Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 11: Kinh Địa Tạng giải nghĩa

22/12/201507:21(Xem: 908)
Bài 11: Kinh Địa Tạng giải nghĩa

KINH

ĐỊA TẠNG BẢN NGUYỆN

Hán Dịch: Tam Tạng Pháp Sư Pháp Đăng 
Việt Dịch: HT Thích Trí Tịnh

GIẢI NGHĨA

(Tiếp theo)

Toàn Không

 

 (5) TỨ THIÊN VƯƠNG HỎI PHẬT.

 

     Bấy giờ, bốn ông Thiên Vương đồng từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Bồ Tát Địa-Tạng từ kiếp lâu xa nhẫn lại đã phát nguyện rộng lớn như thế, tại sao ngày nay mà vẫn độ chưa hết, Ngài lại còn phải phát lời nguyện rộng lớn nữa? Cúi mong đức Thế-Tôn dạy cho chúng con rõ”.

Đức Phật bảo bốn vị Thiên Vương rằng: “Hay thay!Hay thay! Nay vì muốn được sự lợi cho chúng sanh, Ta vì các ông cùng chúng thiên nhân ở hiện tại và vị lai, mà nói những sự phương tiện của Ngài Bồ Tát Địa-Tạng ở trong đường sanh tử nơi Diêm-Phù-Đề ở Ta-Bà thế giới này, vì lòng từ mẫn xót thương mà cứu vớt, độ thoát tất cả chúng sanh mắc phải tội khổ”.

Bốn ông Thiên Vương bạch rằng: “Vâng! Bạch đứcThế-Tôn! Chúng con xin muốn được nghe”.

 (6) PHƯƠNG TIỆN GIÁO HÓA.

 

     Đức Phật bảo bốn ông Thiên Vương rằng: “Từ kiếp lâu xa nhẫn đến ngày nay, Ngài Bồ Tát Địa-Tạng độ thoát chúng sanh vẫn còn chưa mãn nguyện, Ngài thương xót chúng sanh mắc tội khổ đời này, lại quan sát vô lượng kiếp về sau, tội khổ cứ lây dây mãi không dứt.

Vì lẽ đó nên Ngài phát ra lời trọng nguyện.

Bồ Tát Địa-Tạng ở trong cõi Diêm-Phù-Đề nơi thế giới Ta-Bà, dùng trăm nghìn muôn ức phương chước để giáo hóa chúng sanh.Nầy bốn ông Thiên Vương! Ngài Bồ Tát Địa-Tạng nếu gặp kẻ sát hại loài sanh vật, thời dạy rõ quả báo vì ương lụy đời trước mà phải bị chết yểu.

- Nếu gặp kẻ trộm cắp, thời Ngài dạy rõ quả báo nghèo- khốn khổ sở.- Nếu gặp kẻ tà dâm thời Ngài dạy rõ quả báo làm chim se-sẻ, bồ câu, uyên-ương.

-Nếu gặp kẻ nói lời thô ác, thời Ngài dạy rõ quả báo quyến thuộc kình chống nhau.

- Nếu gặp kẻ hay khinh chê, thời Ngài dạy rõ quả báo không lưỡi, miệng lở.

- Nếu gặp kẻ nóng giận, thời Ngài dạy rõ quả báo thân hình xấu xí tàn tật.

- Nếu gặp kẻ bỏn xẻn, thời Ngài dạy rõ quả báo cầu muốn không được toại nguyện.

- Nếu gặp kẻ buông lung săn bắn, thời Ngài dạy rõ quả báo kinh hãi điên cuồng mất mạng.

-Nếu gặp kẻ trái nghịch cha mẹ, thời Ngài dạy rõ quả báo trời đất tru lục.

- Nếu gặp kẻ đốt núi rừng cây cỏ, thời Ngài dạy rõ quả báo cuồng mê đến chết.

- Nếu gặp cha ghẻ, mẹ ghẻ ăn ở độc ác, thời Ngài dạy rõ quả báo thác sanh trở lại hiện đời bị roi vọt.

- Nếu gặp kẻ dùng lưới bắt chim non, thời Ngài dạy rõ quả báo cốt nhục chia lìa.

- Nếu gặp kẻ hủy báng Tam-Bảo, thời Ngài dạy rõ quả báo đui, điếc, câm, ngọng.

- Nếu gặp kẻ khinh chê giáo pháp thời Ngài dạy rõ quả báo ở mãi trong ác đạo.

- Nếu gặp kẻ lạm phá của thường trụ, thời Ngài dạy rõ quả báo ức kiếp luân hồi nơi địa ngục.

- Nếu gặp kẻ ô nhục người hạnh thanh tịnh và vu báng Tăng già, thời Ngài dạy rõ quả báo ở mãi trong loài súc sanh.

- Nếu gặp kẻ dùng nước sôi hay lửa, chém chặt, giết hại sinh vật, thời Ngài dạy rõ quả báo phải luân hồi thường mạng lẫn nhau.

- Nếu gặp kẻ phá giới phạm trai, thời Ngài dạy rõ quả báo cầm thú đói khát.

- Nếu gặp kẻ phung phí phá tổn của cải một cách phi lý, thời Ngài dạy rõ quả báo tiêu dùng thiếu hụt.

- Nếu gặp kẻ tao ta kiêu mạn cống cao, thời Ngài dạy rõ quả báo hèn hạ bị người sai khiến.

- Nếu gặp kẻ đâm chọc gây gỗ, thời Ngài dạy rõ quả báo không lưỡi hay trăm lưỡi.

- Nếu gặp kẻ tà kiến mê tín, thời Ngài dạy rõ quả báo thọ sanh vào chốn hẻo lánh.

Những chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Đề, từ nơi thân khẩu ý tạo ác, kết quả trăm nghìn muôn sự báo ứng như thế, nay chỉ nói sơ lược đó thôi.

Những nghiệp cảm sai khác của chúng sanh trong chốn Diêm-Phù-Đề như thế, Địa-Tạng Bồ Tát dùng trăm nghìn phương chước để giáo hóa đó.

Những chúng sanh ấy trước phải chịu phải chịu lấy các quả báo như thế, sau lại đọa vào địa ngục trải qua nhiều kiếp không lúc nào thoát khỏi.

Vì thế nên các ông là bậc hộ vệ người cùng bảo trợ cõi nước, chớ để những nghiệp chướng đó nó làm mê hoặc chúng sanh.

Bốn ông Thiên Vương nghe xong, rơi lệ than thở chấp tay lễ Phật mà lui ra.

GIẢI NGHĨA

     Bốn ông Thiên Vương đồng từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế-Tôn! Ngài Bồ Tát Địa-Tạng từ kiếp lâu xa nhẫn lại đã phát nguyện rộng lớn như thế, tại sao ngày nay mà vẫn độ chưa hết, Ngài lại còn phải phát lời nguyện rộng lớn nữa? Cúi mong đức Thế-Tôn dạy cho chúng con rõ”. Đại ý Tứ Thiên Vương thắc mắc hỏi Phật, hai vấn đề rằng:

1. Bồ Tát Địa Tạng đã phát nguyện nhiều lần từ vô lượng kiếp về trước, mà sao cho đến nay vẫn chưa cứu độ hết? Về điểm thứ nhất này, Đức Phật bảo bốn ông Thiên Vương rằng: “Từ kiếp lâu xa nhẫn đến ngày nay, Ngài Bồ Tát Địa Tạng độ thoát chúng sanh vẫn còn chưa mãn nguyện”, nghĩa là tâm chúng sinh còn qúa thịnh hành, chưa diệt hết các tâm tham, sân, tà kiến, mạn, đố kỵ, ganh ghét, v. v… thì không thể nào xong việc được, chẳng thể hết tâm chúng sinh thì chẳng thể giải thoát nên chẳng thể mãn nguyện.

2. Tại sao Ngài Địa Tạng lại còn phải phát lời nguyện rộng lớn nữa? Về điểm thứ hai này, Đức Phật bảo rằng: “Ngài thương xót chúng sanh mắc tội khổ đời này, lại quan sát vô lượng kiếp về sau, tội khổ cứ lây dây mãi không dứt”. Nghĩa là chúng sinh mắc tội thọ hình xong ra khỏi, lại làm ác mắc tội nữa, vì tâm chúng sinh vô minh, không kiên trì mà thay đổi nay thế này mai thế khác mãi mãi như thế, nên vì lòng thương xót chúng sinh mà Ngài liên tiếp phát nguyện cứu độ chúng sinh.

     Đức Phật nói: “Bồ Tát Địa-Tạng ở trong cõi Diêm-Phù-Đề nơi thế giới Ta-Bà, dùng trăm nghìn muôn ức phương chước để giáo hóa chúng sanh”, nghĩa là Bồ Tát dùng vô số phương pháp để dạy chúng sinh thoát khổ. Đức Phật nói tiếp: “Nầy bốn ông Thiên Vương! Ngài Bồ Tát Địa-Tạng nếu gặp kẻ sát hại loài sinh vật, thời dạy rõ quả báo vì ương lụy đời trước mà phải bị chết yểu”, nghĩa là Ngài lưu ý chúng sinh, tâm nên nhớ nếu người nào thường hay giết hại chúng sinh thì sẽ có qủa báo đời sau bị chết non chết trẻ. “Nếu gặp kẻ trộm cắp, thời Ngài dạy rõ quả báo nghèo khốn khổ sở, v.v…”, nghĩa là vì trộm cướp lừa đảo lường gạt để chiếm tiền bạc của cải của người khác thì khi tái sinh làm người sẽ phải sống trong cảnh nghèo khổ lầm than cả đời.

     Ngài Bồ Tát Địa-Tạng dạy kẻ tà dâm thời nhận quả báo làm loài chim se-sẻ, bồ câu, uyên-ương; dạy kẻ nói lời thô ác như hay gây cãi lộn chửi rủa sẽ có quả báo quyến thuộc kình chống nhau; dạy kẻ hay khinh chê người khác, thời phải nhận quả báo câm điếc (không lưỡi), miệng lưỡi mụn nhọt (miệng lở). Ngài dạy kẻ nóng giận, bị quả báo sẽ có mặt mũi xấu xí, thân hình tàn tật; dạy kẻ bỏn xẻn bị quả báo cầu mong ước muốn điều gì cũng chẳng được toại ý; dạy kẻ săn bắn sẽ lãnh quả báo kinh hãi điên cuồng, chết nơi bờ bụi; Ngài dạy kẻ trái nghịch cha mẹ, phải bị quả báo chết bởi thiên tai (trời tru đất lục) như bị sét đánh, bão tố, lũ lụt, động đất v.v…; dạy kẻ đốt núi rừng cây cỏ, sẽ bị quả báo cuồng mê đến chết.

     Ngài dạy kẻ làm cha ghẻ, mẹ ghẻ ăn ở độc ác, bị quả báo khi chết tái sinh trở lại thường bị đánh đập khổ sở; dạy kẻ dùng lưới bẫy bắt chim, sẽ bị quả báo cốt nhục chia lìa. Ngài dạy kẻ hủy báng Tam-Bảo, thời bị quả báo đui, điếc, câm, ngọng; dạy kẻ khinh chê giáo pháp của Phật sẽ lãnh quả báo ở mãi trong ác đạo, vì làm trái với giáo pháp, tức là làm ác nên bị đọa vào Ngã qủy, Súc sinh hay Địa ngục. Ngài dạy những kẻ lạm dụng phá của thường trụ (Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng), sẽ bị quả báo ức kiếp bị khổ nơi địa ngục; dạy kẻ làm nhục và vu oan giá họa cho người tu hạnh thanh tịnh phải bị quả báo ở mãi trong loài súc sanh.

      Ngài dạy kẻ giết hại sinh vật bằng đâm phóng, chém chặt, luộc, chiên, đốt nướng, sẽ bị quả báo phải thường mạng giống như thế; dạy kẻ tu hành phá giới phạm trai, phải nhận quả báo làm cầm thú bị đói khát khổ sở. Ngài dạy kẻ phung phí phá tổn của cải một cách phi lý, sẽ bị quả báo đời sau tiêu dùng thiếu hụt; dạy kẻ kiêu căng lên mặt với những người khác, bị quả báo phải làm kẻ hèn hạ bị người sai khiến; dạy kẻ đâm chọc thêu dệt gây gỗ, sẽ bị quả báo câm điếc (không lưỡi) hay nói huyên thiên những lời vô ích (trăm lưỡi); dạy kẻ tà kiến mê tín, bị quả báo tái sinh vào chốn hẻo lánh hoang vu hưu quạnh.

     Đức Phật nói: “Những chúng sanh do thân khẩu ý tạo ác, kết quả có trăm nghìn báo ứng khác nhau, những chúng sanh ấy trước phải chịu lấy các quả báo vô số như thế, sau lại đọa vào địa ngục trải qua nhiều kiếp không lúc nào thoát khỏi”. Đây là điều mà mọi người cần phải để ý là người làm ác phải chịu tới 2 lần qủa báo chứ không phải một, bị qủa báo tương ưng với việc làm ác, xong rồi lại bị qủa báo đọa Địa ngục. “Những nghiệp cảm sai khác của chúng sanh có vô số, nên Bồ Tát Địa-Tạng dùng trăm nghìn phương chước để giáo hóa”, ở đây chúng ta thấy đối với người biết nhân quả nghĩa là người ý thức đúng sự nguy hại của nghiệp báo thì có thể tự tránh tự cứu; nhưng đối với người coi nhẹ nghiệp báo thì cần phải có những phương tiện mạnh mẽ hầu đánh thức sự mê mờ của họ chứ không đơn giản được. Do đó, phải phương tiện mà nói, mỗi việc làm ác đều có qủa báo phải nhận lãnh khác nhau, phương tiện ở đây cũng như tùy bệnh mà cho thuốc, mỗi bệnh cần một thứ thuốc khác vậy. 

7). KỆ BẢN NGUYỆN ĐỊA TẠNG
                       Bản nguyện Địa Tạng

                  Đao Lợi Thiên cung,

                  Thần thông hiển hoá độ quần mông,

                  Đời ngũ trược khó thông,

                  Chúng sanh cang cường,

                  Ham vui khổ vô cùng.

      Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật. (3 lần)

      Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Bồ Tát. (3 lần)

GIẢI NGHĨA:

     Bài tán cuối quyển một của Kinh để cảnh tỉnh con người trong đời Ngũ Trược cang cường khó dạy bảo, khó đem ánh sáng chân lý mà soi rọi, vì chúng sinh vô minh lại cứng đầu. Không nghe lời dạy bảo, mà chỉ ham chạy theo tham muốn hạ đẳng, cho nên phải chịu khổ sở vô cùng; bởi vậy, Đức Phật mới phải nói Kinh Địa Tạng Bản Nguyện để độ cho những kẻ u mê tối tăm theo đó mà tu tâm sửa tánh hầu thoát khỏi khổ.    

QUYỂN THƯỢNG HẾT

 (Còn tiếp)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn