Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 19: Kinh Địa Tạng giải nghĩa

10/02/201621:17(Xem: 425)
Bài 19: Kinh Địa Tạng giải nghĩa

KINH

ĐỊA TẠNG BẢN NGUYỆN

Hán Dịch: Tam Tạng Pháp Sư Pháp Đăng 
Việt Dịch: HT Thích Trí Tịnh

GIẢI NGHĨA

(Tiếp theo)

Toàn Không

 

2) TRƯỞNG GIẢ BẠCH HỎI

- Khi Ngài Địa-Tạng nói lời như thế xong, trong pháp hội có một vị Trưởng Giả tên là Đại Biện.

Ông Trưởng Giả từ lâu đã chứng quả vô sanh hiện thân Trưởng Giả để hóa độ chúng sanh trong mười phương, ông chắp tay cung kính mà thưa hỏi Ngài Địa-Tạng Bồ Tát rằng:

“Thưa Đại Sĩ! Trong cõi Nam Diêm Phù Đề có chúng sanh nào sau khi mạng chung, mà hàng quyến thuộc hoặc người lớn kẻ nhỏ, vì người chết đó mà tu các công đức, cho đến thiết trai cúng dường, làm những phước lành, thời người chết đó, có đặng lợi ích lớn cùng đặng giải thoát chăng?”

GIẢI NGHĨA

     Từ đoạn 2 này, chúng ta thấy một nhân vật mới, đó là Trưởng Giả Đại Biện, tên của vị Trưởng Giả này là tiêu biểu của biện luận thảo luận rộng lớn có ý nghĩa sâu xa, vì liên quan tới những việc khó biết được, rộng lớn về vấn đề gì? Đó là: “Có chúng sanh nào sau khi mạng chung, mà hàng quyến thuộc hoặc người lớn kẻ nhỏ, vì người chết đó mà tu các công đức, cho đến thiết trai cúng dường, làm những phước lành, thời người chết đó, có được lợi ích lớn cùng được giải thoát chăng?”Đây là câu hỏi do Trưởng Giả Đại Biện hỏi Ngài Bồ Tát Địa Tạng vậy.

3) KẺ CÒN, NGƯỜI MẤT ĐỀU ĐƯỢC LỢI

- Ngài Bồ Tát Địa-Tạng đáp rằng: “Này ông Trưởng Giả! Nay tôi vì tất cả chúng sinh trong hiện tại này cùng thuở vị lai sau, nương nơi oai thần của Đức Phật mà nói lược về việc đó.

Này ông Trưởng Giả! Những chúng sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe đặng danh hiệu của một Đức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát hay danh hiệu của một Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được giải thoát cả.

Như có người nam cùng người nữ nào lúc sinh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ vì người chết mà tu tạo phước lợi làm tất cà việc về Thánh đạo, thời trong bảy phần công đức người chết nhờ đặng một phần, còn sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó.

Bởi vì cớ trên đây, nên những người thiện nam cùng thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng mà tu hành thời được hưởng trọn phần công đức.

Con quỉ dữ vô thường kia không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mờ chưa rõ là tội hay phước, trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong thời cứ y theo nghiệp mà thọ lấy quả báo.

Trong lúc mà chưa biết chắc ra làm sao đó thời đã nghìn muôn sầu khổ, huống là phải bị đọa vào các ác đạo.

Thần hồn người chết đó khi chưa được thụ sinh, ở trong bốn mươi chín ngày, luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho.

Qua khỏi bốn mươi chín ngày thời cứ theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. Người chết đó, nếu là kẻ có tội thời trải qua trong nghìn năm không có ngày nào được thoát khỏi khổ.

Còn nếu là kẻ phạm năm tội vô gián thời phải đọa vào đại địa ngục chịu mãi những sự đau khổ trong nghìn kiếp muôn kiếp.

Lại vầy nữa, này ông Trưởng Giả! Sau khi những chúng sanh gây phạm tội nghiệp như thế mạng chung, hàng cốt nhục thân quyến có làm chay để giúp thêm phước lành cho người chết đó.

Thời khi sắm sửa chưa rồi, cùng trong lúc đương làm chớ có đem nước gạo, lá rau v.v... đổ vãi ra nơi đất, cho đến các thứ đồ ăn chưa dưng cúng cho Phật cùng Tăng thời chẳng được ăn.

Nếu như ăn trái phép và không được tinh sạch kỹ lưỡng, thời người chết đó trọn không được mảy phước nào cả.

Nếu có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch đem dâng cúng cho Phật cùng Tăng, thời trong bảy phần công đức người chết hưởng được một phần.

Nầy ông Trưởng Giả! Vì thế nên những chúng sanh trong cõi Diêm Phù, sau khi cha mẹ hay người thân quyến chết, nếu có thể làm chay cúng dường, chí tâm cầu khẩn thời những người như thế, kẻ còn lẫn người mất đều đặng lợi ích cả”.

Lúc Ngài Địa-Tạng nói lời này, tại cung trời Đao Lợi có số nghìn muôn ức na-do-tha Quỉ Thần cõi Diêm-Phù-Đề, đều phát tâm Bồ-Đề vô lượng.

Ông Trưởng Giả Đại-Biện vui mừng vâng lời dạy, làm lễ mà lui ra.

GIẢI NGHĨA

     Ngài Địa Tạng đáp:“Những chúng sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe được danh hiệu của một Đức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát hay danh hiệu của một Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được giải thoát cả”. Nghĩa là người nào sắp qua đời mà được nghe danh hiệu Phật hay Đại Bồ Tát thì người đó đều được thoát khỏi khổ, chứ chẳng phải được giải thoát thành Phật đâu; tại sao nghe danh hiệu Phật hay Bồ Tát được thoát  khỏi khổ?

     Vì khi được nghe danh hiệu Phật hay Bồ Tát tức là được nghe những lời Kinh dạy bảo, thì người đó sẽ hồi tâm nhận ra điều lành điều ác. Rồi sám hối những tội lỗi đã gây ra và nghĩ đến các điều thiện, người ấy vui vẻ chấp nhận những đau khổ đang xảy đến với mình, không còn cảm thấy buồn khổ nữa, mà có tâm vui mừng được gặp Phật pháp chưa từng nghe biết, do đó người ấy sẽ ra đi nhẹ nhàng vào nơi tốt lành hơn.

     Chứ chẳng phải người sắp qua đời nghe danh hiệu Phật hay Bồ Tát thì được giải thoát do các Ngài dùng thần lực khiến cho người ấy được giải thoát nhập Niết Bàn đâu, nếu hiểu được giải thoát nhập Niết Bàn, như vậy là một sự lầm lẫn to lớn đó. Cũng chẳng phải người nghe danh hiệu Phật hay Bồ tát không cần suy nghĩ lời Kinh dạy, không cần hồi tâm sám hối các việc làm ác, không cần nghĩ đến các điều thiện, mà người ấy được giải thoát khỏi khổ đâu mà lầm vậy.

     Câu trả lời kế, Ngài Địa Tạng nói rằng: “Như có người nam cùng người nữ nào lúc sinh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người ấy mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ vì người chết mà tu tạo phước lợi làm tất cà việc về Thánh đạo”. Đây là những người quyến thuộc vì người chết mà làm các việc thiện như ăn chay, bố thí, in ấn Kinh sách của Phật, tụng Kinh tu hành, thì sẽ có công đức hồi hướng cho người chết. Do đó:“Thời trong bảy phần công đức người chết nhờ được một phần, còn sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó”.

     “Bởi vì cớ trên đây, nên những người thiện nam cùng thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng mà tu hành thời được hưởng trọn phần công đức”, tức là những ngườiđang sống nên cố gắng tu hành tạo phúc thì được hưởng công đức và còn có thể cứu độ giúp cho người thân thoát khổ vậy.

     “Con quỉ dữ vô thường kia không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mờ chưa rõ là tội hay phước, trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong thời cứ y theo nghiệp mà thọ lấy quả báo”. Nghĩa làcái chết đến bất cứ lúc nào, khi mới chết thần thức bơ vơ mịt mờ, như lạc vào nơi xa lạ, hoang mang bối rối, lo lắng buồn rầu, cho đến khi nghiệp qủa quyết định nơi phải thọ báo trong vòng bốn mươi chín ngày, thì phải theo nghiệp mà thọ quả báo.

     Ngài Địa Tạng cho biết: Người chết nếu là kẻ có tội nặng thì phải ở trong Địa Ngục trong nghìn năm mới được ra, nếu là kẻ phạm năm tội Vô Gián thì phải đọa vào Đại Địa Ngục, chịu những sự đau khổ trong nghìn, muôn kiếp.

     Ngài nói thêm đại ý: Sau khi những chúng sinh gây tội qua đời, hàng thân quyến có làm chay để giúp thêm phước lành cho người chết thì khi các thức ăn dâng cúng phải tinh sạch, lúc chưa dâng cúng cho Phật cùng Tăng thì chẳng được ăn trước. Làm được như vậy thì nếu được bảy phần công đức, trong đó người chết hưởng được một phần, người sống được sáu phần, như thế, kẻ còn lẫn người mất đều được lợi ích cả.

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn