Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

02. Tịnh Độ Tông của Ấn Độ

17/07/201200:58(Xem: 3196)
02. Tịnh Độ Tông của Ấn Độ
TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ TÔNG

HT Thích Như Điển biên soạn

II- TỊNH ĐỘ TÔNG CỦA ẤN ĐỘ

Những người tu theo Đại Thừa không còn thắc mắc gì nữa là ba bộ kinhcăn bản bên trên do ai nói và nói ra lúc nào, nói cho ai nghe v.v… Nhưng nhữnggiáo phái khác của Phật Giáo như Thiền Tông, Mật Tông v.v… cũng có thể đặt racâu hỏi như vậy. Đó là chưa kể giáo pháp căn bản của Tiểu Thừa, ngay từ đầu đãkhông chấp nhận những kinh điển có vào thời sau khi Đức Phật nhập diệt; hoặcgiả những kinh điển nào do các vị Tổ Sư nương theo giáo lý để san định thành.Đây là những điểm chính yếu khi nghiên cứu về tư tưởng Phật Giáo Đại Thừa vàTiểu Thừa cần phải lưu tâm.

Dĩ nhiên là không ai có thể nói kinh và luật; ngoại trừ Đức PhậtThích Ca Mâu Ni. Tuy thế, có những bộ kinh xuất hiện tại Trung Quốc về nhữngthế kỷ sau nầy, không phải do Đức Phật nói ra, nhưng chư Tổ vẫn gọi là Kinh. Vídụ như Kinh: Lương Hoàng Sám, Kinh Thủy Sám, Kinh Vu Lan Bồn v.v… Sở dĩ các nhànghiên cứu Đại Thừa vẫn đồng ý như vậy; nhưng nội dung của những kinh điển nầy khôngđi ngược lại những gì mà Đức Phật đã dạy cho hàng Đệ Tử tại gia cũng như xuấtgia; nên họ đã chấp nhận một cách tự nhiên không cần biện hộ hay lý giải gìnữa. Bởi vì những loại kinh điển như vậy không đi ngược lại luân lý, đạo đức xãhội của con người; nên phái Đại Chúng bộ có thể chấp nhận được.

Sau khi Đức Phật nhập diệt, có tất cả 4 kỳ kết tập kinh điển quantrọng, kể từ sau 100 ngày, cho đến sau 500 năm. Tiếp theo những kỳ kết tập thứ5 và thứ 6 là những lần kết tập ở vào những thế kỷ gần đây sẽ được đề cập sau.

Chúng ta biết rằng thời cổ đại xa xưa ấy vấn đề chữ viết không đượcthịnh hành như ngày nay, cũng như nền văn minh của khoa học chưa tiến bộ; chonên tất cả đều phải qua việc truyền miệng. Lời Phật dạy cũng được các vị ThánhĐệ Tử của Đức Phật tập hợp lại trong thanh tịnh để làm nhiệm vụ trùng tuyênnầy. Chúng ta cũng không nghi ngờ gì về khả năng ghi nhớ lời dạy của Đức Phậttừ các Ngài. Vì lẽ đa phần những vị tham dự 4 kỳ kết tập đầu, đều là những vịchứng quả A La Hán, có trí tuệ siêu việt, thần thông diệu vợi; không như chúngta ngày nay, mặc dầu có khoa học trợ giúp mọi phương tiện, nhưng sự hiểu biếtcủa chúng ta cũng chỉ nằm trong giới hạn của việc nhận thức, không là trí tuệ.

“Chữ Kết Tập hay Kiết Tập tiếng Phạn và Pali gọi là: Samgiti. Cũnggọi là Tập Pháp, Tập Pháp Tạng, Kết Kinh, Kết Điển Kết Tập, Hợp Tụng. Tức làcác vị Tỳ Kheo cùng tụ họp ở một nơi để đọc tụng, chỉnh lý và biên tập nhữnglời dạy của Đức Phật sau khi Ngài nhập diệt, nhằm xác định giáo quyền và phòngngừa giáo pháp lâu ngày bị tán thất; nên gọi là Kết Tập.

Nội dung các cuộc kết tập như sau:

I.-Kết tập lần thứ nhất.

Cũng gọi là ngũ bá kết tập (500 vị kết tập). Ngũ bách tập pháp, Ngũbách xuất.

Vào năm Đức Phật nhập diệt (624 trước Tây lịch) dưới sự bảo trợ củavua A Xà Thế, 500 vị A La Hán tập hợp trong hang Thất Diệp ở vùng ngoại ô thànhVương Xá nước Ma Kiệt Đà, tôn Ngài Ma Ha Ca Diếp làm Thượng Thủ, cử hành kếttập kinh điển lần thứ nhất.

Cứ theo luật ngũ phần quyển 30 và Luật Ma Ha Tăng Kỳ quyển 32, thìtrong lần kết tập nầy Ngài A Nan tụng kinh (Tu Đa La hay Pháp Tạng), Ngài Ưu BaLy tụng luật (Tì Ni Tạng), sau đó, các bậc Trưởng Lão xem xét chỉnh lý rồi biêntập thành các kinh, luật. Thuyết nầyđược các nhà sử học cho là tương đối đáng tin. Ngoài ra còn có các thuyết nhưsau:

1.- Kết tập 3 tạng: Kinh, Luật, Luận. Theo luật Tứ Phần quyển thứ54, luật Thập Tụng quyển 60 và luận Đại Trí Độ quyển 2, thì Ngài A Nan tụngKinh, Luận (A Tỳ Đàm tạng), Ngài Ưu Ba Ly tụng Luật. Còn Phó Pháp Tạng nhânduyên truyện quyển 1 thì cho rằng: Ngài A Nan tụng Kinh, Ngài Ưu Bà Ly tụngLuật, Ngài Ca Diếp tụng Luận. Nhưng theo các bộ Ca Diếp Đế Kinh, Soạn Tập TamTạng và Tập Tạng Truyện v.v… thì nói 3 Tạng đều do Ngài A Nan tụng ra.

2.- Kết tập 5 Tạng: Kinh, Luật, Luận, Tạp Tập và Cấm Chú.

Cứ theo Đại Đường Tây Vức Ký quyển 9 và bộ Chấp Di Luận Sớ thì khiNgài Ca Diếp triệu tập 500 vị A La Hán cử hành kết tập lần thứ nhất, còn có vàitrăm ngàn người suy tôn Ngài Bà Sư Ba làm Thượng Thủ, cử hành kết tập thành 5Tạng, gọi là Quật ngoại kết tập (kết tập bên ngoài hang động), Đại chúng bộ kếttập để phân biệt với Quật nội kết tập (kết tập bên trong động). Thượng Tọa bộkết tập của Ngài Ca Diếp. Nhưng đối với thuyết nầy, ý kiến giữa các học giảkhông giống nhau. Có người cho rằng thuyết nầy có lẽ đã do chúng Tăng ThượngTọa bộ hư cấu ra sau khi các bộ phái phân hóa; cho nên không thừa nhận.

3.- Kết tập Kinh Đại Thừa.

Theo phẩm xuất kinh trong Kinh Bồ Tát xứ thai quyển 7, thì Tôn GiảCa Diếp sai Ngài A Nan tụng các tạng Bồ Tát, Thanh Văn, Giới Luật v.v… gồm tấtcả 8 tạng là: Thai hóa tạng, Trung ấm tạng, Ma Ha diễn phương đẳng tạng, Giớiluật tạng, Thập trụ Bồ Tát tạng, Tạp tạng, Kim cương tạng và Phật tạng.

Ngoài ra, theo luận Đại Trí Độ quyển 100 và luận Kim cương tiênquyển 1, thì đồng thời với Ngài Ca Diếp kết tập 3 tạng Tiểu Thừa ở núi Kỳ XàQuật, các Ngài Văn Thù, Di Lặc và A Nan cũng cùng nhau kết tập kinh điển ĐạiThừa ở núi Thiết Vi, gọi là Thiết Vi Sơn Đại Thừa Kết Tập; nhưng đây có lẽ làtruyền thuyết sau khi Phật Giáo Đại Thừa hưng khởi.

II.- Kết tập lần thứ hai.

Cũng gọi là thất bách kết tập (700 vị kết tập), Thất bách tập pháp,Đệ nhị tập pháp tạng, Đệ nhị tập. Lần kết tập nầy lấy luật tạng làm chính, xácđịnh 10 việc mà các Tỳ Kheo thuộc chủng tộc Bạt Kỳ thực hành là trái phép. (SauPhật nhập diệt độ 100 năm).

III.- Kết tập lần thứ ba.

Sau khi Đức Phật nhập diệt độ 236 năm, dưới sự hộ trì của Vua A Dục,1.000 vị Tỳ Kheo nhóm họp ở thành Hoa Thị nước Ma Kiệt Đà, tôn Ngài Mục KiềnLiên Tử Đế Tu làm Thượng Thủ, cử hành kết tập lần thứ ba. Lần kết tập nầy lấy 3tạng kinh, luật, luận làm chính. Ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu tự soạn bộ “LuậnSư” để phê bình và bác bỏ những dị nghị tà thuyết của ngoại đạo đương thời. Saukhi kết tập, một số vị Tỳ Kheo đã được Đại Hội lựa chọn và phái đến những địakhu ngoài lưu vực sông Hằng và ngoài biên thùy Ấn Độ để truyền bá Phật Pháp.

Cuộc kết tập lần thứ nhất và thứ hai đều được lưu truyền ở cácPhương Bắc và Phương Nam;nhưng cuộc kết tập lần thứ ba nầy chỉ được lưu truyền ở Phương Nam mà thôi.

IV.- Kết tập lần thứ tư.

Có hai thuyết: Bắc truyền và Nam truyền.

1.- Phật Giáo Bắc truyền: Có 2 thuyết:

a) Cứ theo Bà Tẩu Bàn Đậu pháp sư truyện chép, thì sau khi Đức Phậtnhập diệt 500 năm, Ngài Ca Chiên Diên thuộc Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ đến nướcKế Tân ở Tây Bắc Ấn Độ triệu tập 500 vị A La Hán và 500 vị Bồ Tát tiến hành kếttập, Bồ Tát Mã Minh ghi chép và soạn thành Thuyết Nhất Thiết hữu bộ A Tỳ Đạt MaTỳ Bà Sa (tức luận Đại Tỳ Bà Sa) gồm 100 vạn bài tụng.

b) Theo Đại Đường Tây Vức Ký quyển 3, thì sau khi Đức Phật nhập diệt400 năm dưới sự hộ trì của Vua Ca Nị Sắc Tra (Kaniska), 500 vị Tỳ Kheo nhóm họpở nước Ca Thấp Di La (Kasmir = Kế Đàn) suy tôn các Ngài Hiếp Tôn Giả (Parsva)và Thế Hữu (Vasumitra) làm Thượng Thủ, tạo luận giải thích 3 tạng. Trước hếttạp luận Ô Ba Đệ Thước 10 vạn bài tụng, giải thích tạng Tố Đát Lấm (Tạng Kinh);kế đến, tạo luận Tỳ Nại Da Tỳ Bà Sa 10 vạn bài tụng giải thích Tỳ Nại Da (TạngLuật), sau cùng tạo luận A Tỳ Đạt Ma Tỳ Bà Sa 10 vạn bài tụng, giải thích A TỳĐạt Ma (Tạng Luận). Tất cả gồm 30 vạn bài tụng, 960 vạn lời, Vua Ca Nị Sắc Cacho đàn mỏng đồng đỏ thành từng lá để khắc các bộ luận nói trên, rồi cất tronghòm đá và xây tháp để thờ.

Trong hai thuyết trên đây, thuyết của Đại Đường Tây Vức Ký đáng tinhơn; tuy nhiên Phật Giáo Nam Truyền thì hoài nghi.

2.- Phật Giáo Thượng Tọa Bộ Nam Truyền.

Theo Đại Sử, v.v… thì cuộc kết tập lần thứ 4 được cử hành trong độngA Lô Ca ở thôn Mạc Đặc Liệt tại nước Tích Lan vào thời vua Bà Tha Già Mã Ni(Vattagamani) do Đại Thượng Tọa La Hi Đa chủ trì có 500 vị Tỳ Kheo tham dự.Trong hội đã tụng 3 tạng của Phật Giáo Thượng Tọa Bộ, sửa chữa các sách chúthích về 3 tạng, sắp đặt lại thứ tự các kinh điển, viết thành bộ Tam Tạng đầutiên bằng tiếng Pali và các bản chú thích bằng tiếng Tăng Già La (Singhalese =tiếng Tích Lan).

V.- Kết tập lần thứ năm.

Theo chương thứ 6 trong giáo sử tiếng Pali và lịch sử Miến Đìện… thìvào năm 1871, vua nước Miến Điện là Mẫn Đông (Mindon, ở ngôi 1853-1878) đãtriệu tập 2.400 vị Cao Tăng, cử hành kết tập 3 tạng lần thứ 5 ở thủ đô Mạn ĐứcLặc (Mandalay). Lần kết tập nầy lấy tạng Luật làm chủ yếu, hiệu đính đối chiếuchỗ đồng dị, trong nguyên văn Thánh Điển, cùng nhau hợp tụng suốt 5 tháng mớihoàn thành. Rồi đem toàn bộ văn tự của ba tạng đã kết tập khắc trên 729 phiếnđá hoa đại lý hình vuông, dựng trong chùa tháp Câu Thu Đà (Kuthodaw) ở chân núiMạn Đức Lặc; phía ngoài có 45 ngôi tháp Phật vây quanh, hiện nay vẫn còn ở cốđô Mạn Đức Lặc.

VI.- Kết tập lần thứ sáu.

Vào ngày 17 tháng 5 năm 1954, tức ngày Phật Đản (Vesak Day, ngày PhậtGiáo Thế Giới) dưới sự giúp đỡ của nhà nước, Phật Giáo Miến Điện cử hành kếttập lần thứ sáu. Ý nghĩa của kỳ kết tập lần nầy là đoàn kết Phật Giáo đồ, đẩymạnh sự phát triển Phật Giáo Thượng Tọa bộ, đề cao địa vị của nước Miến Điệnđộc lập. Địa điểm kết tập là trên sườn núi Nghệ Cố thuộc vùng ngoại ô phía Bắcthủ đô Ngưỡng Quang (Rangoon) của Miến Điện, được kiến trúc phỏng theo hangThất Diệp nơi cử hành kết tập lần thứ nhất tại Ấn Độ. Lần kết tập nầy lấy vănbản được khắc trên 729 phiến đá hoa đại lý của lần kết tập thứ năm làm chỗ ycứ; đồng thời xử dụng tất cả các loại bản in tiếng Pali của “Hiệp Hội ThánhĐiển Pali” ở Tích Lan, Thái Lan, Cao Miên, Luân Đôn và Miến Điện để khảo đíchmột cách rõ ràng tỉ mỉ. Sau khi kết tập hoàn thành, toàn bộ văn bản được ấnhành để lưu thông. Lần kết tập nầy, ngoài các vị Tỳ Kheo thuộc các nước PhậtGiáo Nam Truyền, các vị Tỳ Kheo của các nước Phật Giáo Bắc Truyền cũng được mờitham dự, ròng rã hơn 2 năm, đến ngày lễ Vesak năm 1956 (Phật lịch 2.500) mớihoàn thành.

(Xem. Kinh Phật Ban Mê Hoàn quyển hạ; kinh Phúc Cái chánh hạnh sởtập quyển 3; Cao tăng Pháp Hiển truyện; Đại Thừa Pháp Uyển nghĩa lâm chươngquyển 2 phần đầu; Tứ phần luật hành sự sao tư trì ký quyển trung phần 1 đoạn 2;Nguyên Thủy Phật Giáo Thánh Điển chi tập thành (Ấn Thuận). A Tỳ Đạt Ma luậnnghiên cứu). (Xem tiếp Thập Sự Phi Pháp). (Trích Phật Quang Đại Từ Điển do HòaThượng Thích Quảng Độ dịch từ trang 2409 đến 2411).

Như vậy 4 kỳ kết tập đầu, sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệttrong thời gian từ 400 đến 500 năm là quan trọng nhất. Vì lẽ lúc ấy chưa có chữviết rõ ràng. Mãi cho đến kỳ kết tập lần thứ 4 thì văn hệ Pali đã rõ nét cũngnhư Phạn văn. Kỳ kết tập thứ tư có hai thuyết chúng ta cũng có thể chấp nhậnđược. Đó là Phật Giáo Bắc Truyền cho rằng kỳ kết tập nầy được tổ chức tại xứKasmir, thuộc miền Bắc Ấn Độ ngày nay. Còn Phật Giáo Nam Truyền thì cho rằng kỳkết tập lần thứ tư nầy xảy ra vào năm 85 trước Tây Lịch, văn tự tiếng Pali đãhình thành và nơi kết tập là xứ Tích Lan.

Cả hai truyền phái đều có lý cả. Vì lẽ tinh thần Đại Thừa đượcchuyển hướng qua phương Bắc Ấn Độ và từ đó mới tiếp tục được truyền sang TrungHoa, Mông Cổ, Việt Nam, Đại Hàn và Nhật Bản. Thuở ấy vào thế kỷ thứ 1 và thứ 2Tây Lịch đã có các Đại Luận Sư nổi tiếng của Đại Thừa như Ngài Vô Trước, ThếThân, Mã Minh, Long Thọ v.v… và tinh thần Duy Thức cũng như Trung Quán Luận,Bát Nhã, Tánh Không đã được phát triển một cách mạnh mẽ. Do vậy kỳ kết tập lầnthứ 4 nầy cũng có thể nằm ở ngoài xứ Ấn Độ; chứ không nhất thiết là nằm trongxứ Ấn Độ.

Sau khi Vua A Dục quy ngưỡng Phật Pháp, Ngài đã cho 2 người con làCông Chúa Sanghamitta và Hoàng Tử Mahinda xuất gia và chính hai vị nầy đã mangcây Bồ Đề cũng như giáo lý Nam Truyền đến đảo quốc Tích Lan vào thế kỷ thứ 3trước Tây Lịch và Đảo Sử cũng như Đại Sử vẫn còn ghi rõ sự truyền bá nầy. Saukỳ kết tập kinh điển lần thứ 3, chư Tăng theo sự yêu cầu của Vua A Dục, đã đượcgởi ra ngoài nước Ấn Độ 1000 vị đi về Trung Đông và Bắc Ấn cũng như các xứ NamPhương khác để truyền đạo. Cho nên kỳ kết tập lần thứ tư theo sử bộ Nam Truyềncho rằng được hình thành tại Tích Lan, cũng là đìều có thể xảy ra. Vì Phật Giáođã truyền vào Tích Lan lúc ấy đã hơn 100 năm rồi. Hoặc giả có 2 lần thứ tư đượckết tập. Những vị nào thuộc Đại Chúng bộ thì đi về hướng Kasmir và những vị nàothuộc Thượng Tọa bộ thì đi về hướng Tích Lan. Đây là một giả thuyết mà tác giảsách nầy trộm nghĩ như vậy, đúng sai xin các bậc cao minh chỉ giáo.


A.-Ngài Long Thọ và Tư Tưởng Tịnh Độ

Các nhà sử học Phật Giáo Âu Mỹ, sau khi nghiên cứu kỹ càng về sựphát triển Phật Giáo thời Vua A Dục (trước Tây Lịch vào thế kỷ thứ 3) thì chorằng: Thuở ấy Phật Giáo đã truyền đến cả Trung Âu như Iran (Ba Tư); xứ ngàn lẻmột đêm; xứ Irak và ngay cả các xứ Bắc Phi như Ai Cập, Alexandria v.v… Gần đâycó nhà học giả Đức Holger Kersten, thuộcĐại Học Freiburg có viết quyển bằng tiếng Đức nhan đề là “Jesus lebte 6 Jahrein Indien” (Jesus đã sống 6 năm tại Ấn Độ). Đây là một quyển sách có hình ảnh rõràng và được nhiều học giả cũng như khảo cổ học người Đức tin tưởng qua chứngcứ hình ảnh và sử liệu mà ông ta đã nêu ra.

Cuộc đời của Chúa có 12 năm không ghi rõ ràng trong Thánh Kinh. Theoông Holger Kersten Đức Chúa thuở đó từ Israel đi sang xứ Alexandria để tỵ nạnvà thuở ấy đoàn truyền giáo của Vua A Dục đã phát triển Phật Giáo tại đây; nênchư Tăng đã mang Đức Chúa về Ấn Độ và Đức Chúa Jesus đã học đạo tại Vanarasi 6năm. Đây có thể cũng là một giả thuyết, mà cũng có thể là một sự thật mà ngườiThiên Chúa chưa sẵn sàng chấp nhận. Ông ta còn phân tích những câu chuyện như:Bà già và 2 quan tiền trong Thánh Kinh được sao chép lại từ Kinh Pháp Cú v.v…Chiếc áo mà Đức Chúa đang mặc cũng có liên hệ với Phật Giáo. Quả thật là mộtphát hiện mới lạ. Hãy cứ chờ xem từ nhiều phản ứng và nghiên cứu để chúng ta cóđược những sử liệu cần thiết về sau nầy.

Ba Tư là xứ theo Bái Hỏa Giáo (Đạo thờ Thần Lửa); cho nên khi ĐạoPhật được truyền vào đây vào thế kỷ thứ 3, thứ 2 trước Tây Lịch cũng phải chấpnhận Tôn Giáo vốn đã có sẵn tại bản địa nầy. Đây là tinh thần tôn trọng các tưtưởng khác; ngoài giáo điều của Tôn Giáo mình.

Theo Pháp Sư Ấn Thuận (người Trung Hoa) thì Phật Giáo Tịnh Độ bị ảnhhưởng bởi Đạo Bái Hỏa Giáo nầy. Mới đây (2011) khi chúng tôi dịch tác phẩm bằngtiếng Đức nhan đề là: Quellentexte des Japanischen Amida Buddhismus” (Những bảnvăn căn bản của Phật Giáo Di Đà (Tịnh Độ) Nhật Bản) của học giả ChristianSteineck cũng quan niệm giống như Ngài Ấn Thuận vậy. Nghĩa là ông ta cho rằng:“Quan niệm về một cõi Phương Tây và một vị giáo chủ có thần lực như vậy là cósự ảnh hưởng của Bái Hỏa Giáo của Ba Tư”.

Đây có thể là những quan niệm về cũ, mới, Đông, Tây đã được hìnhthành qua các hệ tư tưởng khác nhau, cũng như qua tam tạng Thánh Điển. Vì thếcho nên chúng ta thấy vòng hào quang của Đức Phật A Di Đà giống như là nhữngvòng lửa bao bọc chung quanh Ngài.

Từ Ba Tư di chuyển trở lại Ấn Độ và mấy trăm năm sau, Ngài Long Thọmới ra đời để chủ trương về Trung Quán Luận; nhưng theo Phật Giáo Tịnh Độ TôngNhật Bản căn cứ vào “Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận” của Ngài Long Thọ; nên cho rằngNgài là vị Sơ Tổ Tịnh Độ Tông của Nhật Bản và cả Trung Hoa nữa.

Long Thọ hay Long Thụ tiếng Phạn gọi là Nagarjuna. Hán âm: Na Già Ứ Lạt Thụi Na, Na Già A ChuĐà Na. Cũng gọi là Long Mãnh hay Long Thắng.

Tổkhai sáng của học phái Trung Quán thuộc Phật Giáo Đại Thừa ở Ấn Độ, sanh vàokhoảng thế kỷ thứ 2, thứ 3, thuộc dòng dõi Bà La Môn, Nam Ấn Độ.

Từ nhỏ Ngài đã thông minh đĩnh ngộ, học 4Phệ Đà, thiên văn, địa lý, sấm vĩ, bí tạng và các đạo thuật đều thông suốt.Ngài từng cùng với 3 người bạn thân học phép tàng hình, lén vào cung vua chơibời. Việc bại lộ, 3 người bạn bị vua chém đầu, riêng Ngài thoát khỏi. Do việc nầy, Ngài cảm ngộ, ái dục là gốc của sựđau khổ, liền vào núi đến trước tháp Phật xuất gia thọ giới.

Sau khi xuất gia, Ngài nghiên cứu tamtạng; nhưng thấy chưa đủ, lại đến núi Hy Mã Lạp Sơn, gặp một lão Tỳ Kheo traocho Kinh Điển Đại Thừa, mặc dầu biết thực nghĩa nhưng chưa thông suốt. Lại vìNgài từng phá giáo nghĩa của luận sư ngoại đạo; nên sinh tâm tà mạng, tự đặt ragiáo mới, mặc áo mới, ở riêng trong căn phòng thủy tinh tĩnh mịch. Bấy giờ cóBồ Tát Đại Long, thấy vậy thương xót, bèn dẫn Ngài vào long cung trao cho vôlượng kinh điển Đại Thừa, Ngài thấu hiểu hết giáo lý.

Bấy giờ, vua Nam Thiên Trúc tin theo Bà LaMôn giáo, công kích Phật Giáo, Ngài đến đó giáo hóa, khiến vua bỏ tín ngưỡng BàLa Môn giáo mà quy y Phật Giáo. Từ đó về sau, Ngài tận lực hoằng pháp, soạn cácsách để chú thích kinh điển Đại Thừa, thiết lập hệ thống giáo điển Đại Thừa,khiến cho học thuyết “Bát Nhã tánh không” được truyền bá rộng khắp trên toàncõi Ấn Độ. Về già, Ngài trụ ở núi Hắc Phong thuộc miền Nam Ấn Độ, Ngài có ngườiđệ tử tên Đề Bà.

Sự tích về Ngài Long Thọ theo Tây Tạngtruyền có nhiều chỗ khác nhau với những điều được trình bày ở trên. Chẳng hạnnhư trong quyển “Thất Cao Tăng” (7 vị Cao Tăng) tiếng Tây Tạng, tác giả Đa LaNa Tha nói rằng: Ngài Long Thọ từng tu tập các loại Thành Tựu (Tất Địa) như: VôLượng Thọ Đà La Ni, Thành Tựu Đại Không Tước Nữ, Cửu Dạ Xoa v.v… khiến cho congái của Long Vương Đức Xoa Ca và quyến thuộc xây dựng chùa, tháp… Về sau, Ngàivà các Nữ Dạ Xoa ở núi Cát Tường cùng tu Đát Đặc La v.v… Còn có thuyết cho rằngNgài từng dùng 7 hạt cải trắng mở tháp sắt ở Nam Ấn Độ, lấy được Kinh Kim CươngĐính. Đại khái những truyện trên đây đều là truyền thuyết của đời sau mang nặngsắc thái Mật Giáo.

Về niên đại xuất thế của Ngài cũng có cácthuyết khác nhau:

1.- Theo bài tựa của Luận Đại Trí Độ củaNgài Tăng Duệ và các bài tựa Đại Trí Luận sao của Ngài Lô Sơn Tuệ Viễn (chép trongXuất Tam Tạng ký tập quyển 10) thì Ngài ra đời khoảng 900 năm sau khi Đức Phậtnhập diệt (khoảng năm 276 sau Tây lịch).

2.- Theo Bách Luận Sớ quyển thượng, Ngàisinh vào khoảng 530 năm sau khi Đức Phật nhập diệt (năm 94 trước Tây lịch).

3.- Theo Tam Luận Du ý nghĩa, Nhị Giáoluận của Ngài Đạo An, Long Thọ Bồ Tát truyện v.v… thì Ngài ra đời vào khoảng880 năm (256 sau Tây lịch) sau khi Đức Phật nhập diệt, tức là vào giữa thế kỷthứ 3 Tây lịch. Các học giả hiện đại như Pháp Sư Ấn Thuận, v.v… phần nhiều theogiả thuyết thứ 3.

Còn về việc nhập diệt của Ngài, theo LongThọ Bồ Tát truyện, có một Pháp Sư Tiểu Thừa, vì ganh ghét, không muốn thấy Ngàisống lâu, Ngài biết được điều ấy liền vào tịnh thất thoát xác mà đi.

Theo điều Kiều Tát La Quốc trong Đại ĐườngTây Vức Ký quyển 10, thì vua nước nầy là Sa Đa Bà Ha quy y với Ngài, Ngài đemdiệu dược tặng cho, 2 người cùng sống lâu không suy yếu. Con vua muốn lên ngôisớm; nên thỉnh Ngài tự tận, Ngài dùng lá cỏ tranh khô tự cắt cổ chết, vua quábuồn rầu thương tiếc, nên không bao lâu cũng chết theo.

Về tuổi thọ của Ngài, theo Thập Nhị MônLuận Tông Trí Nghĩa Ký quyển thượng và Pháp Uyển Châu Lâm quyển 53, thì Ngàithọ đến 100 tuổi, thuyết nầy khó tin. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào điều TriêuTrước Xỉ Mộc trong Nam Hải Ký quy nội pháp truyện quyển 1 và các sách khác nóivề việc Ngài chuyên về thuật trường sinh mà suy đoán, thì tuổi thọ của Ngàicũng có thể ở mức 100 tuổi trở lên.

Về tên tiếng Phạn và tên dịch của Ngài,theo Long Thọ Bồ Tát truyện, Đại Đường Tây Vức Ký quyển 8, Thập Nhị Môn LuậnTông Trí Nghĩa Ký quyển thượng, kinh Bồ Đề Hạnh, Trung Luận thích của NgàiNguyệt Xứng, Bát Nhã thích của Ngài Sư Tử Hiền, v.v… đều ghi tên Phạn của Ngàilà Nagarjuna. Nhưng kinh Nhập Lăng Già bằng tiếng Phạn thì ghi tên Phạn của Ngàilà Nagahvaya, phải dịch là Long Khiếu, Long Mãnh, Long Danh. Nhưng trong chương17 trong Ấn Độ Phật Giáo sử của Đa La Na Tha thì cho rằng Long Thọ và LongKhiếu là hai người khác. Long Khiếu và Đề Bà (Đệ tử của Ngài Long Thọ) là ngườiđồng thời đại, trụ ở chùa Na Lan Đà.

Trong tác phẩm “Không Chí Thám Cứu” chương4, phần 1, Pháp Sư Ấn Thuận căn cứ vào thuyết trên, cho rằng Long Khiếu (hoặcLong Mãnh) không phải là Long Thọ; niên đại muộn hơn so với niên đại Ngài LongThọ, có thể vào thời đại vua Chiên Đà La Cấp Đa (từ 320 sau Tây Lịch).

Ngoài ra, Ngài còn là Tổ Phó Pháp Tạng thứ13 của Thiền Tông Ấn Độ, đồng thời, tại Trung Quốc và Nhật Bản xưa nay Ngàicũng được suy tôn làm Tổ của 8 Tông (Chú thích: trong đó có Tịnh Độ Tông, theochủ trương Tông Tịnh Độ của Nhật).

Ngài có các tác phẩm: Trung Luận tụng,Thập Nhị Môn luận, Không Thất Thập luận, Lục Thập tụng như lý luận, Đại Thừaphó hữu luận, Đại Trí Độ luận, Thập Trụ Tỳ Bà Sa luận, Đại Thừa Nhị Thập tụngluận; Bồ Đề Tư Lương luận (Chú thích: Tác phẩm nầy tác giả đã dịch ra ViệtNgữ), Bảo Hành Vương chánh luận, Nhân Duyên Tâm luận tụng, Bồ Đề Tâm Ly Tướngluận (đã dịch ra Việt ngữ), Phước Cái Chánh Hạnh Sở Tập kinh (đã dịch ra Việtngữ), Tán Pháp giới tụng, Quảng Đại Phát Nguyện tụng (Chú thích của tác giả: Đaphần những luận nầy nằm trong Đại ChánhTân Tu Đại Tạng Kinh quyển thứ 32, đã được chính tác giả dịch từ Hán văn vàViệt ngữ có đăng trên Website của viengiac.de phần dịch thuật).

(Xem kinh Nhập Lăng Già quyển 9; Đại Thừahuyền luận quyển 5; Hoa Nghiêm kinh truyện ký quyển 5; Phó Pháp Tạng nhân duyêntruyện quyển 5; Truyền Pháp Chánh Tông ký quyển 3; Phật Tổ thống ký quyển 5;Pháp Uyển châu lâm quyển 38; The life of Nagajuna from Tibetan and ChineseSources (M. Walleser).

(Trích từ Phật Quang Đại Tự Điển trang2837 đến trang 2839).

Xem qua tiểu sử của Ngài Long Thọ, mặc dầuniên đại vãng sanh của Ngài có đôi điều sai khác về năm sanh; nhưng Ngài là mộtvị Tổ Sư của Đại Thừa gồm 8 Tông Phái khác nhau. Từ Mật Tông cho đến ThiềnTông, Trung Quán, Hoa Nghiêm và cho đến Tịnh Độ nữa. Quả Ngài là bậc xuất trầnthượng sĩ, ra đời nhằm cứu độ chúng sanh và giúp cho chúng sanh tỏ ngộ; đồngthời Ngài cũng đã tuyên dương giáo nghĩa Đại Thừa để bát bỏ những giáo nghĩakhác của Bà La Môn giáo và những tà thuật khác.

Như vậy kể từ thời kỳ sau Đức Phật nhậpdiệt gần 800 năm ấy (624 trước Tây lịch + 256 hoặc 276 năm sau Tây lịch thành800 năm) không có một vị Tổ Sư nào chấn hưng pháp môn Tịnh Độ; trong khi đóThiền Tông thì được truyền liên tục từ Sơ Tổ Ca Diếp đến Ngài Long Thọ là 13đời. Trong 800 năm ấy biết bao nhiêu là phế hưng của lịch sử và bộ phái chiacắt trong nội bộ của Tăng Đoàn, từ Ấn Độ đến Kasmir và Ba Tư. Có lẽ trong thờigian nầy phải nói là thời gian tranh chấp của Bộ Phái. Cho đến sau thời củaNgài Long Thọ vào thế kỷ thứ 3 thì tính cách bộ phái mới được rõ rệt và Tịnh ĐộTông của Nhật Bản, bắt đầu từ thế kỷ thứ 13 cũng đã căn cứ vào Thập Trụ Tỳ BàSa Luận của Ngài Long Thọ trước tác mà tôn vinh Ngài là Sơ Tổ của Tịnh Độ TôngNhật Bản. Ở đây cũng xin mở dấu ngoặc để cho các Phật Tử Việt Nam chúng ta đượctường rằng: Nếu Nhật Bản chấp nhận như vậy được thì Việt Nam chúng ta cũng cóthể chấp nhận Ngài là Sơ Tổ Tịnh Độ Tông của Việt Nam một cách dễ dàng. Từ đóchúng ta sẽ nối kết việc truyền thừa về sau nầy ở quê hương Đại Việt cũng khôngkhó mấy.

“Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận tiếng Phạn gọi làDasabhamika–Vibhàsa–sastra. Gọi tắt là: Thập Trụ Luận. Luận nầy có 17 quyển, doBồ Tát Long Thọ soạn, Ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vàoĐại Chánh tạng tập 26.

Nội dung luận nầy giải thích đại ý phẩmThập Địa (Kinh Thập Địa) trong Kinh Hoa Nghiêm. Trong bản Hán dịch, Ngài LaThập gọi Thập Địa là Thập Trụ. Thập Địa là chỉ cho 19 giai đoạn tu đạo của hàngBồ Tát Đại Thừa. Nhưng Ngài Long Thọ chưa chú thích hoàn chỉnh kinh Thập Địa,mà chỉ mới chú thích Sơ Địa (Hoan Hỷ Địa) và một nửa địa thứ 2 (Ly cấu địa),đây vì nguyên điển không đủ, hay vì phiên dịch chưa hoàn thành?

“Phẩm tựa của luận nầy trước nói về BồTát, sau đó trình bày ý nghĩa của Thập Địa và phân biệt Tam Thừa. Toàn văn chialàm 35 chương (phẩm); từ chương 1 đến chương 27 lược hành là chú thích Sơ Địa;từ chương 28 trở đi mới nói về Địa thứ 2. Phần Sơ Địa thì trước thuyết minh vềnội dung Hoan Hỷ Địa, kế đó nói về lý tưởng (nguyện), thực tiễn (hành) và quảbáo (quả) của Bồ Tát. Đến Địa thứ hai thì tận lực trình bày về tính chất quantrọng của 10 tâm phương tiện, đồng thời nói rõ về Thập Thiện nghiệp đạo của BồTát Đại Thừa, Phẩm dị hành trong thiên thứ 9 thuộc 35 chương của luận nầy làphần trọng yếu của pháp môn Tịnh Độ”. (Trích Phật Quang Đại Từ Điển trang5573).

Đây là một đại tác phẩm của Ngài Long Thọmà tiếc rằng ngày nay chúng ta chỉ mới tham cứu được có 2 Địa trong 10 Địatrong kinh Hoa Nghiêm. Tuy nhiên đến nửa Địa thứ 2, Ngài Long Thọ đã giúp chohành giả tu theo pháp môn Tịnh Độ về việc dị hành (dễ thực hiện) và nan hành(khó thực hiện); để từ đó hành giả tu theo Pháp Môn Tịnh Độ có cơ sở mà thựchành.

“Dị hành nghĩa là dễ làm; đối lại với nanhành (khó làm). Nghĩa là trong 2 pháp tu Nan hành và Dị hành để đạt đến giai vịkhông trở lui, thì Dị hành là pháp tu mau được mà dễ thực hiện.

Ngài Long Thọ cho rằng pháp tu xưng niệmdanh hiệu Phật là không trở lui, mau thành mà dễ làm; nhưng tu pháp nầy, điềukiện tiên quyết là phải có lòng tin vững mạnh.

Vãng Sanh luận chú quyển thượng của ĐàmLoan (Đại 40, 826 trung) nói: Dị hành đạo, nghĩa là chỉ có nhân duyên tin Phật,phát nguyện vãng sanh, nương nhờ nguyện lực của Phật, được sanh về cõi thanhtịnh”.

Tông Tịnh Độ nhật Bản cho rằng xưng niệmdanh hiệu Phật với đầy đủ 3 tâm (trực tâm, thâm tâm và hồi hướng phát nguyệntâm) là Dị hành; Chân Ngôn Tông thì không những cho niệm danh hiệu Phật là Dịhành mà còn cho niệm danh hiệu với niềm tin sâu xa vào tha lực hồi hướng củaPhật A Di Đà cũng là Dị hành”. (Xem Luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa quyển 5 phẩm Dịhành). (Trích Phật Quang Đại Từ Điển trang 1247).

Như vậy, chúng ta thấy rằng: Pháp môn xưngdanh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật đã có sẵn trong 48 lời nguyện của Đức Phật A DiĐà và nhờ chính bổn nguyện lực của Ngài mà chúng sanh có thể vãng sanh về thếgiới Cực Lạc một cách đương nhiên và dễ hơn các pháp môn khác. Nơi đây trongThập Trụ Tỳ Bà Sa luận, Ngài Long Thọ muốn nhắc nhở lại cho chúng sanh đời sauy cứ vào kinh Hoa Nghiêm cũng như 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà để được dễdàng vãng sanh về thế giới Tịnh Độ.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Phổ Hiền thứ 81 qua10 Đại Nguyện của Ngài Phổ Hiền, chúng ta cũng thấy rằng ở Đại Nguyện thứ 10sau khi Ngài hồi hướng đến tất cả pháp giới chúng sanh thì Ngài cũng đã phátđại nguyện rằng: Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời, tận trừ nhứt thiết chưchướng ngại, diện kiến bỉ Phật A Di Đà; tức đắc vãng sanh an lạc sát (Nghĩa:Nguyện con khi đến lúc lâm chung, dứt sạch tất cả những chướng ngại, đối mặtĐức Phật A Di Đà; liền được vãng sanh cõi Cực Lạc).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn