Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bài 01: Kinh Địa Tạng giải nghĩa

17/10/201519:10(Xem: 1771)
Bài 01: Kinh Địa Tạng giải nghĩa

KINH

ĐỊA TẠNG BẢN NGUYỆN

Hán Dịch: Tam Tạng Pháp Sư Pháp Đăng 
Việt Dịch: HT Thích Trí Tịnh 

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

 

 

 

 

QUYỂN THƯỢNG

TỰA KINH

Chí tâm quy mạng lễ:

U minh Giáo chủ Bản tôn

Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

Lạy đức Từ bi đại Giáo chủ!

Địa là dày chắc, Tạng chứa đủ.

Cõi nước phương Nam nổi mây thơm,

Rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ,

Mây xinh mưa báu số không lường.

Lành, tốt trang nghiêm cảnh dị thường,

Người, Trời bạch Phật: Nhân gì thế?

Phật rằng Địa Tạng đến Thiên đường!

Chư Phật ba đời đồng khen chuộng.

Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng,

Nay con sẵn có thiện nhân duyên,

Ngợi khen Địa Tạng đức vô lượng:

Lòng từ do chứa hạnh lành,

Trải bao số kiếp độ sinh khỏi nàn,

Trong tay đã sẵn gậy vàng,

Dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sanh,

Tay cầm châu sáng tròn vin,

Hào quang soi khắp ba nghìn Đại thiên.

Diêm Vương trước điện chẳng hiền,

Đài cao trước cảnh soi liền tội căn,

Địa Tạng Bồ Tát thượng nhân,

Chứng minh công đức của dân Diêm Phù!

Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh,

Đại Từ, Bản Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

GIẢI NGHĨA:

Để dễ hiểu, chúng ta phân biệt: dùng chữ nghiêng là lời Kinh, chữ thẳng thường để giải thích, chúng ta cùng theo dõi; nếu chúng ta đọc rồi quán chiếu lời Kinh kỹ càng thì sẽ thấy:

Chí tâm quy mạng lễ:

     Đây là tâm trí hết lòng cung kính tôn trọng.

 

U minh Giáo chủ bản Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát:

     U minh biểu trưng ngu si nên mê mờ u tối, Địa là đất là nơi chỗ, Tạng là A Lại Đa Thức, Tạng thức của mỗi người. Giáo chủ Bản Tôn Địa Tạng là bản tâm, tự tính, nơi Tạng thức của chính mình, là Bản tôn Địa Tạng của mình, giáo chủ của chúng sinh trong tâm còn đang mê mờ u tối.

 

Lạy đức Từ bi đại Giáo chủ!

Địa là dày chắc, Tạng chứa đủ.

     Đức từ bi đại Giáo chủ: Cái tâm khi đã là chân tâm thì bao trùm cùng khắp không gian vũ trụ, bao trùm khắp thời gian qúa khứ hiện tại vị lai và có tâm từ bi vô lượng vô biên; khi còn là chúng sinh thì chứa đủ thứ thói hư tật xấu, vì vậy cho nên tâm được mệnh danh là đại Giáo chủ.

     Địa là tâm địa, tâm địa thì bền vững không gì phá hoại được, nên nói “dày chắc”; Tạng là A Lại đa thức, là thức thứ Tám của Duy thức học, khi một người làm ác, như giết người chẳng hạn, thì năm thức đầu (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân thức) và Ý thức (thức thứ Sáu) đưa tin tức ấy qua thức thứ Bảy (Mạt Na thức) vào cất giữ ở trong thức thứ Tám, thức này có nhiệm vụ chứa tất cả nghiệp lành dữ từ nhiều kiếp đến ngày hôm nay, ví như kho tàng, nên nói “Tạng chứa đủ” là vậy.

 

Cõi nước phương Nam nổi mây thơm,

Rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ,

Mây xinh mưa báu số không lường,

Lành, tốt trang nghiêm cảnh dị thường,

     Cõi nước phương Nam là Nam Thiệm Bộ Châu tức cõi Diêm Phù Đề. Bốn câu này là khi mình đã nhận ra Bản Tôn Địa Tạng, tức là nhận ra bản tính, bản tâm, Phật tính của mình rồi thì tất cả ngoại cảnh đều tốt đẹp trang nghiêm. Như bốn câu này diễn tả, nào là mây thơm, hương thơm kỳ đặc, hoa rải bay vần vũ, nào là mây màu năm sắc đẹp đẽ, mưa nước cam lộ báu do Chư Thiên cúng dàng đầy khắp.

Người, Trời bạch Phật: Nhân gì thế?

Phật rằng Địa Tạng đến Thiên đường!

     Người, Trời khi thấy những cảnh lạ như trên hiện ra thì thắc mắc hỏi Phật, Ngài trả lời là Bồ Tát Địa Tạng đến, có nghĩa là Bản tôn Địa Tạng hiển lộ, tức là cái Tâm thanh tịnh, chân không diệu hữu, cái Tâm giác ngộ ứng hiện, là biểu tượng một vị đạt đạo nên mới có cảnh hương thơm, mưa hoa, mây đẹp vần vũ, mưa nước báu cam lộ v.v...

Chư Phật ba đời đồng khen chuộng.

Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng,

     Khi đã giác ngộ rồi thì ba đời Chư Phật đều khen chuộng khen ngợi sự đạt đạo của người đó, mười phương Chư Bồ Tát cùng tin tưởng, mười phương Chư Bồ Tát thấy có một vị đạt đạo nên cùng đến tham kiến để học hỏi nên nói là chung tin tưởng.

Nay con sẵn có thiện nhân duyên,

Ngợi khen Địa Tạng đức vô lượng:

Lòng từ do chứa hạnh lành,

Trải bao số kiếp độ sinh khỏi nàn,

     Thiện nhân duyên là may gặp được Phật pháp, khi khen Địa Tạng công đức vô lượng thì tâm mình phải là tâm Đia Tạng mới phải lẽ. Có lòng từ tức là do tâm từ và tâm từ chứa vô lượng hạnh lành, dù trải qua vô vàn kiếp để cứu độ chúng sinh cũng không ngại gian nan, nghĩa là dù chúng ta có trải qua bao lâu đi chăng nữa chúng ta vẫn một tâm cứu giúp chúng sinh. Mỗi một niệm tham, sân, si, mạn, nghi, tật đố, ganh ghét, buồn, vui, hơn, thua, được, mất, vinh, nhục, v.v… là một chúng sinh trong ta.

     Ta phải độ cho hết không còn một chúng sinh nào trong tâm ta mới hoàn tất nhiệm vụ, tức là khi không còn một chúng sinh nào trong tâm ta mới chịu thành Phật. Đây là ý nghĩa của Kinh nói khi nào hết chúng sinh trong Địa ngục thì ngài Bồ Tát Địa Tạng mới thành Phật. Mà chúng sinh là ở trong tâm của mỗi người, khi tu hành lâu dần sẽ hết thói hư tật xấu thì sẽ hết chúng sinh trong tâm, chứ chẳng phải với ý nghĩa khi nào hết chúng sinh trong địa ngục, Bồ Tát Địa Tạng mới thành Phật đâu mà lầm, vì sẽ chẳng bao giờ hết chúng sinh trong địa ngục cả.

Trong tay đã sẵn gậy vàng,

Dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sanh,

     Trong tay Bồ Tát Địa Tạng cầm Tích Trượng có 4 cái khoen vòng tượng trưng cho Tứ Đế, có 12 khuy tượng trưng 12 Nhân duyên; cũng có khi Ngài cầm Tích Trượng có 6 vòng khoen tượng trưng cho 6 căn. Tích Trượng ví như gậy vàng, vì dẹp được Tứ Đế (khổ), thoát khỏi 12 Nhân duyên (luân hồi), 6 căn hết vướng mắc 6 trần đạt vô ngã, lúc đó gậy vàng dộng tan cửa Địa ngục vô minh của tham, sân, si, mạn, v.v… để cứu độ toàn thể chúng sinh của chính mình. Chẳng phải với ý nghĩa cho rằng Bồ Tát Địa Tạng xuống Địa ngục, rồi dùng Tích trượng ví như gậy vàng đập phá vỡ cửa của Địa ngục để cứu thả ra tất cả chúng sinh đang bị nhốt đâu mà lầm.

Tay cầm châu sáng tròn vin,

Hào quang soi khắp ba nghìn Đại thiên.

     Tay Ngài cầm châu ngọc sáng chói, đây là ngọc tâm. mỗi người đều có, khi hết sạch tham sân si, kiêu mạn, tật đố, ganh tị v.v… và thực hành sáu độ bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ đầy đủ rồi thì sẽ đạt giải thoát. Lúc đó ngọc tâm sáng chói hiển bày, nên hào quang soi khắp ba nghìn Đại Thiên, nghĩa là Phật tánh hiển bày chiếu khắp cõi Phật, tức là khắp giải Ngân Hà, như thế là đạt đạo vậy.

Diêm Vương trước điện chẳng hiền,

Đài cao trước cảnh soi liền tội căn,

     Diêm Vương đối trước mặt tội nhân thì thật là dữ dằn khiếp sợ, đài cao trước cảnh soi liền tội nhân, nghĩa là khi chúng ta làm bất cứ chuyện gì dù lành dù ác đều được bảy thức truyền vào ngay cho A Lại Đa Thức ghi giữ, chứ không thể giấu giếm được. Chẳng cần phải điều tra, dù có trốn tránh được ở thế gian nhưng chẳng thể nào giấu khỏi tâm thức của mình, vì thế cho nên nói: “Đài cao trước cảnh soi liền tội căn”, làm bất cứ việc gì đều được thức ghi giữ ngay tức khắc, như cảnh tới trước gương liền có hình. Diêm Vương chính là mình, mình là Diêm Vương ghi tội của mình vậy, Phật giáo chẳng cần áp dụng hình phạt, chỉ cần nói ra sự thật này thôi, hãy tự liệu lấy mình mà hành động; biết như vậy rồi bạn có dám làm ác không?

Địa Tạng Bồ Tát thượng nhân,

Chứng minh công đức của dân Diêm Phù!

Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh,

Đại Từ, Bản Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

     Địa Tạng Bồ Tát chứng minh cho công đức của chính mình, tâm mình là nguồn gốc của mọi công đức và cũng là nguồn gốc của mọi việc ác, chính tâm là giải thoát mà cũng là luân hồi sinh tử, nên tự tâm mình sẽ chứng minh cho mình vậy. Người vì Bản tôn Địa Tạng Bồ Tát rộng lớn (Ma Ha T át) của mình thì phải luôn luôn thể hiện Địa Tạng tự tánh của mình bằng từ bi (Đại Từ), bằng thệ nguyên rộng lớn độ (Đại Nguyện) cho hết chúng sinh trong địa ngục, bằng tu hành để phá đổ tường thành vô minh hầu cứu vớt mình ra khỏi địa ngục tham, sân, si, mạn, tật đố, ganh tị v.v… của chính mình.

(Còn tiếp)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn