Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Quyển 3

17/04/201312:39(Xem: 3931)
Quyển 3

Bồ Đề Tư Lương Luận

Thích Như Điển

Bản của Thánh Giả Long Thọ

- Tỳ Kheo Tự Tại giải thích

- Đại Tùy, Nam Ấn Độ Tam Tạng Đạt Ma Hấp Đa dịch từ Phạn văn ra Hán văn.

- Sa Môn Thích Như Điển, Phương Trượng chùa Viên Giác Hannover, Đức quốc, dịch từ Hán văn ra Việt văn ngày 30 tháng 6 năm 2004.

Quyển thứ ba

Lại nữa ý của Ngài

Các giác đều tư lương

Thật, xả cùng tịch trí

Bốn nơi đều được nhiếp.

Lại nữa có một luận sư liền nghĩ như thế nầy: Tất cả Bồ Đề Tư Lương đều được nhiếp bởi tất cả thật xứ, xả xứ, tịch xứ, tri xứ.

Thật nghĩa là chẳng hư cuồng tướng. Thật ấy tức là giới. Cho nên thật là Thi La (giới) Ba La Mật. Xả tức là bố thí. Cho nên xả xứ là Đa Na (thí) Ba La Mật. Tịch tức là tâm chẳng đục. Nếu tâm chẳng đục, ái chẳng ái, việc ấy chẳng thể động thì gọi là tịch xứ, làm Sằn Đề (nhẫn nhục) Ba La Mật và Thiền Na Ba La Mật. Biết xứ hoàn lại làm Bát Nhã Ba La Mật, Tỳ Nại Da Ba La Mật, biến nhập vào các xứ chẳng tinh tấn, làm cho những nơi như thế không có nơi thành tựu. Cho nên Tỳ Nại Da (luật) Ba La Mật thành tựu tất cả các việc. Cho nên tất cả tư lương đều nhập vào bốn nhiếp.

Hỏi: Như kinh nói và biết rằng từ là tư lương được tâm vô ngại; xả tư lương sẽ đoạn được ái ngầm; ở nơi ấy từ bi sai biệt như thế nào ?

Đáp rằng:

Đại bi thấu cốt tủy

Vì chúng sanh nương tựa

Như cha cùng con một

Từ tức khắp tất cả.

Nếu vào trong đường hiểm sanh tử, đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh các nơi; bị, lưới ác tà kiến bủa vây; lại bị ngu si che khuất, làm việc tà kiến phi đạo, giống như đui mù; chẳng thể ra khỏi liền làm cho ra khỏi. Vì già, bệnh, chết, ưu bi khổ não và giữa các chấp trước vào chỗ si mê ám chướng, xa ý của Phật. Bồ Tát đại bi lấy răng, da, thịt, xương nơi thân mình cho đến cốt tủy vì tất cả chúng sanh mà làm chỗ nương tựa, làm cho những chúng sanh nầy được độ; như thế sanh tử rộng rãi, hiểm nạn, đường ác đều để tất cả trí nơi thành ấy, chẳng sợ hãi gì. Giống như vị Trưởng Giả duy chỉ có một đứa con phước đức mà gặp bịnh khổ. Thương thay cốt nhục, da thịt mà lúc nào cũng muốn cho bịnh giảm. Lòng bi mẫn cũng như thế. Tuy ở nơi khổ của chúng sanh mà khởi tâm. Từ là biến khắp tất cả chúng sanh mà khởi. Lại nữa từ là ở nơi chúng sanh được vô ngại tâm. Bi là ở nơi sanh tử chẳng có sợ sệt. Lại nữa từ hay sinh ra người lành. Bi là hay sanh nơi người chẳng lành. Lại nữa lòng từ nơi Bồ Tát tăng trưởng chẳng đắm trước nơi kỷ nhạc, tức sanh đại từ. Bi tăng trưởng nên xả bỏ thân thể mạng sống. Liền sanh đại bi.

Nếu niệm công đức Phật

Hoặc nghe Phật thần biến

Ái hỷ mà nhận tịnh

Đây tên là Đại Hỷ.

Nếu kẻ niệm Phật công đức thì ở trong ấy cái gì là công đức Phật ?

Nghĩa là chư Phật Thế Tôn vô lượng trăm ngàn cho đến kiếp nầy tu tập thiện căn, chẳng giữ thân, khẩu, ý nghiệp. Năm loại nên biết mà đoạn trừ nghi. Bốn chủng đáp trong ấy khó mất. 37 trợ Bồ Đề Pháp học hỏi giữ gìn. 12 phần duyên sanh làm nhơn duyên giác. Dạy chín loại, 4 loại trụ trì đầy đủ, được bốn vô lượng; mãn đầy đủ 3 Ba La Mật; nói Bồ Tát Thập Địa. Xuất thế 5 chúng thành tựu đầy đủ. Bốn vô úy, thập lực, 18 pháp bất cộng Phật Pháp đều đầy đủ. Vô biên cảnh giới, tự tâm tự tại chuyển đổi, pháp vô yểm túc, được như Kim Cang Tam Ma Địa, chẳng nói pháp hư cấu; chẳng hay hoại pháp, Thầy của thế gian; chẳng thể thấy tướng; chẳng ta người, vô năng thắng; bất khả tư nghì pháp; được Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỷ, Đại Xả vậy. Có trăm phước tướng, vô lượng căn lành, vô biên công đức, vô lượng công đức, bất cộng công đức. Như thế có tên là Niệm Phật công đức.

Giáo hóa các chúng sanh, khởi thần thông biến hiện, tùy nơi mà độ chúng sanh. Tùy theo thân của chúng sanh. Tùy theo hình tướng cao thấp rộng hẹp. Tùy theo sắc loại khác nhau. Tùy theo âm thanh rõ ràng phân biệt mà chư Phật Thế Tôn có nhiều loại thần thông hy hữu khác nhau như điều muốn làm, như điều muốn tin. Dùng rất nhiều phương tiện khác nhau thần biến để mà hóa độ. Khi nghe việc nầy rồi, liền yêu, vui, thọ, tịnh. Tên gọi là Đại Hỷ. Ở nơi tâm khởi lên niềm yêu thương mạnh mẽ. Ái tâm ấy biến thân trở thành hỷ lạc. Hỷ tâm ấy hiểu biết rõ niềm vui gọi là thọ. Ở nơi thọ lạc ấy kẻ có niệm chánh giác là đại thần thông đức. Tâm ấy chẳng dơ; nên gọi là tịnh. Khi tâm kia tịnh thì ý vui đầy đủ; nên có tên là đại hỷ. Tâm kia đã chứng được ít nhiều; tuy lại chỉ còn hỷ, mà chẳng cùng kia được tên là đại hỷ.

Hỏi rằng: Bồ Tát muốn xả (bỏ) chúng sanh. Vì sao lại chẳng bỏ ?

Đáp rằng:

Bồ Tát nơi chúng sanh

Chẳng nên xả được vậy

Tùy nơi lực mà được

Tất cả lúc đều nhiếp.

Bồ Tát Ma Ha Tát thường niệm lợi lạc cho các chúng sanh. Nếu bị tham sân si làm não, làm chuyện keo kiệt, phá giới, sân hận, giải đãi, loạn tâm, ác trí vào nơi đường khác thì những chúng sanh nầy chẳng thể xả bỏ. Ở mọi nơi và mọi lúc phải nói về bố thí, trì giới và tu học. Tùy theo khả năng mà có thể nhiếp thọ, chẳng thể bỏ được.

Bồ Tát từ lúc đầu

Hay tùy theo năng lực

Phương tiện độ chúng sanh

Sanh vào nơi Đại Thừa

Đây là Đại Thừa Bồ Tát chứng từ nơi chúng sanh. Tùy theo khả năng mà khởi tâm để làm, như phía trước đã nói về phương tiện của Ba La Mật vậy. Phải nên tinh tấn cùng các phương tiện để giáo hóa chúng sanh và mang chúng sanh lên chỗ Đại Thừa.

Hỏi: Vì sao mà Bồ Tát chỉ vì Đại Thừa mà giáo hóa chúng sanh, lại chẳng phải là Thanh Văn, Độc Giác thừa ?

Đáp rằng:

Dạy hằng sa chúng sanh

Đắc được quả La Hán

Dạy một vào Đại Thừa

Phước nầy lại hơn kia.

Nếu giáo hóa cả hằng hà sa số chúng sanh được chứng quả A La Hán thì phước Đại Thừa nầy lại hơn cả phước của Thanh Văn Thừa. Vì hạt giống vô tận. Nơi ấy có hạt giống có thể làm cho tất cả chúng sanh tạo nên phương tiện của tâm Bồ Đề. Lại cũng có xuất sanh Thanh Văn, Độc Giác mà phước nầy lại hơn kia. Phước nầy hơn vậy, mà Đại Thừa thì trên cả Thanh Văn và Độc Giác Thừa. Lại nữa tâm Bồ Đề lại có vô lượng vô số phước đức. Lại do nơi Đại Thừa, chủng tử Tam Bảo chẳng mất. Vì vậy muốn cầu phước lớn nên vì Đại Thừa mà giáo hóa chúng sanh, chứ chẳng phải thừa nào khác.

Hỏi rằng: Các Ma Ha Tát ấy chỉ có khởi tâm Đại Thừa để giáo hóa chúng sanh, chứ không phải Thanh Văn, Độc Giác thừa sao ?

Đáp:

Dạy cho Thanh Văn Thừa

Cùng với Độc Giác Thừa

Nơi kia chỉ sức nhỏ

Chẳng thể sánh Đại Thừa.

Nếu ở nơi ý hạ liệt của chúng sanh, xả bỏ lợi tha, khiếm khuyết đại bi thì chẳng thể giáo hóa Đại Thừa. Cho nên vì Thanh Văn, Độc Giác Thừa mà hóa độ.

Hỏi: Nếu có chúng sanh chẳng thể giáo hóa Tam Thừa. Với cái kia thì nên xả hay chẳng xả vậy ?

Đáp:

Thanh Văn Độc Giác Thừa

Cùng với nơi Đại Thừa

Chẳng thể thọ giáo hóa

Nên để nơi phước đức.

Nếu có chúng sanh vui vẻ lúc sanh tử, ghét ác giải đãi thì chẳng phải nơi Thanh Văn Độc Giác mà vì Đại Thừa giáo hóa. Nên giáo hóa và để lên Phạm Thừa, tứ phạm hạnh. Nếu lại chẳng kham Phạm Thừa giáo hóa thì nên giáo hóa nơi Thiên Thừa thập thiện nghiệp đạo. Trong đó làm những việc phước bố thí chẳng nên xả bỏ.

Hỏi rằng: Nếu có chúng sanh hỷ lạc thế lạc; ở nơi ba phước chẳng thể được, thì người kia phải làm như thế nào?

Đáp rằng:

Nếu người chẳng kham thọ

Trời và nơi giải thoát

Liền vì lợi đời nầy

Như lực mà nhiếp cho.

Nếu có chúng sanh hay cầu dục lạc chẳng xem đời khác, thích nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chẳng thể giáo hóa làm cho sanh thiên giải thoát. Lại nên thương kia, biết như con nhỏ. Như thế đời nầy mà nên nhiếp thọ. Tùy theo năng lực của kia mà nhiếp thí cho. Thương ấy mà chẳng xả.

Hỏi: Nếu Bồ Tát ở nơi nầy giống như con nhỏ cùng với chúng sanh, chẳng có phương tiện, có thể nhiếp hóa thì nơi người kia phải làm như thế nào ?

Đáp rằng:

Bồ Tát nơi chúng sanh

Vô duyên hay giáo hóa

Hay khởi đại từ bi

Chẳng nên bỏ rời mất.

Nếu Bồ Tát ở nơi hỷ lạc tội ác có thể thương chúng sanh mà chẳng có phương tiện có thể nhiếp hóa, thì Bồ Tát ấy lại có thể khởi nhớ nghĩ về lòng đại từ bi, chẳng có đạo lý mà được xả thí.

Hỏi và đã trả lời về chúng sanh có thể tu nhiếp thọ, mà chưa biết nhiếp thọ phương tiện như thế nào?

Đáp rằng:

Bố thí nhiếp, thuyết pháp

Hoặc hay nghe thuyết pháp

Hay làm việc lợi tha

Đây là nhiếp phương tiện.

Chư Bồ Tát vì nhiếp thọ chúng sanh; hoặc bố thí làm nhiếp phương tiện, hoặc thọ của thí kia, hoặc vì kia mà thuyết pháp; hoặc nghe kia thuyết pháp; hoặc làm việc lợi tha; hoặc vì ái ngữ; hoặc đồng sự; hoặc nói những chỗ rõ ràng; hoặc dạy cho nghề nghiệp; hoặc thị hiện công việc làm; hoặc hiện bịnh để dụ; hoặc cứu bạt hiểm nạn ... như thế có tên là nhiếp thọ chúng sanh phương tiện. Với những phương tiện nầy nhiếp thọ chúng sanh, mà chẳng bỏ mất.

Hỏi về những nhiếp thọ phương tiện và sự nhiếp thọ chúng sanh rồi sẽ thành tựu lợi lạc ra sao ?

Đáp rằng:

Làm lợi ích cho chúng sanh

Chẳng nệ, chẳng phóng dật

Khởi nguyện vì Bồ Đề

Lợi thế tức tự lợi.

Ở trong nầy Bồ Tát tác nguyện vì lợi ích thế gian, phát ra ý như thế nầy: Phàm việc lợi của thế gian tất cả tôi đều sẽ làm. Lập thệ nguyện nầy rồi, vì chúng sanh mà làm, chẳng phải mệt nhọc,chẳng phải buông lung. Lại nghĩ như thế nầy: Nếu thế gian có lợi tức mình cũng được lợilạc. Cho nên Bồ Tát lấy sự lợi lạc của chúng sanh làm nhơn duyên, chẳng nên bỏ mất.

Hỏi và đã nói xong về Bồ Tát thường hay làm lợi lạc cho chúng sanh, chẳng nên xả bỏ và ở nơi các pháp có nên bỏ hay không nên bỏ ?

Đáp rằng:

Vào chỗ pháp giới sâu

Bỏ đi sự phân biệt

Tất chẳng có công dụng

Các xứ tự nhiên bỏ.

Pháp giới có nghĩa là duyên sanh; cho nên trước nói Như Lai hoặc ra đời hay chẳng xuất hiện nơi đời thì pháp giới tánh nầy vẫn thường trụ. Cho nên gọi là duyên sanh. Lại như trước đã nói: A Nan Đà! Duyên sanh thật khó chứng lại sâu xa. Cho nên khi vào trong pháp giới thậm thâm nầy của Bồ Tát diệt tất cả hữu vô và nhị biên. Nhiếp giữ phương tiện trí rồi, tức đoạn trừ các động niệm, hí luận phân biệt, lìa các chấp tướng. Các tâm, ý, thức, hành xứ tất cả đều chẳng làm được. Cho đến hành Phật, hành Bồ Đề, hành Bồ Tát, hành Niết Bàn ... tất cả đều chẳng thể làm được. Tức là ở nơi các pháp không thể có công dụng. Ở nơi những pháp đó được tịch tĩnh, lại được tịch tĩnh, tâm chẳng phân biệt tâm; nên có tên là đệ nhứt nghĩa xả bỏ. Đây tức là Bồ Tát vô phân biệt vậy. Đã nói về xuất thế gian xả rồi; nay ta sẽ nói về thế gian xả.

Lợi danh vui cả thảy

Bốn nơi đều chẳng đắm

Không đúng lại chẳng ngại

Đây có tên là xả.

Sự lợi dưỡng, tiếng tăm, tán thán, an lạc v.v... chẳng có chỗ đắm trước. Cùng với sự tương phản nầy vô lợi, vô danh, trong sự khổ ấy lại chẳng lùi bước, xả ly ái nhiễm mà ở nơi chẳng có thể phân biệt. Đây có tên là đệ nhứt thế gian xả.

Hỏi rằng nếu Bồ Tát ở nơi các pháp đã là đệ nhứt nghĩa xả rồi, vì Bồ Đề mà như lửa nơi áo thì phải làm gì để được ?

Đáp rằng:

Bồ Tát vì Bồ Đề

Cho đến lại chẳng lùi

Như áo kia bị cháy

Nên làm việc siêng năng

Tuy ở nơi các pháp nên xả mà Bồ Tát quyết định tu hành như lửa cháy áo; cho đến chẳng thể được bất thối chuyển Bồ Đề Bồ Tát. Vì Bồ Đề mà nên cần làm. Ở nơi đó Bồ Tát có 5 loại bất thoái Bồ Đề nhơn duyên cũng nên biết.

Thế nào là 5 ? - Như trong kinh Hoa Tụ nói: Hay nghe đầy đủ đại nguyện của các Bồ Tát và chư Phật Thế Tôn danh hiệu. Hay nguyện sanh về quốc độ của Phật Thế Tôn kia. Đây là 2 loại nhân duyên, thọ trì cũng như nói Bát Nhã Ba La Mật thâm kinh. Đây gọi là nhân duyên thứ 3. Tu tập hiện tiền trụ Tam Ma Địa và tùy hỷ đắc. Đây là nhân duyên thứ tư. Ở nhân duyên thứ tư nầy nói chưa thể được nhẫn Bồ Tát bất thối chuyển. Nếu mà Bồ Tát nầy trụ ở Bồ Tát bất động địa rồi liền được vô sanh nhẫn. Nói là cứu cánh quyết định bất thối chuyển (Đó là nhẫn thứ năm).

Hỏi rằng trong 4 loại nhân duyên ấy tùy vào một nhân duyên mà Bồ Tát được bất thối chuyển. Trước đã nói như cháy áo phải nên siêng làm và việc đó sẽ thành như thế nào ?

Đáp rằng:

Thiên nơi các Bồ Tát

Vì cầu quả Bồ Đề

Siêng năng chẳng dừng nghỉ

Như vật nặng nơi mình

Tuy lại trong 4 nhân duyên trên chỉ theo một nhân duyên, Bồ Tát đều được bất thối mà tinh tấn chẳng dừng nghỉ. Do trước đã nói lời như thế, ta nay làm cho chúng sanh đều chứng được Niết Bàn; giống như mang vật nặng nơi mình. Ở khoảng giữa ấy siêng năng chẳng nghỉ.

Hỏi rằng: Vì sao ở khoảng giữa siêng năng chẳng thể nghỉ ngơi ?

Đáp rằng:

Chưa sanh nhẫn đại bi

Tuy được bất thối chuyển

Bồ Tát vẫn phải chết

Nếu khởi lên biếng lười.

Ở nơi 4 nhân duyên tùy theo từng nhân duyên mà được bất thối chuyển Bồ Tát. Bồ Tát kia chưa sanh Đại Bi cho đến chưa được vô sanh nhẫn, ở khoảng giữa thọ nghiệp lực sanh tử do buông lung. Cho nên Bồ Tát nên siêng làm như lửa cháy áo. Vì đắc vô sanh nhẫn vậy. Ở nơi trung gian ấy siêng năng chẳng biếng lười

Hỏi rằng: Bồ Tát sao lại còn chết ?

Đáp rằng:

Thanh Văn, Độc Giác địa

Vì phương tiện vào tử

Chỉ trừ nơi Bồ Tát

Họ vì giải các căn.

Như trước đã nói về 4 loại nhân duyên. Tùy theo nhân duyên gì mà được bất thối chuyển. Bồ Tát nầy chưa có đầy đủ đại bi, chưa được nhẫn, chưa qua khỏi Thanh Văn, Độc Giác địa. Hoặc có lực của bạn ác, sợ khổ sanh tử; hoặc thọ sanh ở đoạn giữa vậy. Hoặc lúc kiếp hoại Bồ Tát ngờ vực hủy báng chánh pháp, mất tâm Bồ Đề, khởi lên tâm của Thanh Văn, Độc Giác địa; hoặc ở nơi Thanh Văn giải thoát; hoặc ở nơi Độc Giác giải thoát tự chứng. Kia đoạn mất căn lành của Bồ Tát. Cho nên với lòng đại bi chư Bồ Tát cùng Phật Thế Tôn gọi tên là giải tri tử.

Hỏi rằng: Ở đây nên nghĩ như thế nào về Bồ Tát sợ ở chỗ dơ nhớp, vì sợ vào Thanh Văn, Độc Giác địa ?

Đáp rằng:

Giả sử rơi bùn nhơ

Bồ Tát chẳng nên sợ

Thanh Văn, Độc Giác địa

Nên vì sợ hãi lớn

Bồ Tát sẵn sàng ở chỗ bùn nhơ cùng với vô số trăm ngàn sự khổ sở, chẳng sợ rơi vào Thanh Văn, Độc Giác địa.

Hỏi rằng: Vì sao thế ?

Đáp rằng:

Chẳng rơi vào bùn nhơ

Thành chướng ngại Bồ Đề

Thănh Văn, Độc Giác địa

Tức là cảnh chướng ngại

Vào nơi bùn nhơ, ở nơi chánh giác, chẳng thể tạo nên sự chướng ngại. Khi ở nơi bùn nhơ đó cho đến nghiệp ác hết rồi. Ở nơi con đường giác ngộ dần đến chướng ngại. Bồ Tát hoặc rơi vào Thanh Văn, Độc Giác địa, tức cứu cánh chẳng sanh Thanh Văn, Độc Giác địa. Ở nơi chánh giác đạo lại bị chướng ngại. Do ở nghĩa nầy mà Bồ Tát vào nơi bùn nhơ, chẳng sợ rơi vào Thanh Văn, Duyên Giác địa.

Hỏi rằng: Sự sợ hãi như thế nào ?

Đáp rằng:

Như nói người sống lâu

Hay sợ bị mất đầu

Thanh Văn, Độc Giác địa

Phải sợ cũng như thế.

Trong kinh Đức Phật Thế Tôn đã nói rằng: Như người ham sống, sợ mất đầu, Bồ Tát muốn cầu vô thượng Bồ Đề thì sợ Thanh Văn và Độc Giác địa. Lại cũng như thế, cho nên Bồ Tát tuy vào bùn nhơ nhưng chẳng sợ rơi vào Thanh Văn và Độc Giác địa.

Hỏi rồi được đáp là các Bồ Tát chưa được vô sanh nhẫn còn bị pháp chướng ngại. Vậy những Bồ Tát nầy sẽ được vô sanh nhẫn như thế nào ?

Đáp rằng:

Chẳng sanh lại chẳng diệt

Chẳng chẳng sanh, chẳng diệt

Chẳng đủ, nói chẳng đủ

Không, chẳng không cũng thế

Ở đây khi Bồ Tát quán duyên sanh thì liền nhớ nghĩ rằng có nhân duyên sanh tạo ra pháp. Như trong vô sanh lại có hữu sanh. Cho nên tự thể của sanh chẳng có. Tự thế chẳng có thì sự sanh tức chẳng có. Nếu sanh, tự thể chẳng thật. Vậy thì sự mất chia hai. Cả hai đều vô thể như sanh diệt. Sự chẳng sanh và chẳng diệt kia cũng là hai. Lại 2 ấy cũng vô thể. Ở trong 2 loại sanh diệt đó, sanh chẳng sanh, diệt chẳng diệt. Lại chẳng có hỗ tương nhau vậy. Không cũng như thế. Như có cái vô tự thể. Cái không kia và không chẳng không cũng lại như vậy.

Hỏi rằng: Nếu nhớ nghĩ các pháp đều do duyên sanh vô tự thể thì tại sao lại phải nhớ nghĩ là chẳng có pháp duyên sanh ?

Đáp rằng:

Tùy theo pháp sở hữu

Trong đó quán bất động

Kia tức vô sanh nhẫn

Lìa các phân biệt kia.

Như thế Bồ Tát như thật quán nhân duyên thì được lìa các pháp tự thể. Lìa cái thấy tự thể rồi tức đoạn pháp chấp giữ tự thể, được đoạn pháp tự thể thì liền nhớ nghĩ chẳng có pháp trong ngoài, mà vô pháp tự thể. Chỉ có pháp duyên sanh, giống như bó cỏ, huyễn mộng. Các pháp từ duyên sanh mà tự thể của nó chẳng sanh. Khi quán như thế rồi, các Sa Môn, Bà La Môn lại chẳng hay động mà thủ chứng. Kia lạc quan nơi pháp vô sanh, đoạn các phân biệt vậy. Nên gọi là vô sanh nhẫn. Bồ Tát nầy tức là Bồ Tát ở nơi Bất Động địa. Lại có kệ rằng:

Rộng vào nhẫn nầy rồi

Tức thời được thọ ký

Ngươi tức đương làm Phật

Liền được chẳng thoái chuyển.

Khi được vô sanh nhẫn nầy rồi tức được chẳng trước chẳng sau, chư Phật hiện tiền thọ ký làm Phật. Ngươi ở đời vị lai ở lúc đó, thế giới đó, kiếp đó sẽ làm vị Phật đó Như Lai ứng chánh biến tri. Đây có tên là Bồ Tát Bất Thối chuyển.

Hỏi rằng: Từ trụ Sơ Địa đến 7 địa của Bồ Tát tất cả đều quyết định hướng đến Tam Bồ Đề. Vì sao chẳng nói vì bất thối chuyển? Tuy nói trụ ở bất động địa Bồ Tát làm bất thối chuyển ?

Đáp rằng:

Đã trụ bất động các Bồ Tát

Được nơi pháp rồi trí bất thoái

Trí kia nhị thừa khó chẳng được

Cho nên có tên là bất thối.

Đây có nghĩa là có lòng tin xuất thế gian thiện căn. Các Thanh Văn, Độc Giác cho đến ở 7 địa của Bồ Tát chẳng thể chướng ngại làm cho thoái chuyển. Cho nên có tên là bất thoái chuyển. Chẳng phải là 10 loại Bồ Tát và Tam Bồ Đề ở nơi các pháp bất thối chuyển vậy. Đã nói về nhân duyên bất thối chuyển. Ở trong nầy lại được thọ ký thù thắng. Trong Đại Thừa nói có 4 loại thọ ký. Nghĩa là chưa phát tâm Bồ Đề thọ ký cùng phát tâm Bồ Đề thọ ký. Ổn phúc thọ ký và hiện tiền thọ ký. Đó là 4 loại thọ ký. Ở trong đó chưa phát tâm Bồ Đề thọ ký là người nầy lợi căn đầy đủ tăng thêm niềm tin. Chư Phật Thế Tôn chẳng ngại dùng Phật nhãn quán sát rồi mà vì đó thọ ký. Cùng với phát tâm Bồ Đề thọ ký nghĩa là thành thục thọ căn trồng cây giác ngộ trước rồi mới tu tập. Gốc nầy mạnh dần và được tăng thượng hạnh, lại muốn làm giải thoát cho các chúng sanh, tức khi phát tâm liền nhập bất thối chuyển. Chẳng đọa lạc, rơi vào tám sự không nhàn (8 nạn). Người nầy hoặc nghe tự thọ ký. Ở nơi lục ba la mật chẳng phát tâm siêng năng. Như thế chẳng nghe mà phát tinh tấn làm cho chẳng nghe. Muốn cho người khác nghe điều thọ ký nầy, đoạn lìa tâm nghi, Phật dùng oai thần ổn phúc thọ ký. Nếu có Bồ Tát thành thục xuất thế 5 căn, được vô sanh nhẫn, trụ ở Bồ tát bất động địa. Người kia tức là hiện tiền thọ ký. Đây là 4 loại thọ ký. Kia được vô sanh nhẫn Bồ Tát rồi mới quyết định. Chư Phật Thế Tôn hiện tiền thọ ký. Lại cũng có mật ý thọ ký nữa. Đây là loại thứ 5 như kinh Pháp Hoa nói:

Ta nay đều tùy hỷ

Đại tâm mật ý ngữ

Như thọ ký bậc thánh

Chẳng sợ! Xá Lợi Phất

Ta nay lại sẽ được

Thành Phật, đời trên hết

Lại nữa lời bí mật

Nói vô thượng chánh giác.

Đó là nghĩa gì? - Gọi là biệt ngữ thọ ký. Có vị luận sư nói: Vì làm cho kẻ chưa nhập quyết định Thanh Văn Thừa phát tâm Bồ Đề. Lại nữa người phát tâm Bồ Đề là sơ nghiệp Bồ Tát vậy. Sợ cái khổ của sự lưu chuyển muốn ở chỗ Niết Bàn của Thanh Văn thủ diệt độ, làm cho Bồ Đề tâm ấy kiên cố. Lại nữa ở đây có khác với Phật độ và Bồ Tát. Ở nơi nầy tụ tập, lúc giờ thọ ký đến thì có tên tương tợ vì kia mà thọ ký cho. Các luận sư phân biệt như thế gọi là biệt ngữ thọ ký. Ở trong ấy cái nghĩa trân quý chỉ có Phật Thế Tôn là hay biết được.

Bồ Tát cho đến được

Chư Phật ở hiện tiền

Kiên cố Tam Ma Đề

Chẳng nên khởi buông lung

Chư Phật hiện tiền Tam Ma Đề được rồi mà ở đó thì gọi là: Hiện tiền chư Phật hiện kỳ tiền trụ Tam Ma Đề vậy. Tam Ma Đề có nghĩa là bình đẳng trụ. Bồ Tát cho đến những vị chưa chứng Tam Ma Đề thời gian nầy chẳng nên buông lung. Vì chưa được Tam Ma Đề. Bồ Tát do đọa vào cảnh ác, chưa lìa được sự nhàn định (8 nạn). Cho nên phải được Tam Ma Đề nầy thì chẳng nên buông lung. Nếu đã chứng Tam Ma Đề rồi, thì những sự sợ hãi kia tất cả đều sẽ được giải thoát.

Tam Ma Đề nầy có 3 loại. Đó là: Sắc phan duyên, Pháp phan duyên và Vô phan duyên. Ở nơi ấy nếu phan duyên Như Lai hình sắc tướng hảo đẹp đẽ nơi thân mà nhớ đến Phật thì Sắc phan duyên Tam Ma Đề. Nếu lại phan duyên 10 danh hiệu và thân có 10 lực vô úy, chẳng cùng Phật Pháp và vô lượng màu sắc cũng như công đức của Phật mà nhớ nghĩ đến Phật thì đây là Pháp phan duyên Tam Ma Đề. Nếu lại chẳng phan duyên về sắc, chẳng phan duyên về pháp, lại chẳng có ý nhớ nghĩ đến Phật, lại chẳng thể được, xa rời các tướng không, Tam Ma Đề. Đây gọi tên là Vô phan duyên Tam Ma Đề. Ở nơi sơ phát Bồ Đề tâm của Bồ Tát được Sắc phan duyên Tam Ma Đề rồi nhập vào hạnh Pháp phan duyên, được vô sanh nhẫn gọi là Vô phan duyên. Đây cũng có tên là được quyết định, tự tại vậy. (Phan duyên = Alambana = tâm không tự khởi lên).

Chư Phật hiện tiền trụ

Kiên cố Tam Ma Đề

Đây là cha Bồ Tát

Đại bi nhẫn là mẹ.

Đây đã nói về Tam Ma hiện tại, Phật hiện tiền trụ Tam Ma Đề, nhiếp các công đức của Bồ Tát và công đức của chư Phật. Nên nói là cha của các Bồ Tát vậy. Còn đại bi nằm ở nơi sanh tử lưu chuyển mà chẳng sanh mệt nhọc; lại ở nơi Thanh Văn, Độc Giác địa hiểm ngạn, mà luôn luôn hộ trì, làm cho chẳng đọa lạc nên nói là mẹ. Sự nhẫn nhục là nhẫn của Bồ Tát, ở nơi lưu chuyển khổ và các ác chúng sanh, mà chẳng sợ lưu chuyển, chẳng rời bỏ chúng sanh và Bồ Đề, chẳng sanh ý xa rời. Cho nên có tên là nhẫn, lại làm mẹ của các Bồ Tát vậy. Lại có kệ rằng:

Trí độ ấy làm mẹ

Phương tiện ấy làm cha

Sanh ra là giữ lấy

Nói Bồ Tát mẹ cha.

Đây là Bát Nhã Ba La Mật sanh ra các pháp của Bồ Tát vậy. Phật nói Bát Nhã Ba La Mật Đa là mẹ của các Bồ Tát. Pháp của các Bồ Tát đều từ Bát Nhã Ba La Mật sanh ra rồi, vì phương tiện thiện xảo mà giữ gìn; chẳng cho hướng đến Thanh Văn, Độc Giác địa hiểm ngạn; nên có tên là trì Bồ Đề. Nói là công xảo phương tiện, vì là cha của Bồ Tát.

Hỏi rằng: Bồ Tát có bao nhiêu phước đức để có thể chứng Bồ Đề ?

Đáp rằng:

Ít ít tích tụ phước

Chẳng thể được Bồ Đề

Trăm Tu Di sánh phước

Hơn thế có thể được

Đề Đề nghĩa là tất cả trí tri. Cái trí ấy cùng với vô ứng trí. Ứng trí cùng với hư không. Hư không vô biên; nên ứng trí lại cũng vô biên. Cái phước có giới hạn thì chẳng thể được cái vô biên trí. Cho nên tích tụ phước ít thì chẳng thể được Bồ Đề. Thì làm sao có thể sánh được cái phước của một trăm núi Tu Di, mà gom góp lại để có thể được.

Luận Bồ Đề Tư Lương

Hết Quyển ba

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn