Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

C. Tư Tưởng Tịnh Độ thời hiện tại

17/07/201200:58(Xem: 4157)
C. Tư Tưởng Tịnh Độ thời hiện tại
TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ TÔNG

HT Thích Như Điển biên soạn

VII. Tịnh Độ Tông của Việt Nam

C. Tư Tưởng Tịnh Độ thời hiện tại

Tôi được cái phước là tuy sinh ra giữa thời kỳ chiến tranh của Việt Nam; nhưng không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh nhiều như bao nhiêu người khác. Vì lẽ khi tôi đi xuất gia (1964) đã không bị động viên đi lính, và được hoãn dịch với lý do Tôn Giáo. Nhờ kết quả của học trường Đời và trường Đạo mà tôi được đi du học Nhật Bản (1972). Trong khi đó ở tại quê hương mình, có không biết bao nhiêu người đã nằm xuống để bảo vệ mảnh đất hình cong như chữ S ấy.

Rồi 30 tháng 4 năm 1975 đến; khi ấy tôi đang ở tại Tokyo, mỗi ngày nhìn bản đồ trên truyền hình Nhật, thấy những vệt đỏ cứ lan dần hết miền Nam Việt Nam, lòng quặn đau không kể xiết, để rồi cho đến 1976, 77, 78, 79 v.v… những năm Việt Nam đóng cửa với thế giới bên ngoài. Khi ấy ở ngoại quốc tâm trạng của tôi cũng như của bao nhiêu người Việt khác ly hương không biết diễn tả sao cho hết nỗi nhớ thương trong muôn thuở. Trong khi cái khổ ở quê nhà từ đời sống tinh thần đến vật chất, thì tôi đang ở Âu Châu. Do vậy ân đức nầy tôi chẳng biết chia xẻ cùng ai. Chỉ biết rằng mình là người đang có phước hơn nhiều người khác. Cho nên phải luôn luôn cố gắng để làm một cái gì đó, được lợi lạc cho quần sanh, là điều mà tôi luôn nghĩ tới.

Tôi đi xuất gia ở chùa Viên Giác và chùa Phước Lâm tại Hội An từ năm 1964-1968. Sau đó vào Sàigòn tu học tại chùa Hưng Long, để ngày 22 tháng 2 năm 1972 rời Việt Nam đi du học Nhật Bản; cho đến nay khi quyển sách nầy nằm trên tay quý vị (2012) là đúng 40 năm tôi đã sống trên xứ người, có đầy đủ phương tiện và tự do để tu, học và thực hành giáo lý từ bi, trí tuệ, giải thoát của Đức Phật.

Tôi sinh ra vào giữa thế kỷ thứ 20 và bây giờ là đầu thế kỷ thứ 21. Ở vào lứa tuổi 63 như thế nầy đã là tuổi thọ trong cuộc đời và gần 50 năm xuất gia tu học ấy đã cho tôi có một cơ hội để đi chỗ nầy, đến chỗ kia, học việc nầy, nghiên cứu vấn đề kia v.v… để rồi ngồi nhìn lại tiến trình của mình đã đi qua, giáo lý ấy, cuộc sống ấy đã giúp được gì cho mình và từ đó đem kết quả của sự tu học và hiểu biết ấy dâng lên Tam Bảo và trang trải tấm lòng của mình cho tha nhân, nhằm giúp đỡ cũng như bổ sung những gì xưa nay còn thiếu, hầu tạo nên một phong trào tu học lành mạnh vững vàng hơn.

Khi phát tâm đi xuất gia, tôi chẳng biết chọn lựa là gì. Vì thuở ấy chỉ nương theo Thầy Bổn Sư đã quy y ngũ giới cho từ năm 1963 và cứ thế, cứ thế lầm lủi mãi trên dặm trường thiên lý ấy; chứ không cần biết Tịnh Độ là gì hay Thiền, Mật là gì cả. Vì ai làm sao, mình làm vậy. Thuở ấy khi mới vào Chùa, các Chú Tiểu Sa Di lớn tuổi hơn và vào Chùa trước thì chỉ bày lại cho các Chú mới vào. Đầu tiên là học Kinh, mà khó nhất là Kinh Lăng Nghiêm. Khi học, chẳng biết nghĩa đã đành, mà cũng chẳng có ai giải thích cho mình tại sao phải tụng kinh nầy vào buổi sáng. Còn kinh A Di Đà, Sám Hối, Mông Sơn Thí Thực lại tụng vào buổi chiều. Tối thì tụng nghi thức Tịnh Độ. Người vào Chùa sau, luôn luôn xem người đi trước là thần tượng hay kẻ hiểu biết hơn mình. Do vậy có thứ lớp vô hình nào đó để giúp cho kẻ sơ cơ có được cái đà để tiến. Dĩ nhiên bên trên còn Thầy Trụ Trì nữa; nhưng những gì đến được với Ngài Trụ Trì phải qua 5, 7 lớp rào cản, đâu phải dễ dàng trực tiếp thưa thỉnh điều gì. Ngay cả khi gặp Ngài Trụ Trì đi qua, Tăng Chúng phải cúi rạp mình xuống, im lặng chắp hai tay xá chào. Chỉ vậy thôi. Còn ý nghĩa kinh điển thì sau nầy học trong những mùa An Cư Kiết Hạ mới rõ; chứ thuở ban đầu chỉ biết chấp nhận mà thôi.

Tôi vào chùa Viên Giác Hội An xin Bổn Sư của tôi là Cố Hòa Thượng Thích Long Trí để đi xuất gia. Ngài lúc ấy sau năm 1963 tranh đấu với nhà Ngô bị thương tích đầy người; nên Ngài phải vào Sàigòn chữa trị; nên Ngài đã viết thư cho Hòa Thượng Như Vạn, Trụ trì Tổ Đình Phước Lâm cũng ở tại Hội An và cho tôi ở đó, đến ngày 19 tháng 6 âm lịch năm 1964 (Giáp Thìn) là ngày vía Quan Thế Âm, sau khi Thầy tôi đi chữa bệnh ở Sàigòn về, cho người ra Phước Lâm kêu tôi về chùa Viên Giác tại Hội An để xuống tóc.

Viên Giác là một Chùa cũ của làng Minh Hương để lại. Người Hoa vào năm 1640 đã từ bỏ quê hương của họ, vì họ chống lại nhà Thanh mới lên ngôi và có ý phục Minh; cho nên rất nhiều người bỏ nước ra đi đến Việt Nam chúng ta. Thuở ấy Chúa Nguyễn Phúc Chu đã giao thương với người ngoại quốc từ những năm trước đó tại cửa biển Hội An nầy; nên việc đón tiếp người Trung Quốc chạy lánh nạn ở Đàng Trong nầy không có gì khó khăn mấy. Thế là 5 Bang của Trung Quốc gồm: Phước Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam và Hẹ là những Bang nằm gần biên giới miền Bắc Việt Nam, lại tiếp cận với biển; nên họ đã di chuyển dễ dàng đến cửa biển Hội An. Thuở ấy Đàng Ngoài do Vua Lê, Chúa Trịnh sợ uy danh của nhà Thanh nên không cho người Minh Hương đến tỵ nạn.

Chữ Minhcó nghĩa là nhà Minh và Hươngđây là hương thơm của nhà Minh. Ý họ muốn vọng về cố hương, luyến tiếc một triều đại như vậy; nhưng sau nầy vào thế kỷ thứ 19, khoảng 1821 trở đi vua Minh Mạng đã đổi chữ Hương là hương thơm, thành chữ Hương có nghĩa là quê hương, làng mạc của người nhà Minh. Nhưng cả hai cách phát âm, tiếng Việt đều gọi là Minh Hương; nhưng chữ Hán lại viết khác.

Họ đi đến đâu cũng buôn bán, lập chùa, miếu v.v… Trong quyển Hải Ngoại Ký Sự của Ngài Thạch Liên Thích Đại Sán khi đến Hội An và Đàng Trong đã viết rất rõ về địa danh, phong tục cũng như chùa viện tại xứ nầy. Ngày nay tại thành phố cổ Hội An đã được Liên Hiệp Quốc (cơ quan Văn Hóa) công nhận Hội An, thành phố cổ nầy là di sản Văn hóa Thế giới. Vì tính chất đặc thù của nó như đã được trình bày ở trên. Chùa thì còn có Thầy trụ trì; chứ Đình thì mỗi năm xuân thu nhị kỳ tế lễ; hoặc những ngày rằm, mồng một mới có hương chức, làng xã đến; còn những ngày thường thì ít ai trông nom; nên vào khoảng năm 1950 Hương Hào Cẩm Phô và Minh Hương đã cúng chùa nầy cho Sư Phụ tôi về trụ trì (xem thêm Châu Ngọc Hồi Ký). Sau khi nhận Đình nầy, Thầy tôi chắc cũng khổ công lắm. Vì Đình chỉ thờ Thần chứ đâu có thờ Phật và họ cúng mặn chứ đâu có cúng chay. Do vậy đưa Phật lên thờ và cải đổi từ chuyện ăn mặn sang ăn chay đâu phải là một vài năm.

Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954, ngày chia đôi đất nước ở sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, míền Nam có cơ hội để xây dựng lại đất nước. Trong đó có niềm tin Tôn Giáo; nhưng đến năm 1963; thời gian chỉ 9 năm thôi cũng chưa củng cố, sửa sang được gì nhiều thì bao nhiêu cuộc tranh đấu đã xảy ra. Cho nên việc phát triển Phật Giáo thuở ấy cũng chẳng phải là điều đơn giản.

Khi tu học tại chùa Phước Lâm, tôi được nghe Hòa Thượng trụ trì Thích Như Vạn kể lại cho nghe về Thiền Sư Minh Giác; chuyện Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thọ giới Tỳ Kheo với Cố Đại Lão Hòa Thượng Vĩnh Gia tại Chùa nầy. Tôi cũng hãnh diện lây. Vì mình được tu học dưới mái Chùa nầy từ năm 1964 đến năm 1966 là điều hạnh phúc vô cùng.

Chuyện được kể rằng: Chùa Phước Lâm nầy là Tổ Đình quan trọng thứ 2 sau Tổ Đình Chúc Thánh. Vì Ngài Thiệt Dinh là đệ tử của Tổ Minh Hải ra thành lập chùa nầy. Ngài Thiệt Dinh đối với Lâm Tế Chúc Thánh cũng quan trọng như Ngài Liễu Quán đối với Lâm Tế Nguyên Thiều vậy. Ngài Nguyên Thiều là người Trung Quốc đến Việt Nam truyền đạo và Ngài Liễu Quán là vị Tổ Việt Nam được truyền thừa qua hệ phái nầy. Ngài Thiệt Dinh cũng như vậy, là người Việt Nam và nhận được sự truyền thừa trực tiếp từ Ngài Tổ Sư Minh Hải người Trung Quốc từ cuối thế kỷ thứ 17 đến đầu thế kỷ thứ 18. Tất cả đều là Thiền Lâm Tế hết; nhưng điều đặc biệt là chúng tôi ít thấy Chùa nào ngồi Thiền mà đa phần là theo nghi thức Tịnh Độ. Tuổi thơ chúng tôi lúc bấy giờ chỉ biết chấp nhận chứ ít tọc mạch. Sau nầy lớn lên mới có những câu hỏi như vậy được đặt ra.

Ngài Minh Giác người Quảng Ngãi ra chùa Phước Lâm tại Hội An để xuất gia. Sau một thời gian có giặc Mọi xâm lấn bờ cõi phía Nam; cho nên Ngài xin Tổ Sư trụ trì chùa Phước Lâm về Quảng Ngãi để dẹp giặc. Sau khi đánh giặc yên, Ngài trở lại Hội An và phát nguyện quét chợ 20 năm để sám hối những tội lỗi khi ra chiến trường cầm quân đánh giặc. Do vậy sau nầy vua Tự Đức mới có 2 câu đối phong cho chùa Phước Lâm, hiện nay vẫn còn thờ. Đối rằng:

Bình Man, tảo thị lưỡng độ gian nan, xuất gia kỳ, phát nguyện tu kỳ, Bát vật sanh thiên thành chánh giác

Tạo tượng, chú chung, nhị thung công đức, cách cựu hảo, đảnh tân cố hảo, thiên thu giác thế vĩnh truyền đăng.

Nghĩa:

Dẹp giặc, quét chợ, cả hai khó nhọc, thời xuất gia, thời kỳ tu học, tám mươi tuổi vãng sanh giác ngộ.

Đúc tượng, tạo chuông, cả hai công đức, bỏ xưa đi, tạo mới tốt, nghìn năm soi sáng đời, ánh đèn kia.

Quả là tuyệt vời. Tuổi 15, 16 vào Chùa được nghe những mẩu chuyện như vậy thật là oai hùng. Đặc biệt là con dân của xứ Quảng.

Rồi việc xưa được truyền lại, thuở Cố Đại Lão Hòa Thượng Vĩnh Gia còn sanh tiền, Ngài đã làm Đàn Đầu Hòa Thượng cho Giới Đàn năm 1911 (Tân Hợi) lúc ấy cả Đức Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và Đức Đệ Nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên cũng đã thọ giới Tỳ Kheo tại giới đàn nầy. Quả là vinh dự biết bao nhiêu. Điều ấy chứng tỏ rằng: Vào đầu thế kỷ thứ 20, Hội An Phật Giáo đã giữ một vai trò quan trọng và Cố Hòa Thượng Vĩnh Gia vì đạo cao đức trọng nên mới được những giới tử từ Huế gởi vào đây thọ giới. Đây là sự hãnh diện của người xứ Quảng. Do vậy có một vài Thầy tuyên bố rằng: “Xứ Quảng Nam không có Tăng Thống; nhưng đã đào tạo ra Tăng Thống”. Điều ấy hẳn có lý, với những lý do đã nêu trên.

Ngài Minh Hải thuộc dòng Lâm Tế thứ 34, đến Việt Nam truyền cho Ngài Thiệt Dinh ở thế hệ thứ 35 và đến chúng tôi với pháp danh chữ NHƯ đứng đầu thuộc Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 41. Đây là truyền pháp thôi. Chứ thời nay không còn truyền tâm nữa. Nay trở lại một chút xa xưa để tìm lại cội nguồn của Tông Phong nầy.

Lâm Tế Nghĩa Huyền(? - 867)

Là Thiền Sư Trung Quốc, Tổ khai sáng của Tông Lâm Tế, sống vào đời Đường, người Nam Hoa, Tào Châu (Hà Nam) họ Hình.

Ngài xuất gia từ thuở nhỏ và rất hâm mộ Thiền Tông. Sau khi thọ giới Cụ Túc, Ngài đến Giang Tây tham yết Ngài Hoàng Bá Hi Vận, sau đó tham lễ Ngài Cao An Đại Ngu, Ngài Qui Sơn Linh Hựu v.v… cuối cùng trở về Hoàng Bá và được ấn khả.

Năm Đại Trung thứ 8 (854) đời vua Tuyên Tông nhà Đường, Ngài đến trụ ở Lâm Tế tại Trấn Châu thuộc tỉnh Hà Bắc, đặt ra cơ pháp tam huyền, tam yếu, tứ liệu giản v.v… để tiếp dắt người học, Ngài thường dùng tiếng hát để hiển bày đại cơ đại dụng. Đối với hành giả tham Thiền, Ngài rất nghiêm khắc; nhưng người học lại theo về rất đông. Môn phong hưng thịnh, gây thành một phái Thiền Lâm Tế nổi tiếng ở Trung Quốc.

Ngài tịch vào năm 867 Tây lịch, không rõ tuổi thọ. Vua bang thụy hiệu là “Tuệ Chiếu Thiền Sư”. Đệ tử nối pháp gồm có 22 vị như: Hưng Hóa Tồn Trưởng, Tam Thánh Tuệ Nhiên, Quán Khê Chí Nhàn v.v… đều là những bậc tông tượng trong Thiền Lâm”. (Trích Phật Quang Đại Từ Điển trang 2737).

(Xem Lâm Tế Tuệ Chiếu Thiền Sư tháp ký; Tống Cao Tăng truyện quyển 12; Cảnh Đức truyền đăng lục quyển 12; Truyền Pháp chánh tông ký quyển 7).

Ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền là Sơ Tổ của Tông Lâm Tế tại Trung Hoa, truyền xuống đời thứ 34 là Ngài Minh Hải Pháp Bảo. Đó là thời gian từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 16. Cuối thế kỷ thứ 16 Ngài Minh Hải sang Việt Nam và từ đó đến nay đã truyền đến đời 41 (Như), 42 (Thị), 43 (Đồng), 44 (Chúc), 45 (Thánh), 46 (Thọ) v.v… Như vậy kể từ khi truyền thừa tông nầy đến bây giờ gần 1.200 năm vẫn chưa gián đoạn. Sau nầy thì hình thức quy cũ Thiền Lâm Tế không còn tồn tại như thuở xưa nữa, mà ngay cả quê hương của Tổ Lâm Tế bây giờ cũng vậy, đã biến dạng rất nhiều. Riêng tại Việt Nam từ bao giờ chẳng rõ, Lâm Tế Tông đã chấp nhận Tịnh Độ một cách dễ dàng và bây giờ Tông nầy tuy nói là Thiền; nhưng đa phần thực hành pháp môn Tịnh Độ.

Ở Việt Nam từ bao giờ Chư Sơn Thiền Đức trong các Thiền Lâm tự gọi mình là Thiền Tịnh song tu cũng chưa rõ. Vì lẽ không có vị Thiền Sư nào chủ trương như Vĩnh Minh Diên Thọ Thiền Sư của Trung Hoa vào cuối đời Đường đầu nhà Tống cả. Vả lại cũng không có vị Tổ Sư nào của Tịnh Độ xuất hiện trong các thế kỷ nầy một cách rõ ràng, để cho chúng ta thấy rằng: Tại sao lại chuyển Thiền qua Tịnh Độ dễ dàng như vậy?

Theo thiển nghĩ của chúng tôi, sau khi các vị Thiền Sư có gốc gác từ Trung Quốc đến truyền tông Thiền cho người Việt Nam và nhất là sau ngày các Ngài viên tịch, thì tại bản địa Việt Nam đã có cái gốc là Tịnh Độ rồi. Do vậy Pháp Môn nầy tương đối dễ tu và dễ khế hợp với người Việt Nam hơn; cho nên trong Chùa Thiền đã ảnh hưởng hầu hết là Tịnh Độ.

Ngay như Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm chủ trương tu theo pháp môn Tịnh Độ; nhưng Ngài thuộc dòng Thiền Lâm Tế chánh tông đời thứ 43 và Hòa Thượng Thích Trí Tịnh năm nay đã 95 tuổi, Ngài là người chủ trương Việt hóa kinh điển sớm nhất trong thế kỷ thứ 20, Ngài tu theo pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật A Di Đà; nhưng trong Tiểu sử của Ngài, Ngài vẫn thuộc dòng Thiền Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41. Như vậy, dầu là Lâm Tế Chúc Thánh, Lâm Tế Nguyên Thiều, Lâm Tế Chánh Tông, Lâm Tế Gia Phổ v.v… cũng đều bắt nguồn từ Ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền bên Trung Quốc và truyền mãi cho đến ngày nay. Sau 1.200 năm lịch sử, sự truyền thừa ấy vẫn không gián đoạn. Chỉ có vấn đề truyền theo dòng kệ của mỗi vị Tổ, do vậy mà các đời lại chênh lệch nhau.

Vào đầu thập niên 60, khi tôi vào xuất gia, tại các chùa miền Trung vẫn còn tụng kinh chữ Hán, sau nầy thì có kinh Hán Việt theo quyển “Thiền Môn Nhựt Tụng” từ chữ Trung Quốc dịch ra âm Việt ngữ. Thuở ấy có ít bài văn kinh tụng bằng tiếng Việt; ngoại trừ những kinh Pháp Hoa, Dược Sư, Vu Lan đã được dịch ra Việt ngữ trước đó. Năm 1965 tôi đã thuộc lòng bài “quy mạng nghĩa” của Thầy Nhất Hạnh dịch ra tiếng Việt và sau nầy có Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải cũng dịch bài nầy sang tiếng Việt rất hay và có mang đầy đủ ý nghĩa Tịnh Độ của nó. Ví dụ câu:

Rừng thơm hương biến từ sỏi đá

Địa ngục bừng khai đóa bạch liên

Người trong hỏa ngục hiện tiền

Nhờ nương thần lực sanh liền Lạc Bang …

Ni Trưởng Trí Hải đã dịch những câu nầy từ chữ Hán là :

biến tác hương lâm

ẩm đồng, thực thiết chi đồ

hóa sanh Tịnh Độ …

Những câu nầy trong bài của Hòa Thượng Nhất Hạnh không dịch được như vậy mà Ngài dịch là:

… Những nơi khổ thú trầm luân

Hào quang chiếu diệu hiện thân tốt lành

Chỉ cần thấy dạng nghe danh

Muôn loài thoát khỏi ngục hình đớn đau

Dĩ nhiên văn dịch của Hòa Thượng Nhất Hạnh rất hay; nhưng Ngài tránh chữ Lạc Bang hay Hoa Sen. Vì đó là cảnh giới của “Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ”; nhưng Ni Trưởng Trí Hải đã dịch được điều nầy quả là một việc làm bất khả tư nghì.

Tuy nhiên 4 câu cuối của bài Sám Quy Mạng nầy Hòa Thượng Nhất Hạnh dịch hay hơn Ni Trưởng Trí Hải nhiều. Đó là:

Hư không dù có chuyển di

Nguyện con muôn kiếp chẳng hề lung lay

Nguyện cầu vạn pháp xưa nay

Hoàn thành trí nghiệp đến cây Bồ Đề

Nguyên văn chữ Hán Việt là :

Hư không hữu tận

Ngã nguyện vô cùng

Tình dữ vô tình

Đồng viên chủng trí

Ni Trưởng Trí Hải dịch là :

Cùng chúng sanh đồng lên bến giác

Tánh hư không dầu mất vô biên

Nguyện con vô tận triền miên

Mong cho tất cả đồng nên Bồ Đề

Thật sự ra về việc dịch, có vô số cách dịch; nhưng thế nào là một sự dịch hay? Đó là dịch thoát ý và không sai với ý chánh nhiều, khiến cho người đọc dễ hiểu và dễ lãnh hội. Nếu dịch đúng chữ và đúng ý hoàn toàn với câu văn xưa thì ngày nay người đọc sẽ chẳng hiểu gì cả. Ngay cả đoạn văn của bài Sám Quy Mạng ở trên, người tu Thiền dịch khác, mà người tu Tịnh Độ dịch khác.

Vào cuối thế kỷ thứ 20, đầu thế kỷ thứ 21 nầy đã có nhiều bản kinh dịch rất thoát. Vì lẽ tiếng Việt đã thành thạo từ học đường cũng như trong các Tăng học viện. Ngày xưa, đầu thế kỷ thứ 20, Việt Nam chúng ta vẫn còn thi Tú Tài, Cử Nhân, Tiến Sĩ bằng chữ Nho và sau nầy là tiếng Pháp, trong khi đó tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ mà trở thành sinh ngữ 2, chứ không còn là quốc ngữ nữa. Do vậy Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hay Thầy của Ngài là Cố Hòa Thượng Thích Khánh Anh là những người tiên phong trong vấn đề Việt hóa chữ quốc ngữ nầy. Kế tiếp có Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, là nhà phiên dịch kinh tạng Việt Nam từ chữ Hán sang tiếng Việt. Vậy chúng ta thử tìm hiểu cuộc đời của Ngài cũng như công việc phiên dịch trước tác của Ngài, nơi trang nhà quangduc.com như sau:

Hòa Thượng Thích Trí Tịnhthế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 2 tháng 9 năm Đinh Tỵ (17.10.1917) tại làng Mỹ An Hưng (Cái Tàu Thượng), huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Thân phụ là ông Nguyễn Văn Cân và thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Truyện. Cụ ông qua đời lúc Hòa Thượng lên ba; Cụ bà cũng theo ông lúc Ngài vừa lên bảy.

. . . . .

Nhờ đã gieo căn lành từ nhiều kiếp, sớm giác ngộ đời là huyễn, thế sự phù du; nên sau một thời gian đi chiêm bái khắp chốn Thiền môn trong tỉnh đều không hài lòng. Sau đó mới tìm lên Núi Cấm, vì nghĩ ở đó sẽ có những bậc chân tu. Hòa Thượng bèn tìm lên núi, lần lượt đến chùa Vạn Linh cầu xin xuất gia.

Hòa Thượng trụ trì ở đây Pháp Húy là Hồng Xứng. Khi vừa trông thấy, Tổ liền ấn chứng “Các ông đừng khinh ông nầy, vì đời trước ổng đã từng làm Hòa Thượng; nhưng có tội hay nhìn con gái; nên nay bị bệnh con mắt suốt đời”. Sau khi được Tổ cho phép xuất gia, ban cho Pháp danh là Thiện Chánh, hiệu Hân Tịnh, húy Nhật Bình, tiếp nối dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41.

Sau khi xuất gia Hòa Thượng chuyên lo niệm Phật tịnh tu, được một thời gian Hòa Thượng xin đi tham học với Chư Sơn Thiền Đức trong Tỉnh, và nghiên cứu những tài liệu về Phật Pháp in trong tạp chí Từ Bi Âm do Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học chùa Linh Sơn Sàigòn ấn hành, rồi đi ra miền Trung tham học ở chùa Liên Tôn, Bình Định.

Năm 1936, Hòa Thượng ra Huế gặp quý Hòa Thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa vừa mãn khóa tại chùa Tây Thiên do Hòa Thượng Giác Nhiên, là Tăng Thống thứ hai của Giáo Hội PGVN Thống Nhất làm trụ trì và Hòa Thượng Thiền Tôn làm Giám Đốc. Khi Hòa Thượng được vào học thì lớp nầy đang học năm thứ 6 Sơ Cấp, Hòa Thượng tiếp tục học lên Trung Cấp và học lớp Cao Đẳng tại Phật Học Đường Báo Quốc do Ngài Tường Vân (Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết) làm Giám Đốc, Hòa Thượng Trí Độ làm Đốc Giáo.

Năm 1941, Hòa Thượng thọ Sa Di giới tại chùa Quốc Ân và được Sư Cụ Trí Độ cho pháp tự là Trí Tịnh.

Năm 1945, mãn khóa Cao Đẳng Phật Học, lúc ấy tình hình chiến cuộc leo thang, vật giá khó khăn. Lớp học dời về Tòng Lâm Kim Sơn, sau nầy vì nạn đói Huế cũng như ở miền Bắc, trường không thể duy trì được; nên Ban Giám Đốc cũng như Hội An Nam Phật Học quyết định giao trách nhiệm cho Hòa Thượng hướng dẫn một số chư Tăng vào Nam để tiếp tục mở trường cho chư Tăng tu học.

. . . . .

Để viên mãn tam đàn Cụ Túc, năm 1945 Hòa Thượng được đăng đàn thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát tại chùa Vạn An, Sa Đéc do Hòa Thượng Kim Huê làm Đàn Đầu Hòa Thượng.

Năm 1952, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt được thành lập tại Sàigòn, Hòa Thượng được giữ chức Trưởng Ban Giáo Dục và Trưởng Ban Giám Luật, kiêm Ủy viên phiên dịch Tam Tạng và Phó Trị Sự Trưởng.

. . . . .

Năm 1955, với chí nguyện hoằng dương Tịnh Độ, Hòa Thượng lại thành lập Cực Lạc Liên Hữu khuyên người niệm Phật cầu nguyện vãng sanh tại chùa Vạn Đức.

. . . . .

Năm 1962, Hòa Thượng được Giáo Hội Tăng Già Trung Phần cử làm Phó Viện Trưởng Viện Phật Học Trung Phần Nha Trang, thay cho Hòa Thượng Trí Quang vì bận Phật sự ở Sàigòn.

Năm 1964, Hòa Thượng được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cử làm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự.

Năm 1968-1971 Hòa Thượng làm Ban giảng huấn Phật Học Viện Huệ Nghiêm và dạy cho lớp nầy 3 năm.

Năm 1970 Hòa Thượng được Hòa Thượng Thích Minh Châu mời làm Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Học thuộc Đại Học Vạn Hạnh đến năm 1975.

Năm 1971, sau khi Giáo Hội thành lập Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Hòa Thượng được cử làm Viện Trưởng từ năm 1971 đến năm 1991.

Ngày 5.7.1973 Hòa Thượng được cử làm Chủ Tịch Hội đồng Phiên dịch Tam Tạng thuộc Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

. . . . .

Từ năm 1960 đến 2002 hơn 40 năm ấy Hòa Thượng đã được cung thỉnh vào các Giới Đàn trong cương vị của: Tuyên luật sư, Yết Ma, Giáo Thọ A Xà Lê, Hòa Thượng Đàn Đầu v.v…

Riêng về việc phiên dịch trước tác từ chữ Hán sang tiếng Việt, Hòa Thượng là một trong những vị đi đầu trong lãnh vực nầy. Ví dụ như:

  1. Kinh Pháp Hoa
  2. Kinh Hoa Nghiêm trọn bộ 8 cuốn
  3. Kinh Đại Bát Niết Bàn trọn bộ 9 cuốn
  4. Kinh Đại Bát Nhã (600 cuốn chữ Hán)
  5. Kinh Đại Bảo Tích trọn bộ 9 tập
  6. Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện
  7. Kinh Địa Tạng
  8. Kinh Tam Bảo
  9. Kinh Pháp Hoa Cương Yếu tóm tắt

10. Kinh Pháp Hoa Thông Nghĩa tóm tắt

11. Luật Tỳ Kheo giới bổn

12. Luật Bồ Tát giới bổn

13. Đường về Cực Lạc

14. Cực Lạc liên huân tập

15. Ngộ tánh luận

16. Pháp Hoa Cương Yếu

17. Kinh A Di Đà

18. Kinh Quán Phật Vô Lượng Thọ

19. Kinh Vô Lượng Thọ

Khi đọc xong Tiểu Sử của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, chúng ta có những nhận xét như sau:

Sau khi Ngài đi tham học tại các Phật Học Viện ở miền Trung (Bình Định và Huế) về Nam năm 1945, lúc ấy Ngài 28 tuổi. Đây là lứa tuổi năng nổ nhất để làm những công việc Phật sự như thành lập cơ sở để Chư Tăng có nơi tu học và đào tạo Tăng tài. Khi Hòa Thượng ở Bình Định và Huế đã được thọ giáo với các bậc Đạo Sư như Đức Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết; Đức Đệ Nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên; Hòa Thượng Thiền Tôn (Huế); Pháp Sư Thích Trí Độ (Bình Định) đều là những bậc danh Tăng thuở bấy giờ; cho nên sở học của Ngài càng uyên thâm hơn nữa. Do vậy Giáo Hội Tăng Già Nam Việt mới cung thỉnh Ngài vào Ủy viên phiên dịch Tam Tạng. Đây có thể là lần đầu tiên Việt Nam chúng ta mới thành lập Ủy Ban nầy. Thời điểm ấy vào năm 1952; tức là vào giữa thế kỷ thứ 20.

Đến năm 1955 trong khi Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm chuẩn bị vào thất lần đầu 10 năm cho đến năm 1964 thì Hòa Thượng Thích Trí Tịnh đã bắt đầu hoằng dương Tịnh Độ và thành lập Cực Lạc Liên Hữu. Có lẽ Hòa Thượng cũng dựa theo những tông chỉ của chư Tổ Trung Hoa, khuyến người phát tâm niệm Phật, cầu vãng sanh; chứ đã không lập ra một Tông Phái Tịnh Độ riêng như Nhật Bản hay Tây Tạng. Tuy nhiên đây cũng là những tiếng nói quan trọng cho việc phát triển cũng như thành lập Tịnh Độ Tông tại Việt Nam vào giữa thế kỷ thứ 20 như thế.

Điều kế tiếp là ở vào thời điểm nào Hòa Thượng cũng hướng về Tăng Ni và Giáo Hội để bồi đắp nhân tài. Vì nếu Giáo Hội không có người truyền thừa và kế nghiệp các bậc Đại Sư đi trước thì ai là người lo giềng mối cho Đạo Phật bây giờ.

Điểm thứ ba rất quan trọng là Hòa Thượng đã dịch những bộ kinh cần yếu cho hàng Tứ Chúng tu học, hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ. Dường như kinh đầu tiên là kinh Pháp Hoa. Kinh nầy có 7 quyển và gồm 28 phẩm. Chữ Hán nguyên thủy do Ngài Cưu Ma La Thập dịch từ tiếng Phạn vào đời nhà Diêu Tần độ chừng hơn 60.000 chữ; nhưng khi Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch ra tiếng Việt thì trên 77.000 chữ. Vì bản thân tôi và Đại Chúng chùa Viên Giác Hannover, Đức quốc, đã phát nguyện lạy kinh Pháp Hoa mỗi chữ mỗi lạy trong những mùa An Cư Kiết Hạ vào cuối thế kỷ thứ 20, mỗi đêm từ 300 đến 350 lạy; nên mới rõ được như vậy. Đây là bộ kinh đa phần người Việt Nam rất ưa chuộng trì tụng và lễ bái.

Rồi những bộ kinh khác cũng được lần lượt ra đời trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước như vậy. Cho đến nay, tuy Hòa Thượng đã hoàn thành 19 đề kinh; nhưng tổng cộng chắc không dưới 100 quyển. Mỗi quyển dày độ 700 trang. Đây là công việc phải miệt mài suốt cả một đời người chứ không phải chỉ năm mười năm mà có thể ngồi phiên dịch được như vậy.

Đặc biệt về Tịnh Độ, Hòa Thượng đã dịch 3 kinh căn bản và còn dịch thêm Đường Về Cực Lạc cũng như Cực Lạc Liên Huân Tập nữa. Điều ấy đã nói lên được tầm quan trọng trong việc tu tập cũng như hành trì về pháp môn Tịnh Độ của Ngài.

Năm nay (2011) Ngài đã 95 tuổi. Tuy không còn dịch thuật trước tác gì nữa; nhưng Ngài vẫn luôn niệm danh hiệu A Di Đà Phật và nếu có vị Tăng nào đó đến hỏi Ngài pháp môn tu thì Ngài bảo rằng: “hãy niệm Phật đi” hay “mấy ông cứ tụng kinh, lễ bái đi”. Như vậy người xưa đã nhờ niệm Phật và tụng kinh lễ bái mà sống gần một thế kỷ với đời với đạo. Nhờ niệm Phật mà trí tuệ khai thông, minh mẫn, sáng suốt. Tuy mắt Hòa Thượng không tỏ lắm, như Tổ Hồng Xứng đã ấn chứng cho Hòa Thượng từ năm mới tầm Sư học đạo; nhưng tâm của Hòa Thượng bừng sáng qua công đức phiên dịch và chú giải những kinh sách quan trọng của Đại Thừa. Điều nầy chẳng khác nào Ngài A Na Luật thuở xưa, khi Đức Thế Tôn còn tại thế.

Trình độ tu và học ngày xưa so với bây giờ khác nhau nhiều lắm. Ví dụ như ngày xưa tốt nghiệp Cử Nhân thì bây giờ tương đương với Tiến Sĩ. Ngày xưa tốt nghiệp Trung Học so với bây giờ là Cử Nhân. Ngày nay người tốt nghiệp rất nhiều; nhưng vì không trọng sự tu chỉ mong cầu sự học; cho nên bằng cấp chẳng làm nên được con người là vậy. Do vậy chúng ta phải cảm ơn những bậc tiền bối. Nếu không có người phát nguyện lúc ban đầu như thế thì cho đến bao giờ chúng ta mới có được một Đại Tạng kinh tiếng Việt Nam. Nhìn lịch sử chúng ta thấy khi Phật Giáo được truyền vào Tây Tạng ở thế kỷ thứ 7 thì các Đạo Sư, các nhà phiên dịch chú giải đã bắt đầu gom thành Tam Tạng Thánh Điển ngay từ lúc ấy. Nghĩa là cách đây hơn 1.300 năm Tây Tạng đã có Đại Tạng kinh bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ rồi.

Trung Hoa cũng vậy, họ có không biết bao nhiêu Đại Tạng bằng chữ Hán từ đời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh hay Nhật Bản có Đại Tạng từ thời vua Đại Chánh cũng như trước đó nữa. Còn chúng ta vẫn để nguyên chữ Hán thì làm sao thế hệ đi sau có thể hiểu được?

Nếu không nhờ vào những bậc phiên dịch chú giải kinh điển như các Ngài: Cố Hòa Thượng Thích Khánh Anh, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Hòa Thượng Thích Hành Trụ, Hòa Thượng Thích Đổng Minh, Hòa Thượng Thích Huyền Vi, Hòa Thượng Thích Đức Niệm, Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, Hòa Thượng Thích Trí Chơn, Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, Hòa Thượng Thích Thiên Ân, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ … Sư Bà Thích Nữ Diệu Không, Sư Bà Thích Nữ Như Thanh, Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải v.v… thì biết bao giờ chúng ta mới có được một Đại Tạng kinh bằng tiếng Việt hoàn toàn. May thay! Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh ở Đài Loan là người đã chủ xướng việc in ấn và phát hành Đại Tạng tiếng Việt nầy. Hy vọng trong vài năm nữa mọi việc sẽ hoàn tất. Công đức thật không có gì có thể so sánh được.

Riêng phần tư tưởng của Tịnh Độ Tông Việt Nam, chính tác giả đang có hoài bão tìm ra tông tích và hệ thống thành một sự truyền thừa rõ rệt, để thế hệ đi sau khỏi bỡ ngỡ khi muốn tìm về nguồn cội của mình. Sau đây chúng ta thử tìm hiểu cách tu Tịnh Độ của Việt Nam như thế nào, để từ đó chúng ta mới có thể so sánh với Tịnh Độ của những nước khác.

Nói Tịnh Độ có nghĩa là chỉ cho một phương khác rồi; không phải là phương nầy. Vì phương nầy là uế độ. Do vậy tu theo Tịnh Độ tức là phát nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà sau khi thân trung ấm đã sẽ tái sanh về đó. Thế nhưng chư Tăng Ni Việt Nam đã hành trì những gì để lo cho người sống và người sắp vãng sanh?

Đa phần nếu một bệnh nhân đang đau nặng thì thân nhân thỉnh chư Tăng Ni đến nhà; hoặc giả thân nhân sắm sửa lễ vật đi về Chùa để dâng cúng Tam Bảo và tụng kinh cầu nguyện. Nếu cầu cho bình an thì tụng Pháp Hoa hay Dược Sư; nếu thấy nghiệp dĩ nặng nề thì tụng Thủy Sám, Lương Hoàng Sám. Nếu thấy sắp lâm chung thì tụng kinh A Di Đà và sau khi lâm chung thì tuần thất, tại tư gia hay chùa thường tụng kinh Địa Tạng. Chính bản thân chúng tôi sinh ra và lớn lên trên quê hương ấy; nhưng ít thấy chư Tăng Ni tụng kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ bao giờ. Về sau nầy ở trong nước và ngoại quốc có những đạo tràng tu theo Pháp môn Tịnh Độ mới thấy có trì tụng 2 trong 3 bộ kinh quan trọng của Tịnh Độ Tông nầy. Việc niệm Phật, đối với Phật Tử Việt Nam thì thường hơn; nhưng ít có quán tưởng đi cùng. Niệm là niệm thôi, không có cái gì khác đi kèm theo như Tây Tạng hay Trung Quốc.

Việt Nam Phật Giáo hay chủ trương lễ nghi cúng kiến nhiều hơn là giảng thuyết cho Phật Tử nghe về ý nghĩa vô thường hay đi đầu thai hoặc kiếp khác như thế nào, mà đa phần đám tang cầu nguyện cho người chết các Ban Hộ Niệm ê a suốt ngày, khiến cho buổi lễ trở thành tế lễ nhiều hơn là sự lợi lạc về tâm linh cho cả người sống lẫn người mất. Lẽ ra ngoài việc tụng niệm rồi, chư Tăng Ni nên giảng pháp cho Phật Tử nghe để họ hiểu về thế nào là niệm Phật? Thế nào là cận tử nghiệp? Thế nào là luân hồi, tái sanh? Thế nào là 25 cõi hữu tình v.v… Ở đây chỉ thấy thuần là chuông, mõ, linh, tang và ê a tán tụng. Tôi không phản đối vấn đề tán tụng. Điều ấy rất quý; nhưng xin dành một nửa thì giờ cúng kiến, thỉnh một vị Pháp Sư giảng pháp cho gia đình thì lợi lạc hơn nhiều. Vì trong cơ hội đau buồn, mất mát như vậy người thân trong gia đình dễ cảm nhận được hơn. Từ đó họ mới phát tâm tu học, làm phước, bố thí, cúng dường v.v…

Ngoài ra đa phần chư Tăng Ni chỉ tụng chữ Hán hoặc âm Hán Việt, khiến cho thế hệ trẻ không hiểu, do vậy chúng sẽ chán nản. Từ những điểm nầy khiến cho nhiều người ít quan tâm với Đạo Phật. Vả lại những buổi lễ thường kéo dài từ 1 đến 2 tiếng đồng hồ mà nghe chẳng hiểu gì cả. Quả là chẳng có tác dụng tích cực nào. Như vậy tại sao chư Tăng Ni vẫn tiếp tục như thế?

Những lễ chẩn tế, vớt vong v.v… thường tổ chức ít nhất là một ngày và nhiều nhất là 3 ngày đến 7 ngày; tùy theo hoàn cảnh của mỗi gia đình. Tuy nhiên cũng giấy sớ, tụng kinh, đề phan, vớt vong, tiến linh… nhưng ít thấy thuyết giảng giống như trường hợp của Tây Tạng. Do vậy thần thức của người mất lẫn người còn sống thiếu định hướng.

Ngay cả bây giờ vẫn còn nhiều người tu theo Pháp môn Tịnh Độ; nhưng chẳng hiểu ý nghĩa của câu Nam Mô A Di Đà Phật là gì? Do vậy làm sao có thể tạo thêm người hiểu biết về giáo lý Đạo Phật, khi nhà Chùa cần đến việc hộ niệm hay tống táng cho những người thân hoặc bạn đạo của mình. Chẳng có vị nào hướng dẫn được một cách rõ ràng là trước khi mất phải làm sao, sau khi mất phải làm gì hay trong khi mất phải làm thế nào để cho được lợi lạc cả người sống lẫn người chết. Lúc sống đa phần ít ai lo việc nầy, vì ai cũng kiêng cử và sợ chết. Thế nhưng khi việc chết xảy ra cho người thân, cho gia đình thì trở nên quýnh quáng, phải chạy đầu nầy hỏi cái nầy, đầu kia hỏi cái kia. Mỗi người bày mỗi cách, chẳng biết đâu mà theo. Do vậy mới bảo là “tang gia bối rối”. Nếu có chuẩn bị trước, chắc chắn không có vấn đề nầy.

Điều đầu tiên là người còn sống, nhất là lúc tỉnh táo nên viết di chúc rõ ràng. Nếu có hai người chứng cùng ký tên trước mặt Luật sư thì quá quý. Ví dụ trong khi người mẹ muốn rằng khi mất thì nên thiêu; nhưng người chồng hoặc con trai thì ngược lại. Do vậy phải cần làm di chúc trước khi mất. Vì nếu không làm theo di chúc thì người mất sẽ khó an lạc để đi đầu thai ở cảnh giới cao hơn. Hoặc giả người chết muốn hiến các cơ quan còn tốt của mình cho y khoa; nhưng gia đình không chịu. Nếu làm ngược lại với di chúc, chắc rằng người chết rất phiền não. Vì họ không thực hành được Bồ Tát hạnh của họ; cho nên cần phải làm di chúc là vậy.

Đó là chưa nói đến việc ở ngoại quốc về vấn đề bất đồng ngôn ngữ nữa, làm thế nào để giải thích cho nhân viên y tế của bệnh viện biết rằng: Theo truyền thống của Phật Giáo sau khi tắt thở 8 tiếng đồng hồ, không ai được động đến tử thi của người mất, kể cả người thân; nếu không làm tờ giao kết trước bằng tiếng Việt và tiếng Anh, Đức hay Pháp ngữ thì khó thể thực hiện vấn đề nầy; nếu không chuẩn bị trước đó. Riêng ở Đức hay phạm vi của những nước Âu Châu có xử dụng tiếng Đức thì nên tham cứu tài liệu có sẵn nầy nơi luận án Tiến Sĩ của Thầy Hạnh Giả, là đệ tử xuất gia của chúng tôi đang dạy về Phân khoa Tôn Giáo học tại Đại Học Hannover, Đức quốc, thì rõ hơn. Tiêu đề của luận án nầy viết bằng tiếng Đức và được chính Thầy ấy dịch ra tiếng Việt gọi là: “Tang lễ của người Phật Tử Việt Nam ở Đức & Sự duy trì và thích nghi tại Hải Ngoại””. Đây là một luận án hay đã được hai ông Professor của Đại Học Hannover (Dr. Dr. Antes) cho điểm một - tối ưu, và ngay cả bản thân chúng tôi cũng vậy đã giúp Thầy ấy cùng dịch ra tiếng Việt cũng như giảo chánh những điều cần thiết thì thấy rằng luận án nầy quý hóa vô cùng cho những ai là Phật Tử đang sinh sống tại Đức quốc cũng như những vùng lân cận.

Riêng ở trong nước, cho tới giờ nầy việc tang chế, ma chay vẫn còn rất phức tạp. Vì mỗi địa phương bày ra mỗi cách khác nhau; càng giàu có chừng nào thì càng làm rình rang chừng ấy; nhưng nội dung thì ít có lợi lạc cho người mất. Cốt chỉ để làm thỏa lòng người sống mà thôi. Ví dụ như ai muốn thiêu thì thiêu, chôn thì chôn. Dựng bia, làm mả mồ như thế nào cũng được; nhưng ở ngoại quốc thì không thể làm như vậy. Tất cả đều là luật.

Ví dụ như ở Việt Nam một nghi lễ tống táng cho một người giàu có có thể đi rình rang ở ngoài đường làm cản trở giao thông công cộng; trong khi đó ở ngoại quốc việc nầy tuyệt đối không xảy ra; chỉ trừ những quan chức lớn như Tổng Thống, Vua, Hoàng Hậu qua đời, mới có những nghi lễ công cộng như vậy; còn đa phần thì đơn giản. Bất cứ là ai, nhiều lắm là được cử hành 2 tiếng đồng hồ ở nghĩa địa mà thôi. Vì trước đó và sau đó còn nhiều đám tang khác họ cũng cần thì giờ như mình nữa. Do đó tang chế ở Tây Phương càng ngày càng đơn giản thì chư Tăng Ni cũng chỉ có một số thời gian nhất định như vậy phải làm sao vừa thuyết giảng, vừa làm lễ, tụng kinh, cúng vong, chia buồn trong vòng 1 đến 2 tiếng đồng hồ mà thôi.

Sau đó về Chùa hay về nhà có thì giờ nhiều hơn thì có thể du di; nhưng ở tại nơi công cộng lễ nghi cho người chết chỉ được phép như vậy; ngoài ra ít có trường hợp ngoại lệ, dẫu cho có phải trả thêm tiền.

Có lẽ thời buổi hiện tại con người dùng đến máy bay, hỏa tiễn, xe hỏa, xe hơi v.v… cho nên mọi công việc trong đời thường đều bị trói buộc bởi chiếc đồng hồ đang đeo nơi tay. Ví dụ như ngày xưa nếu có người giàu có mất; người ta thường mua quan tài thật tốt và liệm người chết để trong nhà cho đến 49 ngày hay 100 ngày để làm lễ cầu nguyện và cũng sẽ cho mọi người biết rằng gia đình mình là như thế như thế; nhưng ngày nay mọi việc đã không còn như xưa nữa.

Điều quan trọng chúng tôi muốn trình bày ở đây là chính người mất, khi còn sống phải lo tu tạo phước đức, tụng kinh niệm Phật, cầu đới nghiệp vãng sanh, để khi giờ cận tử nghiệp đến không còn bỡ ngỡ nữa và cũng khuyên gia đình làm lành lánh dữ, không tạo ác nghiệp trong khi người chết đi chọn nghiệp để đầu thai, ít nhất là trong thời gian 49 ngày. Bởi vì thời gian nầy là thời gian quyết định cho tâm thức kia đi ngang, đi lên hay đi xuống.

Riêng phần chư Tăng Ni cố gắng dành nhiều thời gian giảng pháp cho người sống lẫn người chết trong thời gian ma chay cũng như tuần thất thì quý hóa vô cùng. Vì có như vậy người chưa hiểu đạo trong gia đình sẽ sớm hiểu, biết đâu chừng sau nầy những người ấy sẽ quy y Tam Bảo. Vì họ hiểu rõ lý duyên sanh cũng như vô thường, sanh diệt v.v… Dĩ nhiên khi tang chủ muốn có được phước báu cho người mất lẫn người còn sống thì cần cúng dường Tam Bảo tùy theo khả năng của gia đình để giúp đỡ Chùa và chính gia đình của người quá vãng cũng được lợi lạc nữa.

Chư Tăng Ni, nhất là những người đại diện cho Tịnh Độ Tông có thể giảng giải kinh A Di Đà, kinh Địa Tạng v.v… trước và sau khi làm lễ cho người quá cố thì tốt biết dường bao. Vì người đi tham dự lễ và chính thân nhân cũng cần biết chư Tăng Ni đang tụng kinh gì. Không giải thích, có thể họ cũng cảm nhận được rằng chư Tăng Ni đang tụng kinh; nhưng ý nghĩa ra sao thì làm sao rõ hết được.

Ví dụ như trong hiện tại có nhiều người tin theo hiện tượng vãng sanh hoặc tổ chức tam thời hệ niệm v.v… chư Tăng Ni phải biết rõ điều nầy để giải thích, không mang tính mê tín cầu sanh, mà phải theo nguyên tắc đi đầu thai theo kinh điển mà chư Phật, chư Tổ đã dạy. Ví dụ như người lâm chung có điểm nóng sau cùng nằm nơi đỉnh đầu; tức người ấy sẽ được thác sanh về Tịnh Độ. Nếu điểm nóng ấy nằm ở miệng trở lên trán thì người chết sẽ sanh Thiên. Nếu điểm nóng ấy từ ngực lên miệng thì thành A Tu La. Nếu điểm nóng vẫn còn ở nơi ngực thì người chết ấy chắc chắn sẽ trở lại làm người. Cuối cùng điểm nóng nằm ở bụng, ở đầu gối và dưới lòng bàn chân thì người ấy sẽ bị đọa vào 3 đường dữ. Đó là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Vì sao biết được?

Vì lẽ mỗi một loại chúng sanh như thế tương ưng với một loại ánh sáng khác nhau. Cho nên khi Đức Phật còn tại thế Ngài phóng hào quang độ cho loại nào, ánh sáng thường hay hiện ra nơi thân của Phật như thế để độ. Do vậy đây là kết quả căn bản cần thiết để người thân lưu ý hộ niệm, theo dõi. Chứ không phải chỉ niệm Phật sau 8 tiếng đồng hồ, thấy thi thể mềm mại mà bảo đấy là hiện tượng vãng sanh thì không đúng.

Như vậy đối với những người tu theo pháp môn Tịnh Độ không phải chỉ lúc chết mới tu hay mới mời Thầy đến làm đám, mà ngay khi còn sống, khi là một người Phật Tử tại gia mọi người đã phải thực hiện niệm câu Phật hiệu Nam Mô A Di Đà Phật nằm lòng rồi, để đến khi lâm chung không còn bỡ ngỡ nữa.

Ở chương cuối chúng tôi cố gắng sẽ trở lại vấn đề nầy một cách có chương cú hơn và hy vọng người Phật Tử Việt Nam khi tu theo Pháp môn Tịnh Độ, chúng ta biết rõ ràng là con đường nào chúng ta đang đi và con đường nào chúng ta sẽ đến.

Ai ăn thì cũng phải no. Ai tu thì cũng sẽ chứng; nhưng no như thế nào và chứng như thế nào thì đó là câu hỏi, mà câu trả lời đã có sẵn nơi mỗi người của chúng ta và chỉ cần khơi dậy một niềm tin, một cách thực tập rõ ràng thì ai ai trong chúng ta cũng sẽ được lợi lạc vô cùng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn