả. Nếu ai rõ được bản chất chân thật của các pháp, thì sẽ không bị cái khổ chi phối. Đó là: “Như Lai giả, thị chư pháp như nghĩa”. Nghĩa là chơn nhưấy là các pháp như thật vậy. Các pháp như thật thì các pháp không sanh, không mất, không đến và không đi.

Còn Hòa Thượng Liên Hoa? Do nhân duyên gì mà phải vào đời này để làm gì?

Xem xong bức thư của Ngài đã viết cho sư phụ của Ngài là Hòa Thượng Phật Ý – Linh Nhạc, ta đã hiểu rõ mục đích của Ngài rồi. Nhưng tại sao Ngài lại bị mắc kẹt vào một mối tình vương giả như thế? Liệu Ngài có biết hay không? Tại sao Ngài đã không giúp cho Hoàng Cô một phương pháp khác, mà Ngài phải tự chọn cái chết như vậy?

Thử đặt một giả thuyết ngược lại với những gì đã xảy ra là Ngài Liễu Đạt thuận theo lời yêu cầu của Hoàng Cô, trở lại đời sống dân giả, kết hôn với Hoàng Cô rồi chuyện gì sẽ xảy ra nữa? Có thể là hai người sẽ sống một cuộc đời hạnh phúc lúc tuổi về già. Nhưng liệu Ngài đã đền ơn được sư trưởng hay không? Hoặc giả Ngài đã ngán cảnh luân hồi sanh tử rồi. Bây giờ Ngài phát nguyện trở lại vòng luân hồi như thế, có làm cản trở sự giải thoát của Ngài chăng?

Tục ngữ Nhật Bản có câu “một hòn đá không thể liệng chết 2 con gà trong một lúc”. Nghĩa là người ta không thể “một mũi tên bắn chết được 2 con chim” hay kẻđó là kẻ “bắt cá 2 tay” như thế. Do vậy Ngài chấp nhận một trong hai giải pháp; không thể có 2 giải pháp trong cùng một lúc được. Đó là việc giải thoát sanh tử là cần kíp. Sau khi giải thoát rồi, sẽ tìm cách cứu độ sinh linh khác. Có lẽ Ngài lý luận rằng: Nếu một người không biết bơi mà nhảy xuống nước cứu một người khác nữa, thì sẽ chết cả hai. Cho nên Ngài không chấp nhận việc nối lại duyên trần với Hoàng Cô là vậy.

Nghiệp trần duyên ấy do chính tự mình cột vào thì mình phải tự mở cột ra; không ai có thể giúp mình tự cởi trói được. Có người đã cởi trói giây ái thì lại trói vào giây ân. Có khi cởi trói được giây ân, lại trói vào giây ái … Tất cả những pháp tương sanh và tương duyên ấy nó đan kết với nhau. Tuy ta không thấy hình tướng; giống như gió kia chẳng thấy, thế mà nó tồn tại ở mọi nơi; khi có sự vận hành của gió chỗ này, nó sẽ tác dụng lên cây cối, mặt đất v.v… gió sẽ trổi lên mạnh hơn. Rồi gió tự nhiên biến dạng; nhưng chẳng thể nói là mất. Tâm ái của chúng sanh cũng giống như thế thôi. Càng khát nước mà uống nước muối thì sẽ không có sựđã khát. Nó sẽ làm cho ta khát hơn nữa. Phương pháp duy nhất là phải biết dừng thì cảm giác về khát sẽ không còn đeo đuổi mình nữa.

Ái dục cũng giống như những cơn khát mà thôi. Nếu ta biết dừng, thì ta sẽ bớt khổ. Ai còn chạy tới, chạy lui, so đo, tính toán thì vẫn còn nhơn, ngã, bỉ, thử. Ví dụ như chúng ta muốn ăn ngon. Trên thực tế không phải cái miệng nó muốn; nó chỉ là vật bị muốn mà thôi. Còn chủ thể của sự muốn ấy nằm nơi tâm thức của mỗi người. Nếu tâm bảo rằng: ăn sao cũng được. Ăn đâu phải là mục đích; chỉ là phương tiện mà thôi. Vì tục ngữ Pháp nói rằng:

“Manger pour vivre et non vivre pour manger”.

Như vậy mục đích và phương tiện để đi đến mục đích nó khác nhau chứ không giống nhau.

Như vậy qua 14 câu thơ cuối trong truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du đã diễn tả, ta thấy mỗi người, mỗi hoàn cảnh chỉ hợp nhau với một số nhân vật và điều kiện. Nó không hoàn toàn giống nhau. Vì lẽ mỗi một người trong chúng ta đều có một nét vân tay riêng. Trên quả địa cầu này có bao nhiêu con người là bấy nhiêu nét vân tay và bấy nhiêu suy nghĩ. Tuy chúng ta có điểm giống nhau là con người; nhưng những con người ấy có lý tưởng giải thoát khác nhau, không ai giống nhau cả. Cho nên tốt nhất là đừng bảo người khác nên giống mình.

Nhưng khi thương, yêu nhau thì cái gì mình cũng cảm thấy giống nhau hết, cũng có thể chia xẻ những khó khăn với nhau, cũng có thể tha thứ cho nhau với tất cả tấm chân tình; nhưng khi ghét nhau rồi thì, cũng chính cái tâm tha thứ ngày hôm qua ấy bây giờ nó đã rong chơi đi chỗ khác rồi. Nó không hiện hữu nữa. Bây giờ tâm này chỉ chất chứa những ai oán, giận hờn v.v… còn tâm từ ái đã biến dạng đi tự lúc nào rồi.

Dĩ nhiên Hoàng Cô không phải là thân phận của Thúy Kiều; nhưng qua Kiều chúng ta có thể thấy được một vài việc có thể so sánh chăng, để từđó chúng ta có thể cảm nhận được nghiệp dĩ của người con gái vậy.

“Giác Duyên từ tiết giã nàng Đeo bầu quảy níp, rộng đường vân du Gặp bà Tam Hợp đạo cô Thong dong, hỏi hết nhỏ to sự nàng: “Người sao hiếu nghĩa đủ đường Kiếp sao, rặt những đoạn trường thế thôi?” Sư rằng: “Phúc họa đạo Trời Cỗi nguồn, cũng ở lòng người mà ra Có Trời mà cũng tại ta Tu là cõi phúc, tình là giây oan Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan Vô duyên là phận hồng nhan đã đành Lại mang lấy một chữ tình Khư khư mình buộc lấy mình vào trong Vậy nên những chốn thong dong

Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng Ma đưa lối, quỷ dẫn đường Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi Hết nạn ấy, đến nạn kia Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần Trong vòng giáo dựng, gươm trần Kề răng hùm sói, gởi thân tôi đòi Giữa dòng nước dẫy, sóng dồi Trước hàm rồng cá, gieo mồi vắng tanh Oan kia theo mãi với tình Một mình mình biết, một mình mình hay Làm cho sống đọa, thác đầy Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi”.

Đoạn đối đáp trên đây giữa Sư Cô Giác Duyên và Đạo Cô Tam Hợp là những nhân vật biểu tượng cho Phật giáo và Đạo giáo thuở bấy giờ. Cả hai bên đều không phủ nhận việc “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Cả hai cũng không bác bỏ việc phúc và họa; duyên và nghiệp; nhưng rõ ràng là cả hai có lối giải thích và biện minh cho quan điểm của mỗi tôn giáo thời ấy và ngay cả bây giờ cũng có một sốđiều khác nhau về nhân sinh quan và vũ trụ quan của hai Đạo Giáo thưở ấy. Hai câu:

“Người sao hiếu nghĩa đủ đường Kiếp sao, rặt những đoạn trường thế thôi?”

Giúp cho chúng ta thấy rõ về những tội báo tiền khiên chưa trả hết. Dẫu là trong kiếp này có hiếu, có nghĩa đấy; nhưng đã mang là kiếp con người thì những đoạn trường như thế là do tội và phúc trong nhiều đời kết hợp lại; cho nên mới ra nông nỗi ấy.

Dẫu thế nào đi chăng nữa thì mọi việc là do con người mà ra. Con người làm thiện, con người làm ác. Con người hiếu kính với cha mẹ, thuận thảo với anh chị em. Có lòng với ba ngôi Tam Bảo v.v… đều là những nhân duyên đan chéo với nhau cả. Đã biết rằng:

“Có Trời mà cũng tại ta
Tu là cõi phúc, tình là giây oan”

Thiên, địa, nhân là quan niệm của Nho giáo. Phật giáo vượt lên trên sự đối đãi này, bước ra ngoài ba cõi để giải thoát sanh tử luân hồi. Nhưng việc “tu là cõi phúc” là điều hẵn đúng ở mọi trường hợp. Cũng như “tình là dây oan” chắc Kiều đã hiểu rõ hơn ai hết và Hoàng Cô là người trí, giòng dõi vua chúa không thể không hiểu điều này; nhưng Kiều hay Hoàng Cô hiểu là một chuyện. Còn nhịp đập của quả tim nó hướng đi về hướng khác, phải làm sao đây?

Thúy Vân đẹp “mây thua nước biếc, tuyết nhường màu da”. Còn Kiều thì “sắc sảo, mặn mà. So bề tài sắc, lại là phần hơn”. Giữa hai chị em Thúy Vân và Thúy Kiều đã được cụ Nguyễn Du diễn tả về nét đẹp tỉ mỉ như vậy.

Còn Hoàng Cô có lẽ không phải là người “liễu kém hoa nhường”; nhưng là một người con gái của chốn Hoàng Cung thì được mệnh danh là “cành vàng lá ngọc” thì cũng bị cái vô duyên của phận hồng nhan như nàng Kiều vậy.

Đa phần “hồng nhan truân chuyên” hay “má hồng phận bạc” là lẽ thường tình xưa nay; nhưng mấy ai là nữ nhi, dám cưỡng lại sức hút của tạo hóa, để tự làm chủ mình được?

“Lại mang lấy một chữ tình
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong”

Đúng là sự thách thức cho con người và vì con người. Đã là con người, ai ai cũng có tình cảm, tình yêu, tình bạn, tình thương v.v… Nhưng ai cũng muốn tự trói tim mình vào cái tình riêng giữa trai tài, gái sắc; giữa người nam và người nữ, để rồi tự chuốc khổ lấy mình. Cho nên ở những nơi yên tỉnh như chùa viện, hay lúc ngồi thiền hoặc nghe giảng kinh; chưa chắc gì Kiều và Hoàng Cô đã yên ổn. Vì lẽ tâm trí họđâu có để nơi kinh, mà họ để nơi đối tượng họ muốn gần gủi…

Đúng là “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường” chứ lòng Kiều đâu có vậy. Nàng chỉ nghĩ đơn giản là muốn có món tiền để chuộc cha ra khỏi tù tội. Thế mà đã 15 năm lưu lạc nơi xứ người. Vinh có, nhục có, sang, hèn, tôi tớ v.v… nàng đều trải qua cả. Còn Hoàng Cô thì ai mở cửa tử sinh cho mình, nếu không phải chính mình tự mở? Hay cũng có ma đưa lối quỷ dẫn đường? Ma ởđây là sự mê mờ, ngu muội. Khi đã yêu rồi thì phải nói là chẳng còn sự sáng suốt nữa để tỉ giảo, để phân biệt. Vì cái tâm mê muội ấy đã bị cái ái ngã và ái chấp nó che phủ rồi. Dẫu cho có mặt trời rọi xuống, chân lý soi đường đi nữa thì tình yêu của họđang yêu thương là số một, không có một năng lực nào có thể làm cho họ tỉnh ngộ được.

Thế mà khi được tình yêu dẫn lối thì nó chỉ toàn là dẫn đến chốn đoạn trường, chứ có khi nào tình yêu mù quáng ấy nó dẫn con người đang yêu có một sự vâng lời chăng? Dĩ nhiên là cũng không phải không có; nhưng trường hợp này rất hiếm và đơn lẽ. Hết nạn này đến nạn kia là chuyện thường tình. Vì quả tim, ý chí và sự tự chủ nó luôn trái ngược nhau, nhiều khi lý trí không còn có thể kiểm soát được con tim nữa. Bởi vì con tim nó không biết nói. Nó chỉ biết đập theo sự thổn thức của nhịp đập mà thôi.

Đã những tưởng rằng: hai lần thanh lâu, hai lần làm con đòi để trả nợ cho chủ, nàng Kiều đã thoát nạn và ngay đến khi có quyền ban ân, giáng họa trong tay đi nữa thì cũng chưa làm chủ chính mình được. Để rồi phải tự tử và nước sông Tiền Đường đã mang người hồng nhan mệnh bạc ấy về một chốn vô định như thế. Nếu không có Sư Giác Duyên kia thì mệnh nàng đã bạc rồi.

So với sự khổ nhục như nàng Kiều thì Hoàng Cô không có. Bởi vì Hoàng Cô là một công nương; một người chủ của cung nữ. Bà không phải chịu khổ nhục như nàng Kiều; nhưng con tim của bà cũng chỉ hướng đến một người. Đó là Hòa Thượng Liên Hoa, dẫu cho Mẹ bà, chị bà có khuyên can đi nữa. Con tim ấy vẫn không vâng lời. Không biết có khi nào Hoàng Cô nhắm mắt lại, lấy tay gát lên trán suy nghĩ rằng: tại sao ta làm trái đạo lý làm người và của một người đệ tử như thế chăng? Có lẽ những lúc ấy quả tim của Hoàng Cô cũng sẽ bảo là: Ồ! Bà làm đúng đó, không có sai đâu! Như vậy có phải là: ma đưa lối, quỷ dẫn đường chăng?

Nổi oan ức ấy với Kiều hay đối với Hoàng Cô cũng chỉ vì cái tình cảm riêng tư nó nối kết, cột chặt. Có khi lại nới lỏng, mở ra, rồi tự cột vào. Cho nên chỉ có riêng mỗi mình mới cảm nhận được việc làm của mình mà thôi. Không có ai có thể thay thế chủ thể này được. Có thể sẽ bịđày đọa cho hết kiếp này nữa thì Kiều mới thoát nạn. Còn Hoàng Cô thì sao?

“Mơ màng phách quế hồn mai,
Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa.
Rằng: Tôi đã có lòng chờ,
Mất công mười mấy năm thừa ởđây.
Chị sao phận mỏng đức dày,
Kiếp xưa đã vậy lòng này dễ ai!
Tâm thành đã thấu đến trời,

Bán mình là hiếu cứu người là nhân. Một niềm vì nước vì dân, Âm công cất một đồng cân đã già! Đoạn trường sổ rút tên ra, Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau. Còn nhiều hưởng thụ về sau, Duyên xưa đầy đặn phúc sau dồi dào! Nàng còn ngơ ngẩn biết sao, Trạc Tuyền! nghe tiếng gọi vào bên tai. Giật mình thoắt tỉnh giấc mai, Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn. Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên, Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề”.

(Kiều - Nguyễn Du)

Từ dưới sông Tiền Đường mới được vớt lên, do Kiều không muốn bị nhục bởi Hồ Tôn Hiến nên mới tìm sự tự tử để quyên sinh; nhưng có lẽ nghiệp trần duyên chưa dứt; nên mới được ngư ông kéo lưới vớt lên. Trong khi đó Kiều mơ màng nghĩ đến hồn Đạm Tiên đã đến rước mình, như lúc đi lễ Thanh Minh tại quê nhà hơn 15 năm về trước.

Trong giấc mơấy, Kiều nhớ rằng: Đạm Tiên đã hẹn mình ởđây; nên có lẽ bây giờ là lúc phải hy sinh tánh mạng này để trọn lời thề với Kim Trọng chăng? Nàng Kiều cũng được hồn Đạm Tiên khen là nhờ đức dày mà phận mỏng; nên mới được cứu đấy. Nếu phước và đức đều mỏng và phận và số đều bạc, thì có lẽ phải về chầu Diêm Vương rồi. Có lẽ nhờ tâm thành của Kiều nên đã thấu đến trời xanh và ngay cả Đạm Tiên cũng cho rằng: việc bán mình chuộc cha là hiếu và cứu người khác là cứu nhân. Khi thành tựu hoài bảo rồi, chữ trung với vua, lo cho dân đỡ lầm than khổ sở; nên mới khuyên Từ Hải đầu hàng Hồ Tôn Hiến. Cuối cùng Từ Hải đã trúng kế của Hồ; chứ Kiều thì vẫn là tấm lòng trinh bạch! Nhờ việc làm “thi ân bất cầu báo” này của Kiều mà cõi âm các vua Diêm Vương đã cân nhắc lại. Cho nên các vị này đã đồng ý rút tên trong sổđoạn trường ra khỏi danh sách những người phải chết oan để đền mạng sống. Nhưng thơđoạn trường thưở trước Đạm Tiên đã trao cho Kiều khi gặp nhau ở Tết Thanh Minh thì phải trả lại cho Đạm Tiên.

Bên tai Kiều vẫn còn nghe văng vẳng câu “còn nhiều hưởng thụ về sau”; nàng thoáng bâng khuâng; không biết là thật hay giả; nhưng nghe rằng: Duyên xưa sẽ sum vầy và phúc sau sẽ trọn vẹn thì Kiều mừng vô cùng. Khi choàng tỉnh giấc mơ dậy thì Đạm Tiên đâu có còn nữa, chỉ mơ mơ màng màng nàng Kiều nghe tiếng của Sư Giác Duyên gọi là Trạc Tuyền, pháp danh cũ ngày xưa khi Kiều xuất gia, thì Kiều tỉnh giấc. Khi đó, trong thuyền này chỉ thấy Sư Giác Duyên ngồi kề mà thôi; chứ bóng dáng Đạm Tiên đâu có hiện hình thêm lần nữa.

Kiều đã được cứu sống mấy lần dưới Quan Âm Các của Hoạn Thư, dưới Thảo lư của Sư Giác Duyên v.v… tất cả cũng là nhờ có nhân duyên với Phật pháp; nhưng không ngờ đời Kiều quá éo le chết đi, sống lại nhiều lần và cũng chẳng biết lần kế tiếp sẽ ra sao; nhưng nhờ “phép Phật nhiệm mầu” nên đã che chở đời nàng suốt trong những năm tháng còn lại, sau khi đã sum vầy với Kim Trọng.

Còn Hoàng Cô; tuy thân phận bà không phải chịu nhiều nỗi như nàng Kiều; nhưng đã mấy lần bỏ nước ra đi, mấy lần quay trở lại Đại Việt này cũng nhờ những mái chùa Từ Ân và Khải Tường che chở. Ngay cả Tiên Đế Gia Long cũng thế, trong thời gian Nguyễn trung hưng tại Đàng Trong; nếu không nhờ ngôi chùa Đại Giác ở Biên Hoà là nơi để cho quân lính tập trận, chiêu binh hợp tướng, thì Hoàng Tộc nhà Nguyễn đâu có cơ hội đoàn viên sau năm 1789 cho đến năm 1802 là đúng 13 năm chia cắt. Trong thời gian ấy có các Ngài như TổẤn; Liễu Đạt hiệu Liên Hoa Hòa Thượng đã cưu mang cả nội cung nơi chùa Khải Tường và từđó tình cảm mới phát sanh chăng? Thật sự ra thì Hoàng Cô đã thỏ thẻ tâm sự với mẹ mình rồi và đã được Hiếu Khương Thái Hậu dẫn chuyện Ngài A Nan và Ma Đăng Già để ngăn cấm mối tình vụng trộm ấy; nhưng lòng bà vẫn không nguôi ngoai, khi nhớ về một vị Hòa Thượng tài, đức vẹn toàn, tiếng tăm lừng lẫy nên đã nhờ cháu mình ban chiếu chỉ đi cúng dường các chùa Từ Ân và Khải Tường. Do đó bà mới có cơ hội để xuôi Nam, không ngờ Ngài đã trốn bà bằng cách vào nhập thất ở chùa Đại Giác.

Tuy bà được hôn bàn tay của Hòa Thượng Liên Hoa một cách triều mến; bà đã thỏa lòng mong đợi bấy lâu nay. Ban đầu bà hứa sẽ về lại kinh ngay; sau đó có lẽ bà còn chờ đợi ở Ngài Liên Hoa điều gì nhiều hơn thế nữa; nhưng Ngài chỉ âm thầm đáp ứng bằng sự tự thiêu của mình khiến cho tâm tư của bà hỗn loạn. Một vành tim sẵn sàng sám hối lại việc của mình đã đường đột ôm tay Ngài để làm mất tịnh giới của Ngài. Còn vành tim khác Hoàng Cô chỉ muốn tự tử như nàng Kiều để dành trọn tình yêu của mình cho Liên Hoa Hòa Thượng.

Ngay ngày hôm sau, nhằm ngày mùng 2 tháng 11 năm Quý Mùi (1823) Hoàng Cô đã uống độc dược tự tử tại hậu liêu chùa Đại Giác. Hưởng thọ 65 tuổi.

Hòa Thượng Viên Quang trụ trì chùa Giác Lâm, họp cùng Thiền Sư Tế Chánh - Bổn Giác đương kim trụ trì chùa Từ Ân, là đệ tử của Ngài Liên Hoa và Tăng chúng ở các chùa trong môn phái lo lễ nhập tháp Hòa Thượng Liên Hoa vừa xong, lại phải lo an táng cho Hoàng Cô và thỉnh long vị của Hòa Thượng Liên Hoa và linh vị của Hoàng Cô về thờở chùa Sắc Tứ Từ Ân. Long vị của Hòa Thượng thờở bàn thờ Tổ. Còn linh vị của Hoàng Cô thờ ở bàn thờ bá tánh. Trên linh vị có ghi một hàng chữ Hán như sau: “Thích môn hộ giáo, Hoàng Cô, thọ Bồ tát giới, pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhựt chi vị”.

Thiên hạ từ triều đình ngoài Huế đến tận cuối xứ Đàng Trong như Tây Ninh, Cần Thơ không ai là không xôn xao bàn tán về một chuyện tình vương giả như thế vào đầu thế kỷ 19 tại quê hương Đại Việt của chúng ta. Miệng đời mai mỉa có, tán dương có, khinh chê có, khen tặng có; chẳng biết đâu mà lường. Từ những chợ sớm, chợ chiều, cho đến nơi thị thành, chốn đô hội v.v… ởđâu người ta cũng nghe đề tài “Liên Hoa Hòa Thượng và Hoàng Cô công nương”. Mãi cho đến cả vài năm sau vẫn chưa hết bàn tán nữa.

Những sự mỉa mai thì không có bút mực nào tả xiết. Nhất là những thế lực đen tối không phải Đạo Phật; lúc nào cũng muốn dìm Đạo Phật xuống để cho họ có thế mà bước lên, thì đây là cơ hội tốt nhất để cho miệng đời nguyền rủa mai mỉa và họ bảo rằng: “Nếu tu thì phải tu cho trót; nếu gọt thì phải gọt cho trơn”. Tại sao cả hai người đều phải tự thiêu và tự tử như thế. Có lẽ có những tình tiết éo le gì đây chăng mà mới chết có một ngày đã đem nhập tháp và chôn cất vội vả. Có phải là che dấu những sự lỡ làng chăng?

Hoặc những lời trách móc như: Đã đi tu mà không lấy 2 chữ Từ Bi, bác ái gìn giữ làm đầu. Đi tu là cứu chúng sanh đâu chưa thấy. Bây giờ có chúng sanh đang cần đến mình lại lo đi tự thiêu và khiến Hoàng Cô cũng phải tự tử theo. Như vậy đâu còn gì là từ bi trong nhà Phật nữa?

Còn người tán dương cũng không ít, đó là những người luôn đến cầu nguyện bên tháp của Hòa Thượng Liên Hoa cũng như ngôi mộ của Hoàng Cô. Họ cho rằng: Hoàng Cô chọn cái chết như vậy không phải là sai. Vì Hòa Thượng Liên Hoa đã siêu thoát rồi, liệu mình có ở lại với đời cũng đâu có ích lợi gì nữa.

Cũng có nhiều người mang hoa tươi và hương đèn đến khấn vái người đã ra đi. Thỉnh thoảng người ta nghe được rằng: “Ngài là một vị Bồ Tát ra đời để cứu độ nhân sinh. Sau khi nhân duyên đã mãn ở cõi trần thì Ngài lui về chỗ vô trụ. Còn Hoàng Cô tuy đã làm Ngài khổ tâm; nhưng Ngài nên chứng minh cho một tấm lòng suốt đời chỉ trung trinh tiết nghĩa thờ Ngài…”. Cứ thế và cứ thế những lời cầu nguyện, những câu chuyện thêu dệt bên lề ngoài xã hội mỗi ngày một nhiều, không ngoài chuyện đề cao hai cái chết, đồng thời cũng để mỉa mai cho những người tu hành thưở ấy.

Một điều may mắn ít ai chờ đợi là sau khi chôn cất Hoàng Cô xong, các cung nữ hầu cận đã tìm được một “tuyệt mệnh thư” của bà đã viết và để lại như sau:

Chùa Đại Giác ngày mùng một tháng 11 năm Quý Mùi (1823) Kính gởi Mẹ - Thái Hậu Hiếu Khương

Mẹơi! Có lẽ con phải chọn cái chết là cao cả nhất. Bởi vì trong hiện tại con cô đơn quá, con khổ sở quá, không có mẹ và chị bên cạnh để con hỏi ý kiến, mà chắc gì khi hỏi, mẹ và chịđã giúp được cho. Nếu có chăng, có lẽ cũng chỉ là những bài học đạo đức như thưở nào ở chốn Hoàng cung chăng? Chỉ chừng ấy không thể lấp đầy sự hối hận, nổi băn khuăn, tình yêu, lòng tự trọng của con đối với Liên Hoa Hòa Thượng này. Xin mẹ cho con được sánh vai cùng Ngài với câu đối 4 chữ là:

“Liên Hoa Hòa Thượng
Hoàng Cô Cô Nương”

Liên Hoa đối với Hoàng Cô là chỉnh rồi. Vì suốt đời con chỉ mong muốn được có thế và Hòa Thượng đối lại với Cô Nương cũng đâu có dỡ phải không mẹ? Vì con là công chúa chưa lập gia đình. Từ nhỏ đến lớn chỉ giữ tấm lòng trinh bạch để chờ đợi Ngài; nhưng Ngài đã cao bay xa chạy, thì thử hỏi con ở lại đây để làm gì nữa. Luôn tiện bức thư này, con xin ngõ lại cùng những người thân trong Hoàng tộc và Hòa Thượng Liên Hoa như sau:

Hoàng Huynh kính nhớ

Kể từ khi thân phụ bị quân Tây Sơn sát hại vào năm 1777, Hoàng Huynh đã trở thành Đại Nguyên Soái của Đại Việt đánh đông, dẹp tây. Có khi thành công, lắm lúc thất bại ê chề. Cái may mắn của Hoàng tộc chúng ta là lúc nào cũng được Phật Trời che chở, cho nên để bù đắp lại những gian truân trong thời gian ở Thái Lan, Cao Miên và tại các chùa Từ Ân cũng như Khải Tường và Đại Giác; năm 1802 Hoàng Huynh đã xưng đế hiệu Gia Long. Muội này cũng rất sung sướng và hãnh diện cho một người anh gan dạ, dũng mãnh như thế. Rồi năm 1805 cả Nội cung được dời về Huế. Muội và các cung tần mỹ nữ đều được gội nhuần ơn mưa móc của Đấng quân vương. Tuy Muội chưa chọn được Phò Mã cho lòng mình; nhưng lòng yêu thương và kính trọng một vị Thầy chơn tu, đạo đức ở chốn kinh kỳ, lại trụ trì Linh Mụ Quốc Tự như Liên Hoa Hòa Thượng, là Muội đã mãn nguyện lắm rồi.

Không biết Hoàng Huynh có biết chăng? Vì lúc này (1823) Hoàng Huynh đã yên vị hình hài nơi Lăng Tẩm, sau bao nhiêu năm khổ cực với bàn dân thiên hạ, mới dựng lại được nghiệp đế của Tiên chúa Nguyễn Hoàng. Nếu không có Hoàng Huynh thì cơ đồ này sẽ sụp đổ. Thưở Hoàng Huynh đương quyền, Muội này muốn nhờ oai lực của Hoàng Huynh bắt ép Liên Hoa Hòa Thượng phải hoàn tục, nhưng cũng nhờ Mẫu Hậu và Đại Tỷ khuyên can. Nếu không thì việc đã chẳng thành, mà còn bại lộ nữa. Việc này sẽ khiến cho Hoàng Huynh không yên tâm chút nào khi an dân trị quốc. Vì lẽ mình đã lỡ có một Hoàng Muội như vậy. Trời sinh người, chứ ai đâu sanh tánh được phải không Hoàng Huynh?

Gần đây có câu chuyện Kim Vân Kiều đã làm cho nhiều người thổn thức cho thân phận của nàng, qua sự diễn tả tài tình về văn chương của cụ Tiên Điền Nguyễn Du. Muội này thấy thân phận mình còn bé bỏng quá. Lẽ ra phải chiếm được một phò mã thật khôi ngô để giúp vua trị nước; nhưng cuối cùng rồi cũng chỉ là một tình yêu đơn phương, lạc lỏng. Có tiếng nói vọng ra từ con tim; nhưng không có lời nào đáp ứng lại cả. Hoàng Huynh chắc không trách Muội này, vì đã chẳng giúp được gì cho vua, khi giang sơn cần đến, đã chẳng làm nên tích sự gì, để rồi người mình thương, nay cũng vùi thân nơi đất lạnh. Vậy Muội này phải ở lại đây để làm gì nữa? Xin mượn mấy viên độc dược này để quyên sinh; chỉ giết chết đời mình và không để sầu lại cho kẻ khác. Tuy nhiên Muội này với tấm thân liễu yếu, chẳng làm nên được tích sự gì. Hoàng Huynh đừng trách móc, dầu cho Hoàng Huynh đã ở cõi nào, để Muội này thong dong rày đây mai đó và sẽđi tìm hình bóng người xưa mà Muội đã yêu thương, nhằm làm giảm cơn sầu nhớ!

Hoàng Huynh có cả tam cung, lục viện mà vẫn chưa đủ. Riêng Muội này phải chịu phận giá băng từ thưở thiếu thời cho đến bây giờ; nên kính mong Hoàng Huynh thông cảm và chia xẻ cho nổi niềm mất mát này.

Hậu liêu chùa Đại Giác Biên Hoà chiều ngày mùng một tháng 11 năm Quý Mùi (1823)

Khả kính

Bức thư tiếp theo được gởi đến Hoàng Mẫu Hiếu Khương Thái Hoàng Thái Hậu như sau:

Mẹ kính yêu!

Nay thì Mẹđã có cháu nội lên làm vua và kể từ năm 1820 đến nay, đã hơn 4 năm rồi, Mẹ được cái vinh dựấy. Đã được làm mẹ vua Gia Long từ năm 1802 đến năm 1820; nên gia trang và triều ngoại cũng như Thần dân trăm họ đều gọi Mẹ là Thái Hậu. Tuy Mẹ không giỏi gian như Thái Hậu Dương Vân Nga, thay chồng, thay con trị nước thời Tiền Lê mới xây nghiệp đế; nhưng Mẹ cũng đã là bậc mẫu nghi thiên hạ trong cả 3 triều từ giữa thế kỷ thứ 18 đến nay. Đây là cái phúc của dòng tộc họ Nguyễn của chúng ta vậy.

Cả giang sơn gấm vóc ngày nay, Bắc từ Móng Cái, Lạng Sơn rồi trải dài một dãi mấy ngàn cây số tận đến Hà Tiên, Cần Thơ không còn sông Gianh chia lối, như thời còn vua Lê và chúa Trịnh nữa, để phương Bắc khỏi khinh thường và phương Nam lo triều cống. Nếu không nhờ sự cầm cương vững vàng của Hoàng Huynh trong suốt mấy mươi năm chinh chiến ấy, thì chắc gì có được ngày hôm nay; nhưng điều sâu sắc hơn phải nói rằng: Nếu không có sự cố vấn tài tình của Mẹ từ bên trong cung nội cho đến các vị Thái giám và nhiều khi đến cả Quốc Trượng nữa, thì chắc gì chúng con có được những ngày tháng ca khúc khải hoàng như mấy chục năm qua.

Con quả là đứa con bất hiếu. Vì những thường tình của nữ nhi, đã làm cho Mẹ tóc bạc thêm qua nhiều đêm suy nghĩ về chuyện tình lẩm cẩm của đứa con gái khó bảo của mình. Qua bao nhiêu lần khuyên bảo của Mẹ và của nhiều người khác; nhưng tâm con sao mãi không dừng lại được với mối tình vụng trộm mà con đã có lần đề cập đến với Mẹ khi còn ở chốn cung son tự thưở nào. Nay thì Mẹđã già, lại phải đón nhận thêm tin buồn nữa. Đó là ngày mai con sẽ quyên sinh, để lại Mẹ già cô đơn và niềm bất kính, không biết đất trời nào có tha thứ được chăng? Chỉ có Mẹ mới là người rộng lượng và có thể tha thứ được điều này. Con dám mong là như vậy. Vì con biết “Hùm dữ nhưng không ăn thịt con mình”. Mẹ cũng vậy, dầu con hư đốn, vì đã lỡ yêu, thôi xin Mẹ cho con một cái chết an ổn để vẹn một lời thề.

“Duyên đâu, ai dứt tơđào,
Nợđâu, ai đã dắt vào tận tay!
Thân sao, thân đến thế này?
Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi!
Đã không biết sống là vui,
Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương!
Một mình cay đắng trăm đường,
Thôi thì nát ngọc, tan vàng thì thôi!
Mảnh trăng đã gác non đoài,
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong.
Triều đâu nổi tiếng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền đường.
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây!
Đạm Tiên, nàng nhé có hay?
Hẹn ta, thì đợi dưới này rước ta.
Dưới đèn sẵn bức tiên hoa,
Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau…”
(Kiều - Nguyễn Du)

Thưa Mẹ! tâm trạng của con trong hiện tại cũng giống như tâm trạng nàng Kiều vậy. Tuy con chẳng bị ai ép uổng, ngay cả Mẹ, khi con còn trẻ, Mẹ cũng đã chẳng bắt con lấy chồng. Thì đó chẳng qua là duyên và nợ. Con và Hòa Thượng Liên Hoa biết đâu là có duyên mà chẳng có nợ. Nay con chịu thiệt mình con, với cái chết này, con mới nói lên hết được tấm lòng trung trinh của mình đối với Đời và với Đạo. Chỉ có cái chết mới có thể làm cho con vơi đi những cay đắng của cuộc đời. Do vậy mà “cành vàng lá ngọc” này có ra sao đi nữa, thì Mẹ cũng đừng lo. Vì “thân cát bụi, sẽ trả về với cát bụi”. Hôm nay là ngày mùng 2 tháng 11 không có trăng gác non đoài, như Kiều đã diễn tả nơi sông Tiền Đường; nhưng đây là hậu liêu của chùa Đại Giác; nơi Hoàng Huynh của con đã khởi binh đi đánh Tây Sơn và cũng là nơi Ngọc Anh công chúa cháu con đã trọn lời thề xuất gia tu đạo, sau khi Hoàng Huynh của con đã thắng Tây Sơn và đem sơn hà về một mối. Con tin rằng chùa này linh lắm và những lời thệ nguyện của con có Phật Trời chứng giám.

Lạy Mẹ! ởđây không có nước sông Tiền Đường dâng cao như Kiều đã diễn tả, để Kiều dễ nhảy vào dòng nước ấy và mơ gặp Đạm Tiên, nhưđã thề ước khi xưa trong tiết Thanh Minh thưở nào. Mà ởđây chỉ có đêm thanh cảnh vắng, trời không trăng và trong túi con chỉ có một phong độc dược. Giờđây các thị nữđã yên giấc, chung quanh con chỉ còn tiếng côn trùng réo rét, như mời gọi, như nhớ thương một Hoàng Cô đã chẳng làm tròn chữ hiếu. Con mượn thơ của Kiều để gởi cho Mẹ và để nhớ tấm lòng của con đối với người con thương yêu.

Nàng Kiều xuất xứ thời nhà Minh vào thế kỷ thứ 13 bên Trung Quốc; nhưng sao cũng giống con trong một số hoàn cảnh như thế này. Rõ ràng là “thân gái dặm trường” ai biết cho nổi lòng của kẻ sắp ra đi; nên con xin mượn thiên tuyệt bút này để gởi lại cho Mẹ và đời sau, để hiểu cho một người, vì muốn bảo toàn danh dự của Hoàng Gia và để giữ trọn chữ tình nên đã quyên sinh và không muốn làm cho ai phải phiền lụy cả. Chỉ có Mẹ già, con xin bất hiếu vì chưa chít khăn tang lên đầu con trẻ, để đền ơn sinh thành dưỡng dục mà nay thì “tre già khóc cho măng non”. Ấy là tội của con. Con xin khấu đầu bái tạ và xin nhận hai chữ bất hiếu vậy.

Con của Mẹ

Tiếp đến là lá thư gởi cho Hoàng Thái Hậu Thuận Thiên, vợ vua Gia Long và là thân mẫu của vua Minh Mạng.

Chị kính

Em những tưởng, chị là người có phước đức nhất nhì trong thiên hạ. Vì từ ngôi vị thứ phi đã đăng quang lên làm chánh hậu rồi Hoàng Hậu đương triều thưở ấy; nhất là khi Thái Tử Đảm được sinh ra tại chùa Khải Tường ở Gia Định vào năm 1791. Kể từđó đến nay chị đã gặp không biết bao nhiêu là điều may mắn. Trong cung nội không có đối thủ, ngoài dân gian -chị là một bậc mẫu nghi thiên hạ vẹn toàn. Đó có lẽ do phúc Trời của gia đình chị. Lại thêm khi Thái Tử sinh ra được giáo dục ngay tại chùa; nên ít nhiều vua Minh Mạng cũng ảnh hưởng một phần nào tinh thần của Phật Giáo vậy. Cho nên sau khi lên ngôi, Vua đã ban thụy hiệu cho Thiền Sư Thiệt Thành - Liễu Đạt là Liên Hoa Hòa Thượng. Điều này cũng khiến em vui lây đó chị.

Như chị biết, lòng em như một tấm lụa trắng trong, muốn đem dâng hiến cho người mình yêu; nhưng vẫn không dám bày tỏ nổi lòng mình, vì lo sợ đủ thứ. Tâm sự ấy em đã đem ra trình bày cho Mẹ và chị nghe; nhưng cuối cùng cũng chỉ nhận được những lời khuyên đạo đức, ngoài ra không có gì khác nữa; nhưng nổi niềm này ai hiểu cho em đây chị? Chị cũng là đàn bà; nhưng không là phận bạc như em; nên có lẽ chị cũng sẽ khó cảm thông cho em được, khi tình yêu một chiều đã đến với em trong bao nhiêu năm dài, tháng rộng như vậy. Người con gái lỡ sinh ra nơi cung cấm rồi, người đời có lẽ cho là sung sướng lắm; nhưng đâu có ai hiểu cho rằng: quanh năm suốt tháng chỉ đối diện với bốn bức tường vôi. Hỏi tường, tường chẳng đáp; hỏi người hầu cận, người hầu cận chỉ dạ dạ, vâng vâng. Hỏi trăng và sao, trăng và sao chỉ tỏa sáng. Khi hỏi lại lòng mình, tại sao phải đi thương một vị Tăng Cang như thế, thì tim em tự an ủi là “nghiệp trần duyên”. Nếu quả là nghiệp thì em cam đành nhận lãnh, như Thúy Kiều đã trả nợ cho thân phụ mình. Còn duyên trần ấy tại sao không níu kéo ai trong Hoàng Tộc? Không cột chặt ai vào nỗi khổđau này, mà chỉ cột có riêng em? - Nhiều lúc em cũng nghĩ rằng: hay là tự mình cột tình yêu vào mối duyên đầu thì nay mình phải tự cởi mở ra; nhưng càng mở càng rối. Do vậy hôm nay viết thư này cho chị để em chọn cái chết cho yên thân, ai ai cũng hững hờ như chẳng có điều gì đã xảy ra cả.

Giờđây người em thương yêu cũng đã quá vãng rồi. Không lẽ ngày hai buổi sáng chiều cứđi nhiễu tháp, tụng kinh có thể khiến cho lòng mình thanh thản sao chị?

Đến đó để chỉ thấy như đống tro tàn đã nguội lạnh, mình không khéo sẽ làm cho bụi bay mờ mắt cũng nên. Có ai hiểu cho lòng này chăng nhỉ? Còn chị, nay đã lên bà Thái Hậu. Vì con chịđã làm vua. Hoàng Huynh em đã băng hà hơn 2 năm nay, chắc chị cũng đau xót lắm. Vì chịđã mất đi một người đầu ấp tay gối trong suốt cả một đời người. Còn em, đêm về vẫn phòng không gối chiếc. Nay tuổi đã 65 rồi, mà có ai để ý tiếc thương cho. Em phải chờ đợi cho đến bao giờđây nữa?

Thưa chị! Ngày xưa và ngay cả ngày nay nữa, khi nhà Vua băng hà thì có rất nhiều cung tần cung nữ phát nguyện ra cư tang nơi lăng tẩm suốt 3 năm, hay nhiều khi còn hơn thế nữa để đáp lại tấm lòng của quân vương khi còn sống. Họởđó để ngậm nhấm những sợi tơ trời đã đứt đoạn nhiều phen, để trông về cố nhân mà tự an ủi cho mình khi tuổi già xế bóng. Có nhiều người đi tu để mong lấp hết nổi sầu chinh phụ. Còn chị? Chị vẫn ung dung và đường đường là một Thái Hậu đương triều. Vì chị có được người con trai chí hiếu; biết lo cho mẹ, cho bà và ngay cả cho Phật pháp nữa. Dĩ nhiên quốc gia, dân tộc là trên hết; nhưng nếu không có tình nhà, làm sao có thể chung vai để gánh nợ nước được.

Còn em, đúng là một đứa em dâu bất hiếu. Mẹ già vẫn còn đó, ngồi bên khung cửa tựa trông người con gái không chồng như em, đã lỡ một lần hứa yêu; nhưng không đúng đối tượng; khiến cho Mẹ và chị chẳng vui gì. Nhưng nay em chết đi, vẫn còn chị, vẫn còn cháu Ngọc Anh và chị Long Thành. Do vậy em cũng an tâm. Vậy kính nhờ các chị hãy lo lắng cho mẹ già, khi em không còn có mặt nơi cõi trần này nữa.

Trong nhiều cái chết của một kiếp con người, em cảm thấy uống độc dược để tự tử vẫn là cách bình an hơn hết. Do vậy em tin chị rõ là em sẽ quyên sinh như vậy. Đây không là một cái chết tự nhiên như mọi cái chết khác; nhưng em mong rằng mọi người hãy hiểu cho em khi không còn một phương pháp nào khác để giúp cho em trong lúc này cả.

Trời đất có xuân, hạ, thu, đông để báo hiệu cho con người và vạn vật biết rằng quả địa cầu đang thay đổi. Từ đó muôn vật đổi thay để đón nhận những tia nắng mai, hay những bông tuyết từ cõi khác dọi vào. Các sinh linh trên quả đất này sẽ vui khi nhận được những ân huệ tự nhiên ấy và cũng sẽ cảm thấy buồn khi ánh thái dương không còn chiếu những tia sáng tỏ tường khi đông đến. Nhưng đã là vạn vật thì phải chấp nhận sự đổi thay, chẳng còn cách nào khác.

Còn con người có vui buồn, giận hờn, thương ghét, khen chê… Cũng chừng ấy thứ mà làm cho riêng em ngao ngán. Nay em chỉ muốn lịm dần vào trạng thái hư vô, để hồn mình được bay bổng nơi không gian vô tận; nơi ấy không còn bị bó buộc bởi lễ nghĩa và quân hầu hay tỳ nữ.

Em xin vĩnh biệt chị

Gia Định thành ngày mùng 2 tháng 11 năm Quý Mùi (1823)

Bệ Hạ nhã giám,

Đứng về phương diện gia đình Hoàng Tộc thì bệ hạ là cháu của ta, gọi ta bằng cô ruột; nhưng đứng về phương diện phép tắc của nhà nước, thì ta phải gọi người cháu ấy, năm xưa được sinh ra tại chùa Khải Tường ở Gia Định là Hoàng Đế.

Đây là một vinh hạnh của Hoàng Tộc chúng ta nữa. Tuy bệ hạ chịu ảnh hưởng của Nho Giáo sâu đậm; nhưng cũng đã giúp cho Phật giáo phát triển rất nhiều. Nhất là những năm tháng gần đây, vua đã cho trùng tu lại các chùa và tổ chức nhiều lễ trai đàn bạt độ để cứu khổ những oan hồn đã chết oan ức qua nhiều thế hệ khác nhau. Đây cũng là cách tưởng nhớ đến công ơn của họ đã vì quốc gia, đất nước này mà hy sinh xương máu. Còn những người không may bị lâm nạn, chết bức tử… họ cũng có đường về nhân thế để nghe kinh mà siêu thoát. Đây là cái ân đức mà bệ hạđã ban truyền, làm cho cả âm dương được lợi lạc.

Những năm gần đây Hoàng Cô này thường nghe bệ hạ nói rằng: kiếp trước mình là một nhà sư; cho nên chỗ ở trong cung điện này, vua đã biến thành chùa Giác Hoàng cũng là điều dễ hiểu. Ta nhớ lại năm xưa, vào mùa đông năm 1791 ấy, cách nay cũng đã hơn 30 năm rồi. Thái tử được sinh ra nơi chùa Khải Tường. Nếu không có Thượng Tọa Trụ Trì Thiệt Thành - Liễu Đạt đang trụ trì chùa thưở ấy chăm sóc, lo lắng, giúp đỡ… thì Thái tử cũng khó vẹn tuyền. Do vậy mà vua đã đáp đền ơn trên bằng cách ban thụy hiệu Liên Hoa cho Hòa Thượng ấy. Điều này Hoàng Cô rất vui. Vì biết rằng vua là một đấng minh quân, chứ không phải chỉ chuyên nghe những lời tâu xiểm nịnh có ý tâng bốc.

Ngoài ra Vua cũng đã cho khảo hạch chư tăng về giới luật, về kinh kệ… Điều ấy hẳn quí. Nếu ai rành rẽ khoa nghi và luật lệ thì sẽ được cấp Giới Đao, Độ Điệp, tiếp tục ở lại chùa để tu hành. Nếu ai không có đủ tiêu chuẩn thì lui về quê để làm ruộng. Đây là một luật lệ rất hay. Tuy nhiên có lẽ vì thế mà Liên Hoa Hòa Thượng đã ngại ngùng chăng? Ngài ấy đã làm Tăng Cang ở chùa Linh Mụ từ khi Tiên Đế tại vị (1817) và mãi đến nay (1823) sau gần 6 năm ở chốn triều đình, chứng kiến không biết bao nhiêu cảnh trái ngang chồng chất. Có lẽ vì thế mà Ngài đã không muốn làm trụ trì chùa Linh Mụ nữa? Hoặc giả Hòa Thượng sợ vạ lây, vì mối tình lẩm cẩm của ta đã đem quả tim này yêu thương vị thầy ấy. Nếu ta đã trót lỡ thì nhà Vua có tha thứ cho bà Cô này chăng? Hay có một luật khác là lăng trì, xử trảm? Nhưng thôi! Nay ta sẽ chọn cho mình một cái chết êm dịu hơn. Đó là uống độc dược vậy.

Ta biết rằng làm như thế sẽ khó xử cho bệ hạ, cho Hoàng gia; nhưng đã là tình yêu thì nó phải vượt khỏi lên tất cả mọi biên giới; không giới hạn ở người nông dân hay bậc tu mi nam tử. Ngay cả Vua cũng phải yêu thương để sinh con đẻ cái và tiếp tục nối dõi Tông đường. Vua không thể vô tự. Còn phận nữ nhi này, tuy sinh ra nơi chốn cung son; nhưng suốt đời hẩm hiu, phận bạc; yêu không ra yêu, chết không ra chết. Bây giờ Cô này có ở lại thế gian này cũng chả lợi lạc gì; nên xin chọn cái chết để cho toàn tâm nguyện vậy.

Tuy nhà vua trọng Nho, đối đãi với Phật tử tế; nhưng cũng đừng quá ngăn cấm những đạo khác du nhập từ Tây phương. Vì mỗi Tôn giáo là một bông hoa nhiều màu sắc. Nếu họđem những bông hoa sắc màu ấy trồng vào vườn hoa tâm linh của dân tộc mình thì khi đơm hoa, kết trái… vườn hoa ấy sẽ đẹp hơn bao giờ hết. Không nên có tâm phân biệt đối xử như vậy. Vì từ khi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng của chúng ta khai khẩn đất Đàng Trong này, Ngài đã có một tâm nguyện rất lớn là tiếp xúc với tất cả những người Âu Mỹ tại cửa biển Hội An. Nhờ vậy mà Hội An một thời trong hơn 200 năm qua (1600 - 1802) đã phồn thịnh. Người Nhật có Thần đạo; người Hoa có Nho và Lão; người Tây phương có Thiên Chúa giáo; người Ấn Độ, Chiêm Thành, Mã Lai có Vishnu… là những vị Chúa, vị Thánh của họ… cũng đáng nên tôn thờ, không nên có những tư tưởng dị biệt quá lớn và không tiếp xúc với họ để một ngày nào đó, nước ta lâm vào cảnh đối đầu thì không nên. Trong hiện tại, chúng ta nên đối diện với nhau để thảo luận với nhau nhiều vấn đề, hơn là đối đầu hay đối lập. Vì thế của chúng ta vẫn còn yếu hơn họ.

Riêng chữ Quốc ngữ này, từ trước chúng ta vẫn dùng; nhưng không chuyên dụng bằng chữ Nho; nhưng cũng nhờ những Giám Mục Tây Ban Nha và BồĐào Nha đến cửa biển Hội An, rồi họ sinh sống ởđây nhiều năm tại làng Thanh Chiêm và sáng chế ra. Nhờ vậy mà chúng ta mới có được cách viết mới theo mẫu tự La Mã này. Đây là ngôn ngữ giản đơn, khiến ai cũng có thể dễ học và viết cũng như hiểu biết hơn là chữ Hán. Chữ Hán tuy sâu sắc; nhưng không phải ai cũng học được.

Nhật Bản là một nước ảnh hưởng nền văn minh Khổng Mạnh như chúng ta; nhưng vào thế kỷ thứ 13, họ đã nhờ Ngài Hoằng Pháp Đại Sư, giáo tổ của Chân Tông Ngôn Nhật Bản, duy tân chữ Hán (kanji) thành chữ Bình giả danh (Hiragana) là một lối viết đơn giản và đặc biệt của người Nhật, không còn là của người Hán nữa. Ngày nay dân tộc Nhật Bản vẫn còn dùng. Đây cũng là cái hay của việc duy tân sửa đổi.

Nay chánh sách đối với Tây phương của bệ hạ, Hoàng Cô này tự thấy có cái gì đó nhiều khúc mắc. Do vậy với thiển ý trên, mong mỏi bệ hạ cùng triều đình hãy tế nhị, để sau này lịch sử không phê phán nhiều. Đây chỉ là kết quả có được khi Hoàng Cô này có mặt nơi đất Thái, trong những năm lưu lạc tại xứ người.

Lời cuối của người Cô bất xứng này là mong cho bệ hạ vững tay lèo lái con thuyền của Dân tộc như Nguyễn Trãi đã khuyên vua Lê Lợi từ thế kỷ thứ 15 là:

“Dân ấy giống như nước. Bệ hạ giống như kẻ lái thuyền. Chính nước ấy sẽ đưa thuyền đi đến nơi đến chốn và chính nước ấy sẽ lật thuyền. Bệ hạ hãy khá lưu tâm”.

Đây là một lời nhắn nhủ có giá trị và trước khi ra đi vĩnh viễn Hoàng Cô này xin chấp hai tay lại để cầu nguyện cho đất nước Đại Việt này luôn mưa thuận gió hoà và muôn dân được an cư lạc nghiệp dưới ân sủng trị vì của Bệ hạ.

Chắp tay cầu nguyện – Hoàng Cô.

Bức thư cuối cùng viết gởi cho cố Hòa Thượng Liên Hoa, trước ngày Hoàng Cô, pháp danh Tế minh -Thiên Nhựt lìa cõi thế này.

Hậu liêu chùa Đại Giác, Biên Hoà ngày mùng 2 tháng 11 năm Quý Mùi (1823)

Kính Ngài

Giờ này thì Thầy đã mồ yên, mả đẹp rồi. Ởđây chỉ còn lại một mình Hoàng Cô này với nỗi trống vắng thê lương, lại nghe ai đó ngâm lên mấy vần thơ đầu trong quyển truyện Kiều của Nguyễn Du trông ra cũng đúng với tâm trạng của mình trong lúc này lắm:

“Trăm năm, trong cõi người ta
Chữ tài, chữ mệnh, khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc, tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen…”
“Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Phũ phàng chi bấy hóa công!
Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha…”

Trong 100 năm ấy của đời người ở cõi này tạm cho là dài đi; nhưng với Hoàng Cô này đã sống hơn phân nữa sốấy. Khổ nhọc thì chẳng nhiều; nhưng đau đớn cho thân phận làm đàn bà thì cũng lắm. Vì lẽ, chẳng ai hiểu được mình cả. Tài thì Hoàng Cô này chẳng có gì so với Ngài là một bậc Tăng Cang của triều đình, thuyết pháp hay và có nhiều tài biện luận. Còn mệnh bạc thì đúng là Hoàng Cô này đang gặp phải.

Tại sao lại phải Hoàng Cô này mà không phải người khác? Tại sao phải là Liên Hoa Hòa Thượng mà không là một người khác? Biết đâu trong nhiều kiếp quá khứ, chúng ta đã là chồng vợ với nhau, hay là những Thiện Hữu Tri Thức; nhưng đã không đi chung một con đường? Người thì muốn thoát ly sanh tử; còn kẻ thì muốn tiếp nối đường tơđã giăng ra từ kiếp trước. Do đó tài và mệnh này luôn luôn ghét nhau, không đồng nhau là phải.

Người xưa thường nói: “Thương hải biến vi tang điền” nghĩa là bãi biển biến thành ruộng dâu là ý để chỉ cho vũ trụ vạn vật vẫn luôn thay đổi. Mới ngày nào đó còn là biển cả mênh mông, mà một thời gian sau; nơi ấy người ta có thể trồng dâu, nuôi tằm được. Trong suốt thời gian chuyển biến ấy, ta thấy biết bao nhiêu anh hùng cái thế, giai nhân tuyệt sắc của cuộc đời. Rồi những lâu đài cung điện nguy nga hùng vĩ, qua một trận thư hùng của gió, nước, lửa… tất cả sẽ trở về với cát bụi nguyên sơ. Đây chính là điều đau đớn cho lòng người và cõi đời vậy.

Đức Phật đã dạy: Đời là khổ, yêu đương là tiếp tục vòng sanh tử luân hồi. Nghiệp lực là sức mạnh để làm cho sự luân hồi ấy tái diễn. Trong 12 nhân duyên, có lẽ ái là dễđoạn nhất; nhưng với Hoàng Cô này khó vô cùng. Tại sao vậy? – Vì biết đời là khổ do sự yêu thương là mấu chốt. Từ yêu thương sẽ sanh ra chấp thủ. Từ sự chấp thủấy mới không muốn buông xả. Cứ cho cái này thuộc về của mình. Còn cái kia không phải như vậy. Nếu đối tượng được đáp ứng, thì tâm tự kỷ vui mừng, hớn hở. Nếu không, sẽ mang đến đổ vỡ hạnh phúc. Tất cả đều do chấp có, chấp không mà ra.

Hoàng Cô này đã nghe Ngài giảng qua không biết bao nhiêu bộ kinh quan trọng. Trong đó phải nói là kinh Kim Cang, với Hoàng Cô này là một viên thuốc quý; nhưng sao khi gặp Ngài, Hoàng Cô không thể quán không được, trái lại lúc nào cũng thấy Có. Có tất cả 32 tướng của một bậc đại trượng phu. Có Liên Hoa Hòa Thượng đẹp trai, có duyên. Có người nằm trong mộng; nhưng Hoàng Cô này không được yêu, có âm thanh hay khi giảng pháp. Có sắc đẹp mỹ miều…

Riêng Hoàng Cô này tuy không có sắc đẹp như Kiều nương; nhưng cũng là con nhà lành, danh giá; đâu phải người ăn, kẻởđâu mà Ngài lại coi rẻ rúng lạ thường. Những cái chào, những cái gật đầu lơ là của Ngài cũng đủ để cho Hoàng Cô này đau nhói tâm cang. Những sự phủ phàng ấy có Mẫu Hoàng chứng giám, khi Hoàng Cô này thay Thị Giả Mật Đĩnh bưng nước hầu Ngài. Chỉ muốn gần gũi để tâm tình mà xem ra như xa nhau trong muôn vạn dặm. Đúng là má hồng này tự phải ghen tỵ; chứ không phải người khác đánh ghen mình.

Làm đàn bà, con gái trong thời Nho giáo thịnh hành, quả là điều đau đớn. Bởi vì người ta trọng nam, khinh nữ. Họ coi thường người con gái và giá trị giữa hai người con gái và người con trai không được đặt lên ngang hàng trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Người đàn bà dưới thời Nho giáo chỉ có trung thành với chồng, sinh con đẻ cái cho chồng, sớm hôm tần tảo lo gia nghiệp cho chồng, cho con thế thôi! Do vậy mà mệnh bạc. Đây là số phận hẩm hiu của những người phụ nữ. Những tưởng rằng Ngài là người tu theo Phật giáo, Đức Phật đã nâng tâm thức của người nữ lên ngang hàng với nam giới. Vì Ngài cho rằng: người nữ cũng có khả năng thành Phật. Đây là một bài học quý giá cho những người phụ nữ như Hoàng Cô này, nhưng xem ra, dưới mắt Liên Hoa Hòa Thượng, những người phụ nữ như chúng tôi làm trò đùa cho thiên hạ chăng? Tại sao Ngài chẳng dám đối diện với Hoàng Cô này để giải bày tâm sự, mà phải chọn phương pháp thiêu thân để lẽ bóng một mình. Dẫu cho Ngài có ở một cảnh giới giải thoát nào đó đi chăng nữa, bóng hình của Hoàng Cô này sẽ dõi theo Ngài vậy.

Tại sao hóa công lại phủ phàng với nàng Kiều và kể cả Hoàng Cô này nữa như vậy? Tại sao tạo hóa sinh ra đàn ông còn phải sinh ra đàn bà nữa, để tạo nên những ràng buộc vô hình của chữ ái và chữ ân? Tại sao tạo hóa không chỉ sinh riêng đàn bà hoặc chỉđàn ông cho từng cõi một, để khỏi đau khổ vì nhau, mà phải sanh chung trên một quả đất này để chịu khổ với nhau vậy?

Từ ngày còn xuân xanh, tuổi ngoài 20, Hoàng Cô này ngày đêm đã đem lòng thầm yêu, trộm nhớ Ngài; nhưng Ngài đã biết chăng? Hay Ngài cũng là người chịu đựng để mong mọi việc trôi nhanh qua, rồi an hưởng sự giải thoát cho riêng mình? Tại sao Ngài ích kỷ quá như vậy? Vì Ngài, cho Ngài mà Hoàng Cô này đã hy sinh một cuộc đời son trẻ, không yêu riêng ai ngoài Ngài cả. Tình yêu đơn phương ấy đã hơn 40 năm rồi. Đúng là má hồng giờđã phôi pha rồi; nhưng tình yêu ấy vẫn không thay đổi.

Ngài còn nhớ chăng những lúc đôi ta cùng dạo chơi nơi vườn cảnh của chùa Khải Tường ở Gia Định. Ngài đã giải thích cho Hoàng Cô này nghe về 5 đặc tính của một hoa sen, tượng trưng cho bậc quân tử. Vì “cư trần mà bất nhiễm trần”. Nhưng thú thực với Ngài, lúc ấy Hoàng Cô chỉ thấy Ngài đáng yêu vô cùng vì nụ cười duyên, dưới cái sống mũi thật đẹp. Cộng thêm cặp mắt long lanh, sáng láng nằm phẳng lờ dưới đôi chân mày tướng; trông rất đẹp phi phàm. Lúc ấy Hoàng Cô này chỉ thấy một hóa thân của Thiên tử, chứ không là một Phật tử nơi chốn thiền môn. Rồi Hoàng Cô tự nghĩ: Tại sao Ngài không theo Nho học để học hành, thi cử, đổ đạt ra làm quan và biết đâu nếu đỗ Trạng Nguyên thì sẽ làm Phò Mã… Tất cả những giấc mộng ấy mãi vẫn còn nằm sâu kín tận nơi đáy tâm thức của Hoàng Cô này.

Nhiều lúc khi chùa Khải Tường khách thập phương ít vãng lai, ta tìm cách vào nhà khách để được gần gũi Ngài; nhưng Ngài nhiều lúc lại tìm cách thối thoát. Ta không hiểu rõ được tâm trạng của người đàn ông lúc ấy.

Lẽ ra khi một bên có ý cầu hoà hay hiến dâng, thì bên kia phải sẵn sàng đón nhận chứ! Tại sao ởđây Ngài lạnh lùng như cỏđá vậy. Nhiều khi cây cỏ và đất cát vẫn còn biết động lòng. Tại sao con người mà lại dửng dưng như thế nhỉ? Điều này ta chẳng rõ. Nhiều đêm trăng ta không thể nào chợp mắt được, đem đờn Tỳ Bà ra vườn chùa để khảy lên vài bài bạc mệnh, khiến để cho Ngài nghe; nhưng nào có hay biết gì. Hay là Liên Hoa Hòa Thượng không biết thưởng thức?

Thơ, văn, thi, phú ta không bằng Ngài cho nên chẳng dám trình thưa; nhưng không lẽ vì thế mà Ngài khinh ta là người vô học? Có lẽ Ngài nhìn vào đám thị nữ này, chẳng có ai đáng quan tâm chăng? Hay Ngài đòi hỏi một chỗ ngồi cao hơn nữa?

Khi còn ở chùa Từ Ân và Khải Tường tại Gia Định, Hoàng Huynh ta đang lúc lo Trung Hưng nghiệp đế nhà Nguyễn cũng đã dâng cúng vào chùa 2 tòa thuyết pháp thật trang trọng, chắc Ngài còn nhớ? Mỗi khi Liên Hoa Hòa Thượng ngồi vào đó, ta cảm nhận như Bồ tát giáng trần. Lẽ ra ta phải có tâm cung kính với người giảng pháp Phật; nhưng lòng ta chỉ trông chờ một niệm yêu thương nơi Ngài; một hình thức gia ơn nào đó qua nụ cười và ánh mắt; nhưng cũng tuyệt nhiên không. Đúng là một con người lạnh lùng khó tả.

Rồi khi về đến Đế kinh, Hoàng Huynh ta sau khi sắc phong cho Ngài chức Tăng Cang Hòa Thượng để trụ trì chùa Linh Mụ và giảng pháp cho nội cung; một chức vị cao nhất trong Tăng chúng, gần như là Quốc Sư vào năm 1817 mà ta thấy Ngài chẳng vui; không lẽ Ngài còn đòi hỏi điều gì nữa chăng? Nhưng sao ta lại thấy buồn mỗi khi Ngài giảng pháp xong, lại đòi cho gia nhân đưa xe trở lại Linh Mụ ngay đó? Hình như Ngài muốn tránh mặt ta? Mẫu hậu ta hay Thái Trưởng công chúa?

Ngài chắc còn nhớ, năm 1805 Thái Trưởng công chúa và ta rời Gia Định về lại kinh đô, Ngài đã không nhờ trực tiếp ta, mà nhờ chị ta, công chúa Long Thành giúp trùng tu chùa Quốc Ân; nơi tổ sư Nguyên Thiều đã khai sáng. Lẽ ra ta từ chối khéo; nhưng chị ta cũng đã trả lời và cúng vào đó 300 quan để trùng tu chốn Tổ. Như vậy ta không phải là kẻ hững hờ, mà chính Ngài là kẻ sớm quên ơn nghĩa như vậy?

Những ngày Thầy được phong Tăng Cang nơi chùa Linh Mụ, khi xúng xính trong chiếc áo gấm 5 màu của vua ban, làm cho Hoàng Cô này nhớ lại lúc còn nhỏ, khi Tết về Mẹ cho áo mới. Trông Ngài tươi tỉnh hẳn lên, khi đáp từ để nhận Giới Đao và Độ Điệp từ bộ lễ. Lúc ấy, tim của Hoàng Cô này co thắt lại; đôi khi đập liên hồi. Vì lẽ niềm mơ ước đó Hoàng Cô đã ấp ủ từ khi Ngài TổẤn ¬Mật Hoằng trụ trì chùa Đại Giác ở Đồng Nai vềđây làm đệ nhất Tăng Cang vào năm 1804. Khi đó Hoàng Cô này nghĩ rằng: Phải là thầy Thiệt Thành - Liễu Đạt mới xứng đáng; nhưng cho đến 1817 cũng đã chẳng muộn màng gì. Vì đó là tâm niệm của một công chúa dành riêng cho một phò mã chưa bao giờ dám thổ lộ chuyện yêu đương trước mặt phải không Thầy?

Tục ngữ Pháp có câu:
“L’habite ne fait pas le moins”.

Nghĩa là: chiếc áo không làm nên vị Tu Sĩ. Nhưng sao Thầy lại khác người thế? Bao giờ cũng áo, y, mũ, nón, giày, dép gọn gàng; bất cứ là lúc xuôi nam hay vào kinh đô giảng kinh, dạy đạo? Có lẽ oai nghi, đạo hạnh của một người xuất gia do giới luật làm nên? Cho nên Thầy oai phong, đạo mạo như thế? Riêng người thế gian thì khác – yêu thì nói rằng yêu; không yêu thì nói không yêu; chứ không phải lầm lỳ như thế. Thầy hãy nhìn xem, chim trên cành còn có đôi bạn ca hót cùng nhau. Cá dưới nước dầu sâu mấy bực, cũng sánh đôi nhau bơi lội tung tăng. Còn đôi ta, tại sao lại không được toại nguyện? Đó là do Thầy đã quá ích kỷ, chăm sóc cho cái tự ngã của mình và quên đi một người đang đau khổ. Có thể chết được vì mình đây! Tại sao Thầy lại vô tình thế?

Rồi những buổi lễ trai đàn nơi chùa Linh Mụ, Hoàng Cô này chỉ muốn ngồi để ngắm nhìn hình dung, sắc tướng của Ngài thôi; chứ ta đâu có tha thiết gì chuyện ăn uống. Thế mà những con tỳ nữ luôn luôn làm bận rộn và cản trở ta trong việc này; nhưng liệu chúng có hiểu được cho lòng ta chăng? Chỉ vì một niệm duy nhất là ta đã lỡ yêu thương Thầy, không có một bóng hình nào khác có thể thay thế vào đây được. Đây theo Mẹ ta dạy; không phải là một cái tội; nhưng lại là một cái lỗi. Cái lỗi của người học trò, đệ tử con gái đi yêu một ông Thầy tu không đúng chỗ. Ta chấp nhận cái lỗi ấy; nhưng lý do duy nhất để chỉ được yêu thương mà thôi. Thế mà Thầy trơ gan như gỗđá vậy.

Những buổi đi thăm Lăng, tảo mộ gia tộc v.v… cũng là cơ hội để ta muốn được gần gũi Thầy. Nhiều khi gần nhau trong gang tấc mà xem ra như xa nhau trong muôn vạn dặm vậy. Ta muốn một tay Thầy lần tràng hạt tụng kinh, niệm Phật; còn tay kia dìu ta đi vào một cõi mộng mơ nào đó; trông hình ảnh ấy cũng đẹp tuyệt vời, chứ có sao đâu; nhất là khi về già như thế này thì lại càng có ý nghĩa nhiều hơn nữa. Tại sao Thầy phải tự thiêu làm gì để cho thiếp đây ngày đêm khốn khổ. Không biết có ai đó hiểu cho tấm lòng này chăng? Hay vẫn còn nghi ngờ, phê phán? Nhất là những câu thơ về Kiều của Nguyễn Du đã làm cho thân phận này càng tê tái thêm nhiều hơn nữa.

Người có biết chăng không? Những ngày lo đám tiệc chôn cất và thọ tang cho Hoàng Huynh ta vào năm 1820 tại điện Thái Hoà, tuy xót xa buồn bã, vì ta đã mất đi một người anh tài giỏi, tả xung hữu đột để giành lấy giang sơn và một triều đại về giòng họ của mình; nhưng bên cạnh đó ta vẫn luôn ước nguyện cho Thầy sẽ trở thành Phò Mã nơi đây; nhưng bây giờ thì Thầy đã phò ai đâu, chứ không còn là một phò mã như ta hằng mong đợi nữa.

Không biết Hoàng Huynh ta rập theo khuôn mẫu của Thái Lan, hay chỉ muốn làm theo Trung Quốc, mà trong thời gian trị vì nước Đại Việt này gần 20 năm nhưng đã lập ra 3 cái không to tướng. Đó là không tấn phong Hoàng Hậu, không Tể Tướng và không Phò Mã; nhưng người đời vẫn tôn xưng Mẹ ta là Thái Hậu; chị ta là Hoàng Hậu. Chỉ có Tể Tướng và Phò Mã đương triều trống vắng mà thôi. Tuy thế, nếu Thầy thuận tình ta, thì ngôi Phò Mã ấy chắc không để trống nữa.

Những buổi giảng kinh, thuyết pháp của Thầy ở trong nội cung như những tiếng lòng mà ta muốn nghe, để lấp đi bao nỗi nhớ thương khi đêm trường tịch mịch về. Lời kinh, lời pháp của Phật cao siêu huyền diệu, có thể làm cho con người có thể thoát khỏi chốn tử sinh này để đi vào cõi hư vô diệu vợi; nhưng hồn ta vẫn chơi vơi bồng bềnh trong ngọn sóng ba đào của sự yêu thương ấy. Chưa bao giờ ta muốn xa Thầy nữa bước. Vì Thầy là tất cả của lòng ta.

Thật sự ra khi sư phụ Linh Nhạc - Phật Ý của Thầy mất vào cuối năm 1821, cả Hoàng cung đều biết; chỉ ngoại trừ Ngài là không, vì lẽ Hoàng Huynh ta vừa mới băng hà, sợ rằng trong nội cung này vắng tiếng mõ sớm chuông chiều cũng như những khoa nghi tế lễ; cho nên ai trong chúng ta cũng chưa muốn Thầy rời kinh để về lo cư tang cho sư phụ. Xưa và nay cũng thế. Quân, Sư, Phụ là ba bậc Thầy hệ trọng trong đời người. Vua vẫn đứng trên tất cả. Cho nên ta tin rằng việc cản ngăn này chẳng lỗi đạo. Nếu có chăng là người ấy đã quá nôn nóng để đáp đền ơn thế độ của Bổn Sư mà quên đi nghĩa tào khang sau khi đọc được bức thư tỏ tình của ta chăng? Có phải Thầy đã trốn chạy ta? Trốn chạy một tình yêu đã dày cộm với thời gian và lấy cớ về cư tang Thầy mình, để khỏi gặp một người đàn bà đang đau khổ vì mình? Không biết là Phật Tổ có chứng tri cho một người như thế chăng?

Cũng vì tình yêu thúc dục, mà Hoàng Cô này đã nhờ uy của Hoàng Thượng đương triều là cháu ta, xuống chiếu chỉ để ta xuôi Nam; lấy cớđi cúng dường hai chùa Từ Ân và Khải Tường thôi; nhưng trên thực tế thì ta muốn đi thăm Thầy và muốn được gần gũi Thầy vậy. Đường từ Phú Xuân vào đây quan san cách trở; có lúc đi thuyền, có khi đi bộ; nhiều lúc đi ngựa … nhưng điểm đến bao giờ cũng là sự hồi hộp. Khi đến Gia Định rồi, ta cứ ngỡ là Thầy vẫn chờ ta ở Từ Ân để được thỏa tình mơ ước và mong đợi gần cả năm nay. Nhưng không ngờ chưa hầu chuyện được 3 ngày thì Ngài đã bỏđi nơi khác. Ta đã tỏ tình với Thầy, mà Thầy giống như kẻ vô tâm. May mà lúc ấy ta không tức giận, vì còn thương Thầy. Nếu không thì ta đã trở thành người kỷ nữ mỹ miều ở làng Kosabi thời Phật còn tại thế rồi.

Thật ra vì Đức Phật đã hững hờ trước sắc đẹp của nàng, mà Ngài còn bảo rằng: Những điều ấy đối với Như Lai như mũi, dải, đờm, bợn. Khiến cho nàng giận dữ và nàng lại muốn báo thù. Lời thề của nàng đã ứng hiện; cho nên khi làm vợ bé của vua Ba Tư Nặc, nàng đem 500 cung nữ đến chỗ Phật và Ngài A Nan đang thiền định chửi rủa suốt ngày, suốt đêm để cho hả dạ. Nhưng ta thì không muốn làm việc đó. Vì nhân quả sẽ trở lại người gieo nhân, khi mà người nhận không có. Ta không muốn chửi rủa Thầy. Vì ta sợ nghiệp quả như 500 cung nữ kia, khi những lời chửi rủa mà Phật không nhận thì họ phải tự nhận lấy. Còn nay ta yêu người mà người không yêu ta, có lẽ tình yêu ấy trở lại ta chăng?

Tình yêu này là một tình yêu trong trắng, trong suốt hơn 40 năm qua ta đã ôm ấp trong lòng, muốn đem dâng hiến trọn vẹn cho Thầy; nhưng khi tìm đến chùa Giác Lâm ở Phú Thọ lại chẳng thấy Thầy đâu; khiến cho Hoàng Cô này phải thất điên bát đảo mới tìm Thầy được tại chùa Đại Giác ở Biên Hoà. Thân gái dặm trường, không biết có khi nào Thầy nhỏ được một chút tình thương như Phật đã thương bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề và 500 cung nữđã cạo đầu nhẵn, đi bộ sang Tỳ Xá Ly; chỉ có mục đích duy nhất là đi xuất gia chăng? Riêng ta liệu ta có muốn xuất gia với Thầy để được gần gũi, cận kề, chắc gì Thầy đã vui vẻđón mời? Dầu cho trong quá khứ ta đã giúp chùa và giúp chư Tăng không ít?

Thế rồi lòng lại dặn lòng “nếu được gặp Thầy dầu ở bất cứ hình thức nào cũng được hả dạ”. Nhưng tim Thầy vẫn câm nín, đến giờ phút cuối cùng Thầy mới giơ bàn tay tuyệt đẹp ra cửa thất và thiếp đã không để cơ hội hiếm có trôi qua; nên đã ôm hôn triều mến, làm cho mọi người ngỡ ngàng, nhất là thái độ của Sa Di Mật Đĩnh và những cung nữđi kèm. Có lẽ họ sợ những hình phạt mà Thầy họ sẽ phạt về sau đó? Trước đó ta có hứa rằng: “Nếu Hòa Thượng không tiện ra tiếp, xin Hòa Thượng cho con nhìn thấy bàn tay của Hòa Thượng, đệ tử cũng hân hoan mà ra về”; nhưng sau khi đã được ôm hôn tay Thầy thì ý nghĩ về lại Hoàng cung không còn hiện hữu nơi Hoàng Cô này nữa. Thế mới biết lửa cháy chỉ đốt một vài căn nhà; còn lửa tình có thể đốt cháy nhơn sinh không biết bao nhiêu lần trong cảnh sống của luân hồi sinh tử. Khi đòi hỏi đã được rồi thì người ta còn muốn thêm nữa. Vì cái muốn nó không có cái cuối cùng. Như Phật dạy: khi con người muốn dừng và tâm tự dừng thì mọi việc sẽ yên ổn. Nếu tâm không an thì thân sẽ không an. Ta sống trên đời này là do tâm chủ động; còn thân này chỉ do tâm sai khiến mà thôi. Ông chủ của nó nằm sâu nơi A Lợi Gia Thức. Chính tâm vương này sẽ làm cho người ta thành Phật, thành Bồ Tát, thành Tổ và cũng chính tâm vương này sai khiến con người đi vào chốn địa ngục vậy.

Đêm hôm qua vào ngày mùng một tháng 11 năm Quý Mùi (1823) ở nơi hậu liêu chùa Đại Giác khi nghe âm thanh của lửa cháy, tiếng người, tiếng nổ của củi lửa, cộng thêm mùi da thịt bốc cháy … làm cho tâm ta chùng xuống và lúc ấy Hoàng Cô này chỉ biết chấp hai tay lại để khấn vái rằng:

“Đệ Tử vốn tạo các vọng nghiệp
Đều do vô thỉ tham, sân, si
Từ thân, miệng, ý phát sanh ra
Đệ Tử thảy đều xin sám hối”.

Đệ tử Tế Minh – Thiên Nhựt này đã niệm nhiều lần như vậy để cho tâm được an, thân được tịnh mà nào có an đâu. Tự dưng Đệ tử thấy rằng việc tự thiêu này của Hòa Thượng Liên Hoa là do mình chủ động, làm những việc quá sổ sàng để cho người tu thanh tịnh cảm thấy phạm giới; nhưng sáng nay nhờ đọc được bài kệ liễu đạo của Hòa Thượng lòng già này mới cảm thấy bớt chút ân hận mà thôi. Tuy nhiên cõi lòng sao trống vắng. Vì cứ cảm thấy là tội lỗi; nên phải sám hối tội lỗi của mình từ bao nhiêu kiếp trước đã gây nên cho đến kiếp này; dầu vô tình hay cố ý, để làm cho không biết bao nhiêu người khổ và cũng có thể chết vì mình. Do vậy cần phải sám hối. Già này đứng lên quỳ xuống nhiều lần. Cho đến lúc thiếp đi thì bên tai nghe văng vẳng tiếng của ai niệm Phật và giọng đọc kinh thật thanh thoát nhẹ nhàng.

Sám Khuyến Tu

“Thân bào ảnh lắm người yêu quý, Yêu quý thân cho lụy vì thân, Cuộc vui những ước vô ngần, Nào hay vui vẫn là nhân chát sầu! Kiếp phù thế bóng câu cửa sổ, Vóc huyễn hư giọt lộ, lòng hoa, Đôi mươi trẻ, tám mươi già, Số người yểu thọ, khó qua vô thường. Dép dưới giường, lên giường vội biệt, Sống ngày nay, dễ biết ngày mai? Mạng người hô hấp kinh thay! Nghĩ cơn vĩnh biệt tuyền đài mà đau. Xót duyên kiếp vì sao ngắn ngủi? Chấp thân chi để tủi cho thân, Da bao những thịt, xương, gân, Xác nầy như thể đống phân sạch gì? Tóc, răng, móng khác chi đất bợn, Mũi, dãi, đờm nên tởm xiết bao! Bên ngoài rệp chích, muỗi đeo, Bên trong sán, lãi lẫn vào nhớp chưa? Nỗi nóng bức, ngày trưa tiết hạ,

Cơn lạnh lùng, đêm giá trời đông, Xét thân nhơ khổ vô cùng, Xả lòng tham luyến, khởi lòng thoát ly. Trách người thế mê chi lắm nhẽ, Sánh phong lưu, phô vẻ y quan, Kẻ khờ cũng học đài trang, Để lòng điên đảo, theo đàng sắc thanh. Đầu xương sọ, cài trâm thắt lụa, Đãy da hôi, ướp xạ xông hương, Khéo đòi nhung gấm phô trương, Chỉ tuồng che lớp vô thường hôi tanh. Những mãn tưởng ngày xanh muôn tuổi, Lắm cơ mưu đeo đuổi yên hoa, Ngờđâu tai điếc, mắt lòa, Diêm Vương sắp rước đến tòa U minh. Làn tóc bạc đưa tin quỉ sứ, Góc răng long nhằm ý qui âm, Càng tài, càng sắc, càng dâm, Càng thêm đọa lạc, càng lầm mà thôi. Cuộc hành lạc một thời thương tiếc, Nẽo luân hồi muôn kiếp đắng cay, Đến khi sắp xuống diêm đài, Thịt xương đau nhức, chân tay rụng rời. Vợ lưu luyến, đầy vơi giọt lệ, Con tiếc thương, kể lễ khóc than, Dầu cho quyến thuộc muôn ngàn, Có ai thay thế cho chàng được đâu? Kẻ sống ở nặng quằn gánh tủi, Người chết đi dong ruổi phách hồn, Đường âm mờ tựa đêm hôm,

Trông ra quạnh quẽ bồn chồn chỉnh ghê. Nại hà đến lạnh tê gió lốc, Quỷ môn quan ghê gốc tiếng thương, Bảy ngày lìa quá cõi dương, Âm ty đã trải trăm đường hỏi tra. Tòa quan xử thét la chẳng vị, Ngục tốt hờm xoa chủy, đâu tha, Đài gương nghiệp cảnh chói lòa. Soi tường thiện, ác chối qua được nào. Người nhân đức đưa vào cõi phước, Kẻ hung hoang giải trước hình ty, Đọa đày thảm khổ xiết chi, Mới hay nhân quả mấy khi sai lầm. Rừng đao kiếm bao năm hết tội, Kiếp sừng, lông nhiều nỗi đa mang, Trả đền cho dứt nghiệp oan, Mới mong thoát khỏi con đàng long đong. Dù ai có to lòng, lớn mật, Mặc chàng hay báng Phật, khinh Tăng, Chẳng qua đối trước Diêm quân, Cúi đầu co gối chịu phần khảo tra. Hồn phách đã xa chơi âm giới, Thi hài còn nơi cõi dương gian, Có tiền mua lớp áo quan, Không tiền vùi chốn núi hoang lạnh lùng. Chất da thịt sẽ cùng tan rã. Tấm hình hài lần hóa tanh hôi, Chỉ trong hôm sớm mà thôi, Chầy năm bảy tháng, sớm thời ít hôm. Nét kiều diễm chập chờn xuân mộng,

Kiếp tài hoa hình bóng bạch vân, Khi xưa tài sắc mười phân, Mà nay một nắm cô phần lạnh tanh. Thời oanh liệt, hùng anh đâu tá, Nỗi ái ân hư, giả còn chi, Phất phơ cành liễu xanh rì, Giấy tiền treo đó, dường ghi mối sầu. Bóng chiều rũ xuống màu cỏ biếc, Bia mồ trơ một chiếc vắng không, Nghĩ thôi rơi lệ chạnh lòng, Đời người đến thế là xong một đời! Ví chẳng biết tìm nơi giải thoát, Nương về ngôi Chánh giác qui y, Luân hồi hẳn dứt có khi, Bên trời Bát Nhã còn chi lo phiền. Lối ma quỉ đừng riêng mưu sống, Đất từ bi gieo giống hoa Đàm, Giữ lòng thiện, dứt lòng tham, Gái, trai, Tăng, tục đều ham tu hành. Rõ cảnh mộng chớ quên đường mộng, Biết miền chơn, hãy chóng tu chơn, Dần dà tính thiệt so hơn, Tuổi xuân qua mất để hờn về sau. Sáu chữ Phật cùng nhau gắng niệm, Chín phẩm đài sen, chiếm ngôi vinh, Chớ nên mình phụ lấy mình, Trách sao Diêm lão vô tình chẳng dung. Bỏđiều ác xin cùng tu thiện, Chừa lỗi xưa, tu tiến đường sau, Lại vì quyến thuộc bảo nhau,

Cùng khuyên già trẻ sớm mau tu trì.
Khiến mỗi kẻ đồng qui bến giác,
Cho mọi người đều thoát sông mê,
Dù cho lao khổ dám nề,
Đài sen đốt mảnh hương thề nguyền xin...
Nguyền xin dốc tưởng tin lời Thánh.
Dám để cho rỗi rảnh, ưu du,
Kiếp nầy nếu chẳng chuyên tu,
Còn e kiếp khác công phu lỡ làng”.
Từ Hiền – Thích Thiền Tâm

Đã rõ đời là mộng rồi; nên Tế Minh – Thiên Nhựt này đêm nay cũng sẽ dùng mấy viên độc dược để đưa hồn mình về cõi hư vô. Có lẽ ta sẽ chưa siêu thoát được như Liên Hoa Hòa Thượng; nhưng biết đâu là một Bồ Tát giới tại gia, có chư Phật và chư Bồ Tát chứng minh cho tấm lòng thành sám hối của ta chăng?

Tế Minh – Thiên Nhựt viết những dòng chữ này gởi cho Ngài; nhưng chắc Ngài không đọc được. Vì tâm thức Ngài bây giờđang ở một cõi giới xa xăm nào đó; nhưng xin hồn Ngài bây giờ hướng về hậu liêu của chùa Đại Giác ở Đồng Nai này chứng minh cho một tâm hồn trong trắng, thoát tục.

Dẫu cho không được yêu khi còn sống; nhưng khi chết đi rồi, biết đâu hồn ta lại phiêu bạt đâu đây để gặp gỡ Ngài. Điều ấy sẽ là vinh hạnh cho ta lắm. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, toàn thân mặc áo quần trắng toát Hoàng Cô đã tự xử việc mình bằng mấy viên độc dược vào nữa đêm ngày mùng hai tháng 11 năm Quý Mùi (1823). Tuổi đời đã hơn 60 mùa xuân qua lại.

Ngày hôm sau thị tỳ mới cho chư Tăng chùa Đại Giác hay và mọi người chạy tới hộ niệm cho Bà. Trong số ấy không thiếu những người trách móc bà, là cái nhân chính đã làm cho Ngài Hòa Thượng Liên Hoa tự thiêu một cách oan uổng; giờđây bà còn chết tại chùa Đại Giác, khiến chư Tăng khó xử vô cùng. Vì bà là con vua; nên phải được chôn cất và tẩm liệm theo nghi thức. Đồng thời cũng có nhiều người cảm thương cho số phận của bà và họ niệm lớn lên câu:

“Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật”.

Trên đầu giường của bà thấy có một linh vị ghi hàng chữ như sau:

“Thích môn hộ giáo,
Hoàng Cô, thọ Bồ Tát giới,
Pháp danh Tế Minh tự Thiên Nhựt chi vị”.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn