Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

B. Tư tưởng kinh Vô Lượng Thọ

17/07/201200:58(Xem: 5927)
B. Tư tưởng kinh Vô Lượng Thọ
TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ TÔNG

HT Thích Như Điển biên soạn

I. ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI là một Đức Phật lịch sử

B. Tư Tưởng Kinh VÔ LƯỢNG THỌ

Kinh Vô Lượng Thọ là một trong ba kinh quan trọng của những người tu theo pháp môn Tịnh Độ do chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra. Kinh nầy trong hiện tại vẫn còn nguyên bản tiếng Phạn và Hán văn; nhờ đó các vị dịch kinh và các vị luận sư có cơ hội tìm hiểu, đối chiếu để phiên dịch và chú giải, diễn giảng v.v…

Kinh nầy gồm 2 quyển Thượng và Hạ. Quyển Thượng nội dung nói về: Vào một thuở xa xưa có một vị Vua sau khi nghe Đức Phật Thế Tự Tại Vương thuyết pháp, thâm nhập đầy sự vui đẹp, liền bỏ ngôi, xuất gia làm Sa Môn hiệu là Pháp Tạng, từ đó Ngài phát tâm Vô Thượng Bồ Đề và phát ra 48 lời Đại Nguyện (Kinh Vô Lượng Thọ trang 42 đến trang 54). Từ đó Ngài Pháp Tạng Tỳ Kheo thỉnh Đức Như Lai mở bày và diễn giải về hạnh tu Tịnh Độ của các Đức Phật, theo đó mà tu hành để hoàn thành sở nguyện (kinh Vô Lượng Thọ trang 35).

Quyển Hạ, Đức Phật đã dạy cho Ngài A Nan và Ngài Di Lặc cũng như những vị Bồ Tát khác về việc vãng sanh ở cửu phẩm liên hoa nơi các bậc thượng, trung, hạ và đặc biệt nói về đời ác năm trược, chúng sanh lành ít dữ nhiều. Nếu ai có tâm hướng đến danh hiệu của Đức Phật A Di Đà và thực hiện các lời đại nguyện, nhất là các lời nguyện thứ 18, 19, 20 thì sẽ được vãng sanh về thế giới Cực Lạc sau khi lâm chung.

Kinh nầy cũng thuộc loại kinh xếp hàng thứ 5 trong 12 bộ kinh. Đó là “vô vấn tự thuyết”. Một hôm nhìn thấy Đức Phật Thích Ca dung mạo khác lạ, vô cùng hoan hỷ, Ngài A Nan mới hỏi Phật: “Hôm nay tại sao dung mạo của Đức Phật lại khác hơn ngày thường?”. Phật dạy rằng: “Ngài cảm nhớ Đức Phật A Di Đà, muốn nhắc đến nhân địa của vị Phật ấy, để chỉ dạy cho chúng sanh pháp môn Tịnh Độ.

Vì Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nhớ nghĩ đến Đức Phật A Di Đà; nên đã nói ra kinh nầy cho Ngài A Nan và Ngài Di Lặc nghe về quá khứ cũng như những hạnh nguyện của vị Phật nầy, nhằm giúp cho chúng sanh thấy rõ 48 lời nguyện cũng như những nhân lành và quả xấu và làm thế nào để được vãng sanh về đó, sau khi lâm chung.

“Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Phật ở tại núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, cùng với số đông các vị Đại Tỳ Kheo 12.000 người, toàn là những bậc A La Hán đủ các thần thông…”.

Tôi đây chính là Ngài A Nan, làm Thị giả theo hầu Đức Phật vào những năm Đức Phật từ 55 đến 80 tuổi. Vì khi Ngài A Nan sinh ra thì Đức Phật đã thành đạo (35 tuổi theo Tiểu Thừa và 30 tuổi theo Đại Thừa). Đến năm 20 tuổi Ngài A Nan mới xuất gia. Do vậy Ngài A Nan chỉ làm Thị giả cho Đức Phật trong 25 năm sau cùng. Được một điều là trước khi làm Thị giả, Ngài A Nan đã đưa ra một số yêu cầu nơi Đức Phật; nếu được thì Ngài mới theo hầu. Đó là:

- Ngài A Nan không dùng thức ăn thừa cũng như y, áo cũ của Đức Phật để lại. Vì lẽ tránh sự ganh tị trong Tăng Đoàn cũng như không muốn bị tai tiếng về sau là Đức Phật chỉ ưu đãi Ngài A Nan chứ không ưu đãi những vị Tỳ Kheo lão bệnh khác.

- Kế tiếp là Ngài A Nan yêu cầu Đức Thế Tôn tuyên thuyết lại tất cả những kinh điển Đức Phật đã nói mà Ngài A Nan lúc chưa xuất gia chưa được nghe đến; hoặc giả Đức Phật nói ở cung rồng hay Thiên cung, Ngài A Nan chưa chứng A La Hán, không có thần thông; nên không thể theo hầu Phật ở những nơi ấy. Kính mong Đức Thế Tôn tuyên bày lại tất cả diệu nghĩa của những kinh điển nầy.

- Bên Hương Thất trên núi Linh Thứu là những động đá; nơi nhập Thiền của Ngài Xá Lợi Phất và Ngài A Nan. Bất cứ, vua, quan, thứ dân, đại thần… nếu ai muốn gặp Đức Phật phải gặp Ngài trước; nếu Ngài thấy chưa đúng thời thì không cho vào.

Mới nghe những điều nầy thấy hơi lạ; nhưng suy nghĩ cho cùng, tất cả đều đứng đắn với tư cách của một Thị giả; cho nên Đức Phật đã chọn Ngài A Nan. Khi Đức Phật cao tuổi, nhiều vị Đệ Tử lớn của Đức Phật như Ngài Ca Diếp cũng muốn hầu cận bên Ngài; nhưng ý Đức Phật muốn chọn Ngài A Nan; nên sau khi Ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông thấy được ý muốn của Phật; nên chúnng hội đã thuận theo ý của Đức Phật.

Như vậy tất cả kinh điển có chữ bắt đầu bằng câu: Tôi nghe như vầy. Đó là lời của Ngài A Nan vậy. Đức Phật ở tại núi Kỳ Xá Quật thuộc thành Vương Xá. Nhiều học giả chú thích núi Kỳ Xà Quật là núi Linh Thứu: Nhưng trên thực tế 2 núi nầy nằm riêng lẻ, cách một con đường gọi là con đường Tần Bà Xa La. Hai núi nầy bao bọc thành Vương Xá của xứ Ma Kiệt Đà. Lần đầu tiên khi Thái Tử trên đường tìm đạo cũng đã đến nơi nầy, gặp vua Tần Bà Xa La. Sau khi nhà vua biết Thái Tử là Đông Cung của xứ Ca Tỳ La Vệ; nên muốn nhường ngôi vua và nhà vua thì làm thần dân của nước ấy; nhưng Thái Tử đã thưa rằng: “Chỉ có con đường giải thoát mới là mục đích; chứ Ngai vàng không phải là điều Ngài mong ước”. Cuối cùng vua Tần Bà Xa La đã để cho Thái Tử ra đi và bảo rằng: “Nếu sau khi Ngài thành đạo, hãy về lại đây trước để độ cho Trẫm”. Giữ lời hứa ấy, sau khi thành đạo dưới cội Bồ Đề nơi thành Già Da, Đức Phật đã đi bộ về xứ Ma Kiệt Đà, nơi thành Vương Xá nầy để thăm vua Tần Bà Xa La. Do vậy nơi núi Linh Thứu và núi Kỳ Xà Quật là hai nơi quan trọng đối với Đức Phật cũng như vua Tần Bà Xa La vào lúc ban đầu cũng như trước khi Đức Phật thị tịch Niết Bàn.

Núi Kỳ Xà Quật có hình thể như con rắn, nhiều cây cối, nằm thoai thoải phía bên trái con đường Tần Bà Xa La. Từ trên núi nầy Đề Bà Đạt Đa đã lăn đá hại Phật, mãi cho đến ngày nay trên đường đi nầy chúng ta vẫn còn thấy được những dấu tích ấy. Rồi một nơi khác đánh dấu vua Tần Bà Xa La xuống ngựa, đuổi đoàn tùy tùng đi trở về và một mình đi qua một chiếc cầu nhỏ để lên núi Linh Thứu đảnh lễ Đức Thế Tôn. Núi Linh Thứu ở bên dưới có hai động đá của Ngài Xá Lợi Phất và Ngài A Nan. Bên trên là khu Tự viện và trên chót đỉnh là hương thất của Đức Phật. Chính từ hương thất nầy, Đức Phật đã giảng nhiều bộ kinh quan trọng như Pháp Hoa, Niết Bàn, Bát Nhã v.v…

Riêng kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật nói tại núi Kỳ Xà Quật; ngày nay có lẽ nằm nơi bảo tháp hòa bình của Phật Giáo Nhật Bản. Vì lẽ Đức Phật bao giờ cũng chọn vị trí thoáng mát, cao đẹp để thiền định và dễ bề quán sát nhân sinh cũng như tiếp xúc với các vị Trời cùng các vị Bồ Tát trong khoảng hư không rộng rãi ấy.

Tuy Đức Phật và Tăng chúng ở những nơi hoang vắng như thế để dễ bề thiền định; nhưng đa phần không xa những nơi dân chúng cư ngụ. Vì lẽ mỗI buổi sáng Đức Phật và chư Tăng vẫn hay vào thành khất thực. Nếu không có dân cư ở đó thì cũng là việc khó khăn cho chuyện ăn uống; nên thành Vương Xá nằm cách dưới chân núi cũng không xa lắm, độ chừng 2 đến 3 cây số.

Tư tưởng của 48 lời nguyện là tư tưởng vượt qua khỏi thời gian vô cùng và không gian vô tận. Vì theo nội dung của 48 lời nguyện ấy khi nào chúng sanh không còn khổ sanh tử nữa thì Đức Phật A Di Đà và chư vị Thánh chúng ở cõi Tây phương Cực Lạc mới hoàn nguyện. Do vậy lời thệ nguyện thì vô cùng mà năng lực tự tại của chúng sanh quá giới hạn; nếu không nương vào tha lực của Đức Phật A Di Đà thì khó bề mà vãng sanh được.

Khi còn là một Pháp Tạng Tỳ Kheo, Ngài đã đứng trước Đức Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai phát ra 48 lời nguyện như vầy:

Nguyện thứ nhất- Giả sử khi thành Phật, trong cõi nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Đây là 3 đường khổ trong luân hồi sanh tử. Những chúng sanh nầy phải bị trầm luân, vì không giữ gìn giới luật và không tin vào tội phước báo ứng; nhưng ở cõi Cực Lạc sẽ không hoàn toàn có những cõi nầy.

Nguyện thứ hai- Giả sử khi thành Phật, các hàng trời người trong cõi nước tôi, sau khi mạng chung mà còn sa đọa vào đường ác, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Nghĩa là đã sanh về Cực Lạc rồi thì không còn trở lại luân hồi trong 6 cõi nữa. Ở đấy tiếp tục tu hành để đạt được vô thượng bồ đề.

Nguyện thứ ba- Giả sử khi thành Phật, nếu hàng trời người trong cõi nước tôi, thân thể đều chẳng thuần là sắc vàng, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Cõi Cực Lạc cũng còn gọi là Tịnh Độ và cõi ấy cũng có thể gọi là thường tịch quang Tịnh Độ. Vì các vị Bồ Tát ở đó thân thể giống như vàng ròng, sáng chói; chiếu đi trong 10 phương vô biên cõi nước.

Nguyện thứ tư- Giả sử khi thành Phật, nếu hàng trời người trong cõi nước tôi hình sắc chẳng đồng, còn có kẻ tốt và người xấu xí, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Phật và chư vị Bồ Tát đều có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Ai sanh về Tây Phương Tịnh Độ rồi thì sẽ có hình thể đoan chánh, trang nghiêm không còn có kẻ thân hình xấu xa ở đó nữa.

Nguyện thứ năm- Giả sử khi thành Phật, nếu hàng trời người trong cõi nước tôi chẳng biết kiếp trước, ít nữa là biết những việc xảy ra trong trăm ngàn ức na do tha kiếp, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Nhớ lại kiếp xưa là do thần lực của chư Phật gia trì để biết mình trong quá khứ làm những gì và đã ở chốn nào sanh về đây. Biết một kiếp đã là khó, mà ở cõi Tây Phương Cực Lạc còn biết được trăm ngàn ức na do tha kiếp nữa. Như vậy nhờ tha lực của Đức Phật A Di Đà mà chúng sanh ở tại Cực Lạc có khả năng nhớ biết dài lâu như vậy.

Nguyện thứ sáu- Giả sử khi thành Phật, nếu hàng trời người trong cõi nước tôi chẳng được thiên nhãn, ít nữa là thấy hàng trăm ngàn ức vô số thế giới của các Đức Phật, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Thiên nhãn thông là một trong sáu loại thần thông diệu dụng của chư Phật. Ở cõi Cực Lạc không phải chỉ thấy được một cõi, mà còn có thể thấy được vô lượng thế giới khác nữa. Những thế giới ấy đối với các bậc giác ngộ giống như nằm trong lòng bàn tay của mình vậy.

Nguyện thứ bảy- Giả sử khi thành Phật, nếu hàng trời người trong cõi nước tôi chẳng được thiên nhĩ, ít nữa là nghe và hay thọ trì những lời nói pháp của trăm ngàn ức vô số Đức Phật, tôi sẽ không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Chúng sanh sanh về đó rồi sẽ tự tại vô ngại của lục căn. Lục căn khi còn phàm phu chỉ có thể nghe, thấy giới hạn; nhưng nếu đã sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà rồi thì khả năng nghe thấy nhiều vô lượng vô số điều lành từ chư vị Phật ở các cõi khác nữa.

Nguyện thứ tám- Giả sử khi thành Phật, nếu hàng trời người trong cõi nước tôi chẳng được tha tâm trí, ít nữa là biết tâm niệm chúng sanh trong trăm ngàn ức vô số thế giới của các Đức Phật, tôi sẽ không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Tha tâm trí hay tha tâm thông chỉ có nơi chư vị Phật và Bồ Tát. Còn ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, nếu hàng trời người đã được sanh về đó cũng được tha tâm trí để hiểu được tâm niệm của trăm ngàn ức vô số thế giới của các Đức Phật. Tất cả đều do tha lực của Đức Phật A Di Đà mà các chúng sanh tại đó được thành tựu. Nếu không nhờ năng lực bổn nguyện vốn phát ra từ lời nguyện rộng lớn ấy thì các chúng sanh kia ở cõi Cực Lạc cũng không thể thành tựu được những khả năng như vậy.

Nguyện thứ chín- Giả sử khi thành Phật, nếu hàng trời người trong cõi nước tôi chẳng được sức thần túc, trong khoảng một niệm, ít nữa chẳng thể lướt qua hàng trăm ngàn ức na do tha thế giới của các Đức Phật, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Thần túc thông nghĩa là đi như bay. Bình thường con người ở cõi nầy không có được. Ví dụ như Vô Não gặp Phật. Đức Phật chỉ đi; nhưng Vô Não chạy theo không kịp. Hiện tượng nầy chỉ có được nơi những vị chứng đạo. Chỉ trong một niệm thôi, mà các chúng sanh nơi cõi Cực Lạc có thể lướt qua hằng trăm ức na do tha thế giới như thế; thật là bất khả tư nghì, bất khả thuyết.

Nguyện thứ mười - Giả sử khi thành Phật, nếu hàng trời người trong cõi nước tôi còn có ý tưởng tham chấp bản thân, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Tự kỷ cá nhân, tự kỷ chủ nghĩa chỉ có nơi thế giới tham lam, vị kỷ ở cõi Ta Bà nầy. Nếu đã được sanh về thế giới Cực Lạc rồi thì ai cũng vì tha nhân, vì Bồ Tát hạnh, chứ không thể vì mình mà phải quên mình; nơi cõi ấy quyết không tồn tại những chúng sanh như thế.

Nguyện thứ mười một- Giả sử khi thành Phật các hàng trời người trong cõi nước tôi, nếu chẳng trụ vào hàng chánh định tụ, mãi cho đến lúc vào quả Niết Bàn, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Chánh Định Tụ nghĩa là những bậc Bồ Tát đã dứt hết “Kiến Hoặc” được quả Ly Hệ, rốt ráo chẳng lui, định trong chính tính Niết Bàn trạch diệt. Cho nên gọi là Chánh Định. Cũng có những vị Bồ Tát từ ngôi vị Thập Tín trở lên, cũng gọi là Chánh Định. Đây dùng để chỉ cho những người chắc chắn được chứng ngộ trong số chúng sanh tại cõi Cực Lạc ấy. Nghĩa là đa phần chúng sanh ở cõi nầy đều là những vị Bồ Tát. Những vị nầy đều do tha lực của Đức Phật A Di Đà tạo nên.

Nguyện thứ mười hai- Giả sử khi thành Phật, quang minh thân tôi nếu có hạn lượng, ít nữa chẳng soi hàng trăm ngàn ức vô số cõi Phật, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Vô lượng quang có nghĩa là ánh sáng vô lượng, không bị ngăn cản bởi một vật gì. Ánh sáng nầy sẽ chiếu khắp hàng trăm ngàn ức vô số cõi Phật để tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc. Do vậy Ngài mới có danh hiệu là A Di Đà. Nghĩa là một vị Phật có ánh sáng quang minh vô lượng.

Nguyện thứ mười ba- Giả sử khi thành Phật, thọ mạng của tôi nếu có hạn lượng, ít nữa chẳng đến hàng trăm ngàn ức na do tha kiếp, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Chữ Amitayus có nghĩa là Vô Lượng Thọ. Đức Phật ấy có tuổi thọ không lường, hiệu Ngài là A Di Đà Phật, ít nhất sự sống lâu ấy cũng kéo dài đến hàng trăm ngàn ức na do tha kiếp số. Sống ở Ta Bà nầy 100 năm đã là lâu so với các cõi trời ở Dục Giới như Dạ Ma, Đẩu Suất, Đao Lợi, Tứ Thiên Vương v.v… còn so với Đức Phật A Di Đà hay cõi Tây Phương Cực Lạc thì không thể dùng con số tính đếm mà nói được.

Nguyện thứ mười bốn- Giả sử khi thành Phật, số chúng Thanh Văn trong cõi nước tôi không một người nào có thể tính lường, đến như chúng sanh trong toàn một cõi đại thiên thế giới, giả sử đều là Thanh Văn, Duyên Giác, cùng nhau tính đếm trong trăm ngàn kiếp, mà tính biết được số Thanh Văn ấy, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Như vậy cư dân ở cõi Cực Lạc nầy toàn là những bậc Thánh; các Ngài đã chứng quả Tiểu Thừa hoặc Đại Thừa. So ra như vậy với 7 tỷ người trên quả địa cầu nầy của năm 2011 chẳng là bao. Chúng sanh ở cõi Ta Bà còn thiếu thức ăn, vì quá nhiều nhân khẩu; nhưng chúng Thanh Văn, Duyên Giác ở cõi Cực Lạc nếu muốn ăn, chỉ cần tưởng nhớ đến món ăn là thức ăn hiện ra trước mắt liền. Nguyên thủy chúng sanh ở cõi Ta Bà nầy cũng không cần làm lụng để có cái ăn cái mặc; nhưng vì chúng sanh tại đây hưởng dục nhiều quá; nên những phép mầu ấy tiêu hủy dần mòn; nên ngày nay chúng sanh tại đây chịu khổ là vì lý do không biết đủ ấy.

Nguyện thứ mười lăm- Giả sử khi thành Phật, các hàng trời người trong cõi nước tôi tuổi thọ lâu dài, không ai có thể tính lường rõ biết, trừ những người nào có bản nguyện riêng, tự do tu hành rút ngắn thọ mạng. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Ngôi chánh đẳng chánh giác là ngôi vị Phật, Thế Tôn. Nếu không là vậy thì Ngài sẽ không làm Phật. Làm Phật ở cõi có tuổi thọ dài lâu, không bị sanh tử và khổ đau chi phối và tuổi thọ ấy không thể đếm tính được; chỉ trừ những người nào có những lời nguyện căn bản thì có thể rút ngắn tuổi thọ của mình lại. Đoạn nầy có thể giải thích về “hoàn tướng” của những chúng sanh nầy. Hoàn tướng có nghĩa là sau khi đã sanh về thế giới Cực Lạc rồi, không muốn trụ ở đó dài lâu, mà muốn quay về ở Ta Bà để sanh thì ở đây có thể rút ngắn tuổi thọ lại để thực hiện hoài bão của mình khi phát nguyện sanh về đây.

Nguyện thứ mười sáu- Giả sử khi thành Phật, các hàng trời người trong cõi nước tôi, nếu còn nghe đến danh từ bất thiện; tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Ở cõi ấy tiếng khổ còn không nghe thấy, huống hồ nói đến những việc không lành. Những việc ấy chỉ xảy ra nơi cõi Ta Bà và các cõi Dục khác; còn nơi đây, ở cõi Cực Lạc nầy hoàn toàn không có danh từ chẳng lành ấy.

Nguyện thứ mười bảy - Giả sử khi thành Phật, Vô Lượng Đức Phật mười phương thế giới, chẳng cùng tấm tắc khen ngợi, đồn đãi danh hiệu của tôi, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Tán thán, ngợi khen là một công đức rất lớn đối với chúng sanh khi đứng trước ba ngôi báu. Ở đây các Đức Phật ở trong mười phương thế giới khác khi nghe, thấy được những lời thệ nguyện và danh hiệu của Đức Phật A Di Đà mà không tán thưởng thì quả là điều ít có. Vì lẽ ít có vị Bồ Tát nào từ khi sơ phát tâm cho đến khi thành Phật mà có được những hạnh nguyện cao cả như Đức Phật A Di Đà.

Nguyện thứ mười tám- Giả sử khi thành Phật, chúng sanh mười phương hết lòng tin ưa, mong muốn sanh về cõi nước tôi, xưng danh hiệu tôi cho đến mười niệm mà chẳng được sanh, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác, chỉ trừ những kẻ tạo tội ngũ nghịch, chê bai chánh pháp.

Lời nguyện thứ 18 nầy rất quan trọng đối với tất cả những chúng sanh trong thế giới Ta Bà nầy. Ngài Thiện Đạo người Trung Hoa; Ngài Thân Loan người Nhật Bản xem đây là mấu chốt, là rường cột của việc sanh về Cực Lạc do bổn nguyện lực của Đức Phật A Di Đà. Nếu niệm Phật do tự lực mà thành thì tự lực ấy không đủ khả năng để làm cho chúng sanh sanh về đó. Điều quan trọng là tin ưa để sanh về; nếu không tin sâu, nguyện thiết thì các vị Thánh chẳng sẽ không đến nghinh tiếp khi lâm chung và niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà từ một cho đến mười niệm nhất tâm, mà chẳng được sanh thì Ngài sẽ không thành Phật.

Niệm niệm sanh rồi diệt, diệt rồi sanh. Như vậy niệm vào có thể chánh niệm và liên tục được. Nếu không nhờ vào thần lực và bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà thì làm sao chúng sanh trong cõi Ta Bà nầy có thể làm chủ mình được trong những niệm ấy. Do vậy sự được sanh kia là do Đức Phật A Di Đà. Nơi lời nguyện thứ 18 nầy Đức Phật A Di Đà ngoại trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch và những kẻ nhất xiển đề thì không được sanh; nhưng trong kinh Quán Vô Lượng Thọ phần quán thứ 16 và trong kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 2, phẩm Phạm Hạnh thì khác. Những phẩm nầy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng: Những người phạm tội như thế vẫn được sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc với những điều kiện biết xấu hổ những tội lỗi đã gây ra trong nhiều đời, cũng như cần phải có thiện hữu trí thức giúp đỡ nhắc nhở niệm Phật lúc lâm chung. Tất cả các pháp đều bất định; nên nhất xiển đề cũng bất định. Ngày hôm qua nhất xiển đề không tin Phật Pháp; nhưng rồi ngày mai, ngày mốt nhất xiển đề phát tâm tin hiểu. Những kẻ như vậy cũng sẽ có khả năng sanh về chốn Lạc Bang.

Nguyện thứ mười chín- Giả sử khi thành Phật, chúng sanh mười phương nhất tâm Bồ Đề, tu công đức, dốc lòng phát nguyện muốn sanh nước tôi, đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng vây quanh hiện trước người đó, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Nếu một chúng sanh ở cõi Ta Bà nầy khi lâm chung mà Đức Phật A Di Đà và các vị Thánh chúng đến tiếp dẫn, thì phải nói rằng người ấy có cái nhân vị Đại Thừa, tin tưởng tuyệt đối 12 bộ kinh, hành trì giới luật nghiêm minh cũng như tu tạo phước đức, phát bồ đề tâm dõng mãnh thì mới được gặp Phật và nghe Phật thuyết pháp. Đức Phật A Di Đà đã phát nguyện như vậy là một chuyện thật; nhưng chúng sanh có được tiếp dẫn về phẩm vị cao tột ấy hay không là do sự phát nguyện thọ trì kinh điển và giới luật của Đại Thừa. Đây là cái nhân chính để được cái quả vị như vậy.

Nguyện thứ hai mươi- Giả sử khi thành Phật, chúng sanh mười phương nghe danh hiệu tôi, tưởng cõi nước tôi, trồng các cội đức, dốc lòng hồi hướng muốn sanh nước tôi, nếu như kết quả không được toại nguyện, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Khi nghe danh hiệu của Ngài, nhớ tưởng đến cảnh giới Tây Phương Cực Lạc và trồng các cội phước đức rồi hồi hướng tất cả phước đức ấy để được sanh về cõi ấy. Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ (trang 160) muốn được vãng sanh phải tu tạo những phước đức như sau:

Một là hiếu dưỡng với cha mẹ, vâng lời Thầy dạy, từ tâm chẳng giết hại, tu 10 thiện nghiệp.

Hai là thọ giữ ba pháp quy y Tam Bảo, đủ các giới cấm, không phạm oai nghi.

Ba là phát tâm Bồ Đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Phương Đẳng Đại Thừa, khuyên người khác cùng tu học.

Nếu phân tách thật kỹ thì lời nguyện thứ 20 nầy cũng gần giống như lời nguyện thứ 18. Vì vậy cũng đã có những vị Tổ Đức như Ngài Thân Loan của Nhật Bản ở thế kỷ thứ 13, đầu tiên Ngài cũng theo lời nguyện thứ 20 nầy để phát nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc; nhưng sau đó thì Ngài phát nguyện nương theo lời nguyện thứ 18 để nương nhờ bổn nguyện lực của Đức Phật A Di Đà để được vãng sanh.

Nguyện thứ hai mươi mốt- Giả sử khi thành Phật, các hàng trời người trong cõi nước tôi, nếu tất cả đều chẳng có đầy đủ 32 tướng của bậc đại nhân, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Sở dĩ chư Phật, chư vị Bồ Tát có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp vì lẽ các Ngài giữ giới thanh tịnh và tu tạo những phước đức viên mãn. Các chúng sanh ở cõi Cực Lạc cũng như tu tạo các phước đức và giữ giới thanh tịnh; nên mới được như vậy.

Nguyện thứ hai mươi hai- Giả sử khi thành Phật, số đông Bồ Tát ở cõi Phật khác sanh đến nước tôi, rốt ráo đến bậc Nhứt Sanh Bổ Xứ, trừ những vị nào có bản nguyện riêng ứng hóa tự tại, vì công đức, độ thoát tất cả, dạo qua cõi nước của các Đức Phật, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường chư Phật trong khắp mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, làm cho tất cả đứng vững nơi đạo vô thượng chánh giác, vượt lên công hạnh các bậc thông thường, hiện tiền tu tập công đức rộng lớn của hạnh Phổ Hiền. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Bồ Tát Nhứt Sanh Bổ Xứ là Bồ Tát chỉ còn một đời nữa sẽ thị hiện làm Phật ở một cõi nào đó. Ví dụ như Bồ Tát Di Lặc hiện bây giờ đang ở trong Nội Cung Đẩu Suất chờ đó cho đến khi nào giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không còn tồn tại nơi cõi Ta Bà nầy nữa thì Ngài sẽ hạ sanh vào đây. Hình thức nầy cũng còn gọi là hình thức hoàn tướng của các vị Bồ Tát. Vì các vị ấy không muốn trụ yên nơi thế giới Cực Lạc mà theo lời nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền trở lại Ta Bà để hóa độ chúng sanh. Đây là một đại nguyện.

Nguyện thứ hai mươi ba - Giả sử khi thành Phật, Bồ Tát trong nước nương thần lực Phật, nếu muốn cúng dường các Đức Phật khác, trong khoảng bữa ăn mà chẳng thể đến khắp vô lượng ức na do tha cõi của các Đức Phật, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Các vị Bồ Tát được sanh về cõi Cực Lạc còn phải nương vào thần lực của chư Phật. Vì thần lực của chư Phật là tha lực tối cao, để giúp cho các vị Bồ Tát chỉ trong khoảng bữa ăn có thể bay đến mười phương vô biên quốc độ để đảnh lễ cúng dường các vị Phật ở đó. Nếu chỉ riêng năng lực của các vị Bồ Tát thì không thể thành tựu việc cúng dường nầy.

Nguyện thứ hai mươi bốn- Giả sử khi thành Phật, Bồ Tát nước tôi ở trước chư Phật, biểu hiện cội đức của mình, muốn có các vật dùng để cúng dường mà không thể được đúng theo ý muốn, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Đức Phật A Di Đà sẽ dùng tha lực của Ngài hóa hiện mọi vật cần dùng để cho các vị Bồ Tát đi đến các vị Phật ở những cõi khác để cúng dường.

Nguyện thứ hai mươi lăm- Giả sử khi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong cõi nước tôi, nếu chẳng có thể diễn nói về Nhất Thiết Trí, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Nhất Thiết Trí theo kinh Nhân Vương Hộ Quốc, Ba La Mật Đa quyển hạ (Đại 8, 843 thượng) nói rằng: “Đầy khắp cõi vô lậu, thân giải thoát thanh tịnh, vắng lặng chẳng nghĩ bàn, gọi là Nhất Thiết Trí”. Bồ Tát Nhất Thiết Trí là những vị Bồ Tát giải thoát, thanh tịnh, vắng lặng không còn suy nghĩ gì nữa. Ở cõi Cực Lạc đầy dẫy những vị như vậy.

Nguyện thứ hai mươi sáu- Giả sử khi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong cõi nước tôi, nếu chẳng được thân Kim Cang Na La Diên, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Thân Kim Cang Na La Diên là thân thù thắng của Phật, Bồ Tát. Vì thân của Phật, Bồ Tát cứng chắc, giống như kim cương, không một vật gì khác làm hư hoại được. Còn sức mạnh của các Ngài cũng giống như sức mạnh của Trời Na La Diên; cho nên gọi thân của các Ngài là thân Kim Cương Na La Diên.

Nguyện thứ hai mươi bảy - Giả sử khi thành Phật, từ hàng trời người trong khắp cõi nước, cho đến vạn vật thảy đều nghiêm sạch, hình dạng màu sắc sáng rỡ lạ lùng, sự khéo rất mực, không ai có thể tính lường biết hết. Nếu chúng sanh nào dầu có thiên nhãn mà có thể hiện rõ biết danh số, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Cõi Cực Lạc còn gọi là cõi Tịnh Độ trong sạch từ trời người cho đến muôn vật. Đây là do tha lực của Đức A Di Đà biến hiện. Hình dáng và màu sắc của những chúng sanh ở đó sáng rực như hào quang, đẹp đẽ lạ thường. Những vị Bồ Tát và những chúng sanh ấy nhiều vô số, không thể kể hết được.

Nguyện thứ hai mươi tám- Giả sử khi thành Phật, Bồ Tát nước tôi, người nào mặc dầu công đức ít nhất, mà chẳng có thể thấy biết về cây Bồ Đề Đạo Tràng với vô lượng ánh sáng, vô lượng màu sắc, cao bốn trăm muôn dặm. Nếu chẳng được thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Mỗi một Đức Phật khi còn thực hành hạnh Bồ Tát đều ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ Đề. Nơi ấy sau khi Đức Phật thành đạo rồi, gọi là Đạo Tràng. Từ cây Bồ Đề ấy tỏa sáng vô lượng màu sắc và vươn cao lên không trung hằng bốn trăm muôn dặm. Đây chính là hình ảnh biểu thị của sự giác ngộ, mà dẫu cho một vị Bồ Tát ít phước đức nhất cũng có thể thấy được nơi cõi Tây Phương Cực Lạc.

Nguyện thứ hai mươi chín- Giả sử khi thành Phật, Bồ Tát nước tôi, hoặc thọ đọc kinh, phúng tụng diễn nói, mà chẳng có được biện tài trí tuệ, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Các vị Bồ Tát ở cõi Cực Lạc thường hay thọ trì, đọc tụng kinh điển và diễn nói những phép mầu từ kinh điển mà chư Phật đã tuyên thuyết. Khi thọ trì, đọc tụng như vậy đều có những biện tài vô ngại, thế trí biện thông; khiến cho chúng sanh ở đó nghe pháp phải phát lòng tin tưởng nơi giáo lý cao thâm vi diệu ấy.

Nguyện thứ ba mươi- Giả sử khi thành Phật, các vị Bồ Tát trong cõi nước tôi, về chỗ trí tuệ và tài biện luận nếu còn có hạn, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Nhờ vào tha lực của Đức Phật A Di Đà mà tất cả những vị Bồ Tát ở cảnh giới Cực Lạc đều có trí tuệ siêu việt và biện tài vô ngại. Trí tuệ là thành quả tu chứng của chư Phật và các vị Thánh Chúng. Tài biện luận là sự nhiếp phục chúng sanh bởi lòng từ bi và trí tuệ sẽ nhiếp hóa chúng sanh một cách dễ dàng.

Nguyện thứ ba mươi mốt- Giả sử khi thành Phật, nước tôi thanh tịnh, đâu đâu cũng đều soi thấy hết thảy vô lượng vô số bất khả tư nghì thế giới của các Đức Phật trong khắp mười phương, dường như gương sáng soi rõ khuôn mặt. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Một thế giới như vậy, gọi là một thế giới trong sạch, thanh tịnh, trong suốt. Do vậy tiếng Anh gọi là: Pure Land, tiếng Đức gọi là: Reines Land. Cả hai ngôn ngữ ấy đều diễn tả sự trong suốt, sạch sẽ của cõi giới nầy. Tịnh Độ ở đây đối nghĩa lại với uế độ giống như cõi Ta Bà nầy; nơi chúng sanh đang ở vậy.

Cõi Cực Lạc trong suốt như pha lê, được cấu tạo toàn bằng ánh sáng, không phải bằng nghiệp lực. Do vậy có thể soi thấy hết tất cả các cõi Phật khác. Đây cũng là một tấm gương phản chiếu tâm thức của những chúng sanh tại đó. Vì lẽ tâm thức của các vị Bồ Tát tại đó trong suốt; cho nên thế giới cũng trong suốt như pha lê vậy.

Nguyện thứ ba mươi hai- Giả sử khi thành Phật, cõi nước của tôi từ nơi mặt đất lên đến hư không, nào những cung điện, lầu quán, hồ nước, cây hoa v.v… Tất cả vạn vật đều bởi vô lượng châu báu phức tạp, trăm ngàn thứ hương chung hợp tạo thành, tô điểm kỳ lạ; vượt hơn tất cả trời người. Mùi hương xông khắp mười phương thế giới. Bồ Tát cảm nhận đều tu hạnh Phật. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Một cõi nước như vậy chỉ có thể có được qua lời phát nguyện của Đức Phật A Di Đà và chính do bổn nguyện cũng như từ lực của Ngài mà thành tựu một cõi giới như thế. Mỗi Đức Phật ngự trị một cõi Tịnh Độ; nhưng Cực Lạc thì chỉ có một, nơi đây nằm dưới quyền cai quản, dạy dỗ của Đức Phật A Di Đà. Từ nhà cửa, cây báu và những loại vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, san hô, hổ phách v.v… tô điểm cảnh giới nầy, làm cho cõi Cực Lạc xinh đẹp hơn những cõi Tịnh Độ khác. Nơi ấy hương thơm ngào ngạt, xông đến khắp mười phương vô biên thế giới.

Nguyện thứ ba mươi ba- Giả sử khi thành Phật, các hạng chúng sanh trong khắp mười phương vô lượng bất khả tư nghì thế giới của các Đức Phật, bất cứ ai được quang minh tôi xúc chạm đến thân, thì thân tâm người đó trở nên dịu dàng, hơn hàng trời người. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Đấy là những người có nhân duyên với Phật Pháp và riêng với Đức A Di Đà. Nếu người, trời và chúng sanh trong các cõi tiếp xúc được với ánh sáng vô lượng ấy, chắc chắn khi lâm chung sẽ được sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.

Nguyện thứ ba mươi bốn - Giả sử khi thành Phật, những chúng sanh trong vô lượng bất khả tư nghì thế giới của các Đức Phật ở khắp mười phương, nghe danh hiệu tôi mà chẳng chứng được vô sanh pháp nhẫn, các môn tổng trì sâu xa của Bồ Tát, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Vô Sanh Pháp Nhẫn là đối với lý thực tướng các pháp không sanh diệt, tin nhận thông suốt, không ngần ngại, không lùi bước; nên gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Trên thực tế ở cõi nầy hay cõi khác, các pháp đều không đến, không đi, không còn, không mất, không sanh không diệt. Bồ Tát nhận thấy rõ tướng ấy nên được vào các môn Tổng Trì sâu xa. Khi nghe đến tên của Đức Phật A Di Đà mà các Bồ Tát trong mười phương vô biên thế giới đã thâu nhập được Phật trí như vậy; quả là tha lực của Đức Phật A Di Đà có một công năng thật là diệu dụng.

Nguyện thứ ba mươi lăm- Giả sử khi thành Phật, vô lượng bất khả tư nghì thế giới của các Đức Phật ở khắp mười phương, bất cứ nơi nào có hàng nữ nhân, nghe danh hiệu tôi mà vui mừng tin ưa, phát tâm bồ đề, nhàm chán thân nữ, sau khi mạng chung, nếu còn làm thân phụ nữ trở lại, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Ở các cõi Dục, chúng sanh còn ngu si mê muội; nên còn có thân nam và thân nữ để giao hội với nhau và sinh con đẻ cái; nhưng thế giới chư Phật không cần thân nữ nữa. Ở đây tất cả đều do thần lực biến hóa sanh và ngay cả chư Thiên ở cõi trời Sắc giới và Vô Sắc giới cũng vậy. Họ không vì lục dục, thất tình mà bị chìm nổi. Họ dùng thần thông và tâm thức để trao đổi với nhau và từ đó sanh ra luyến ái; nhưng vẫn còn khổ sở của sinh tử chi phối, nhất là khi họ hưởng phước đức ở những cõi trời ấy mãn; họ cũng có thể bị đọa xuống làm người hay những loài thấp hơn.

Do vậy là nữ nhân, khi nghe được danh hiệu của Đức Phật A Di Đà mà vui tin cũng như nhàm chán thân nữ, rồi phát tâm Bồ Đề để sanh về cõi Cực Lạc thì chính nơi ấy sẽ vĩnh viễn thoát ly được cảnh sanh tử luân hồi.

Nguyện thứ ba mươi sáu- Giả sử khi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất khả tư nghì thế giới của các Đức Phật ở khắp mười phương nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung vẫn cứ luôn luôn tu hành phạm hạnh cho đến thành Phật. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Danh hiệu của Đức Phật A Di Đà rất quan trọng. Trong ấy chứa đủ cả vô lượng quang và vô lượng thọ. Nếu có các vị Bồ Tát nào khi nghe danh hiệu xong, cho đến lúc lâm chung vẫn luôn luôn tu hành những phạm hạnh và nhớ nghĩ đến danh hiệu Phật A Di Đà thì vị Bồ Tát ấy sẽ đạt được quả vị Phật.

Nguyện thứ ba mươi bảy - Giả sử khi thành Phật, các hàng trời người trong vô lượng bất khả tư nghì thế giới của các Đức Phật ở khắp mười phương, nghe danh hiệu tôi mà gieo năm vóc, cúi đầu lễ lạy, mừng rỡ tin ưa, tu hành Bồ Tát, thì kẻ ấy được chư thiên, người đời rất mực kính trọng. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Danh hiệu A Di Đà Phật, nếu có chúng sanh nào nghe được rồi, lại đem năm vóc gieo xuống đất để lễ bái, tán thán, cúng dường và vui mừng tu theo lục độ Ba La Mật của các vị Bồ Tát thì chính người ấy sẽ được chư Thiên, loài người trong đời nầy rất mực cung kính. Vì lẽ chúng sanh ấy biết kính Phật, khi nghe đến danh hiệu mà còn lễ lạy để tỏ lòng tôn kính, thì chư Thiên và loài người đối với kẻ lễ bái kia cũng thực hành như vậy.

Nguyện thứ ba mươi tám- Giả sử khi thành Phật, các hàng trời người trong cõi nước tôi muốn được y phục, thì tùy niệm liền đến tự nhiên nơi thân, được Phật khen ngợi pháp phục thích ứng, nếu như còn phải tìm tòi may cắt, đập nhuộm, giặt giũ, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Cõi Phật A Di Đà là cõi Tịnh Độ biến hóa. Chỉ cần chúng sanh tại đó khởi lên tâm niệm gì, thì Đức A Di Đà liền hóa hiện ra thứ đó. Ví dụ như muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc. Tất cả những pháp phục này không cần may sắm; chỉ cần ước muốn, nhớ nghĩ trong tâm niệm là các pháp phục tự nhiên đến mặc vào thân mình mà còn được chư Phật mgợi khen đẹp đẽ nữa.

Nguyện thứ ba mươi chín- Giả sử khi thành Phật, các hàng trời người trong cõi nước tôi cảm thọ sự vui, chẳng như Tỳ Kheo đã hết lậu hoặc, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Các vị Tỳ Kheo sanh về cõi nầy mà còn phiền não thì không hiện hữu ở cõi nầy. Tất cả lậu hoặc đã hết và chỉ cảm thọ toàn là niềm vui ở cõi giới Tây Phương Cực Lạc nầy.

Nguyện thứ bốn mươi- Giả sử khi thành Phật, Bồ Tát nước tôi, ý muốn được thấy vô lượng Phật độ trang nghiêm thanh tịnh trong khắp mười phương, liền được như nguyện, ở nơi cây báu đều soi thấy rõ, như gương trong sáng soi rõ khuôn mặt. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Tất cả các cõi Phật trong mười phương vô biên thế giới đều thanh tịnh, trong suốt. Nếu có những vị Bồ Tát nơi cõi Tây Phương Cực Lạc muốn trông thấy những Phật độ thanh tịnh ấy thì chỉ cầu nơi cây báu tại cảnh giới Tây Phương có thể soi thấy rõ những vị Phật quốc độ kia, giống như gương sáng soi rõ gương mặt của mỗi người vậy. Đây chính là do từ lực của Đức Phật A Di Đà mà thành tựu vậy.

Nguyện thứ bốn mươi mốt- Giả sử khi thành Phật, các chúng Bồ Tát ở quốc độ khác nghe danh hiệu tôi, mãi đến thành Phật mà các giác quan còn bị hư khuyết hoặc bị lùn xấu, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Từ địa vị phàm phu chứng thành Bồ Tát phải trải qua vô lượng A Tăng kỳ kiếp mới thành tựu. Từ Bồ Tát đến quả vị Phật phải trải qua ba A Tăng kỳ kiếp nữa mới đạt thành ngôi vị chánh đẳng chánh giác. Nếu trong khoảng thời gian ấy có các vị Bồ Tát ở những quốc độ khác nghe được danh hiệu của Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc mà các giác quan bị hư khuyết hoặc lùn xấu là điều không thể có. Vì lẽ với oai lực của câu Phật hiệu và tha lực của Đức Phật A Di Đà sẽ làm cho các vị Bồ Tát ở những cõi nước kia nghe rõ ràng danh hiệu và tướng hảo trang nghiêm để xứng danh là Bồ Tát.

Nguyện thứ bốn mươi hai- Giả sử khi thành Phật, các chúng Bồ Tát ở quốc độ khác nghe danh hiệu tôi, thì tất cả đều được sự thanh tịnh và chứng các môn Tam Muội giải thoát. Trụ Tam Muội đó trong khoảng móng niệm, có thể cúng dường vô lượng bất khả tư nghì các Đức Thế Tôn mà vẫn không mất các định ý. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Danh hiệu A Di Đà Phật là một danh hiệu bất khả tư nghì; khiến cho ai nghe qua cũng đều được thanh tịnh, giải thoát và chứng tất cả những môn Tam Muội. Như vậy tự danh hiệu ấy đã có một năng lực khó nghĩ bàn như thế, đều là nhờ vào nguyện lực và tha lực của Đức Phật A Di Đà đã phát ra lời thệ nguyện, khi Ngài còn là một Pháp Tạng Tỳ Kheo trước khi thành Phật.

Ở nơi Tam Muội ấy trong khoảng một sát na mà có thể dùng thần lực để đi cúng dường vô lượng vô biên các Đức Thế Tôn ở những cõi Phật ấy mà tâm định tĩnh vẫn không xao lãng, phân biệt. Quả thật danh hiệu nầy có một năng lực khó thể nói hết được.

Nguyện thứ bốn mươi ba- Giả sử khi thành Phật, các chúng Bồ Tát ở các quốc độ khác nghe danh hiệu tôi, khi thọ mạng dứt, được sanh vào nhà tôn quý oai đức. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Đây là những vị Bồ Tát muốn trở lại chốn phàm tình để độ sanh. Nhờ nghe danh hiệu của Đức Phật A Di Đà khi phát nguyện gá thai sẽ được sanh vào nơi quyền quý, oai đức; chứ không phải là chốn bình thường, để dễ độ sanh đối với các chúng sanh trong đời ác năm trược nầy.

Nguyện thứ bốn mươi bốn- Giả sử khi thành Phật, các chúng Bồ Tát ở quốc độ khác nghe danh hiệu tôi, vui mừng khấp khởi tu hạnh Bồ Tát, thì cội công đức đều được tròn đủ. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Bồ Tát thực hành lục độ vạn hạnh như: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Tất cả đều phải Ba La Mật, rốt ráo, qua bên kia bờ giải thoát. Khi những Bồ Tát nầy thực hành Ba La Mật như vậy mà nghe đến danh hiệu của Đức Phật A Di Đà vui mừng khấp khởi, thì chính công đức nghe danh hiệu ấy sẽ làm cho các vị Bồ Tát được tròn đủ những hạnh nguyện lợi tha qua sự trợ lực của Đức Phật A Di Đà.

Nguyện thứ bốn mươi lăm- Giả sử khi thành Phật, các chúng Bồ Tát ở quốc độ khác nghe danh hiệu tôi, thì tất cả đều được môn Tam Muội Phổ Đẳng, trụ tam muội đó cho đến thành Phật, thường thấy vô lượng bất khả tư nghì tất cả các Phật. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Phổ Đẳng Tam Muội là Tam Muội mà trong đó hành giả đồng thời được thấy tất cả chư Phật. Đây là nhờ công đức nghe danh hiệu của Đức Phật A Di Đà. Khi ở trong tam muội ấy thường được gặp tất cả chư Phật trong mười phương vô biên quốc độ.

Nguyện thứ bốn mươi sáu- Giả sử khi thành Phật, các vị Bồ Tát trong cõi nước tôi, tùy nguyện mỗi người, muốn nghe pháp gì, tự nhiên được nghe pháp ấy. Nếu chẳng như thế, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Những vị Bồ Tát được sanh về nơi thế giới Tây Phương Cực Lạc được gặp Đức Phật A Di Đà, Quan Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát, được gần Phật nghe pháp; nhưng cũng tùy theo hạnh nguyện của mỗi vị. Nếu muốn nghe pháp gì khác nữa thì các pháp ấy tự nhiên ứng hiện. Đây cũng chính do tha lực của Đức Phật A Di Đà tạo nên và đây chính là bổn nguyện lực của Đức Phật A Di Đà vậy.

Nguyện thứ bốn mươi bảy- Giả sử khi thành Phật, các chúng Bồ Tát ở quốc độ khác nghe danh hiệu tôi, ngay đó nếu chẳng đến bậc bất thoái, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

Quả thật danh hiệu của Đức Phật A Di Đà có một năng lực vô lượng vô biên. Từ cõi người cho đến cõi trời hay những cõi Phật khác, nếu có chúng sanh nào hay các vị Bồ Tát nào có nhân duyên nghe đến danh hiệu của Ngài thì kết quả thật bất khả tư nghì, ngay cả việc chứng ngôi bất thối chuyển nữa.

Nguyện thứ bốn mươi tám- Giả sử khi thành Phật, các chúng Bồ Tát ở quốc độ khác nghe danh hiệu tôi, nếu như chẳng được đệ nhất, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn. Đối với pháp môn của các Đức Phật, ngay đó chẳng thể được bất thoái chuyển, tôi không giữ ngôi chánh đẳng chánh giác.

An trụ trong thực tướng của các pháp gọi là Nhẫn. Hàng Bồ Tát Đại Thừa ở giai vị Kiến Đạo của Sơ Địa, tin chịu lý vô sinh, thì gọi là Vô sinh Pháp nhẫn. Pháp nhẫn là đối với những phương pháp nghĩa sâu xa, mầu nhiệm được nói trong các kinh, chẳng những không sợ hãi mà còn siêng năng học tập, đọc tụng nữa. Khi những Bồ Tát ở các quốc độ khác nghe được danh hiệu của Đức Phật A Di Đà liền sinh tín tâm tu học, hành trì để chứng được thực tướng của vạn pháp.

Tất cả 48 lời nguyện bên trên là 48 hạnh nguyện của một vị Bồ Tát trước khi thành Phật. Nếu quốc độ của Ngài không được như vậy thì Ngài sẽ chẳng thành Phật. Nay thì cõi Phật ấy đã thành trong vô lượng kiếp và đã có rất nhiều chúng sanh được sanh về đó do công đức niệm danh hiệu Ngài. Từ những chúng sanh ở cõi Ta Bà hay những vị Bồ Tát ở những cõi Phật khác, ai nghe đến danh hiệu của Ngài mà phát tâm trì tụng chí thành và nguyện sanh về thế giới ấy để thoát ly sinh tử luân hồi thì tất cả do năng lực của Ngài cũng như nhờ bổn nguyện lực của Ngài có thể hướng người ấy về cảnh giải thoát không có một điều kiện nào đi kèm theo. Nghe danh, trì danh, niệm danh, quán tưởng danh, thực hành danh v.v… tất cả đều nằm trong 4 chữ : A Di Đà Phật. Do vậy A Di Đà Phật có một năng lực vô cùng tận, không một vị Phật nào trong 3 đời và nhiều cõi khác có thể sánh bằng. Cho nên khi tán thán, chiêm ngưỡng Ngài, có bài kệ rằng:

Chúng đức trang nghiêm phi số lượng

Quang minh biến chiếu quá thập phương

Tam thế Như Lai vô dữ đẳng

Hàng thí chúng sanh đại từ hàng.

Nghĩa:

Đức tướng trang nghiệm không kể xiết

Ánh sáng chiếu soi quá mười phương

Ba đời chư Phật chẳng sánh bằng

Hay cho chúng sanh thuyền từ lớn.

Thân tướng của Đức Phật A Di Đà quá trang nghiêm vi diệu; chung quanh Ngài ánh sáng phát ra chiếu tỏa khắp mười phương vô biên thế giới. Ánh sáng nầy không bị ngăn ngại, trên chiếu sáng đến cõi Trời Hữu Đảnh, dưới chiếu sáng đến địa ngục A Tỳ; nhưng chỉ với những kẻ có nhân duyên, tin ưa câu Phật hiệu thì ánh sáng ấy mới lân mẫn gần kề để tiếp dẫn về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Còn nếu chúng sanh nào còn kém phước đức và không tin ưa nơi câu Phật hiệu A Di Đà thì sự vãng sanh ấy vẫn còn xa.

Ánh sáng ấy ba đời chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai chưa có vị nào sánh kịp; cho nên gọi là: A Di Đà bậc nhất. Ngài với lòng từ bi to lớn, rộng khắp đã phát ra 48 lời nguyện, nhằm cứu vớt chúng sanh về tận nơi thế giới của Ngài để tiếp tục tu hành và một ngày nào đó có thể chứng được quả vị Phật rồi trở lại Ta Bà để hóa độ chúng sanh; hoặc ở lại cõi Cực Lạc để gần gũi Đức Phật A Di Đà và các vị Thánh Chúng để nghe pháp và hóa độ chúng sanh tại đó.

Đây là một thượng thiện duyên, không phải ai nghe rồi cũng có thể tin liền và sau đó thực hành việc niệm Phật một cách miên mật được. Tất cả đều do nhân duyên mà thành tựu. Cho nên có người tu theo pháp nầy mà cũng có lắm người tu theo pháp môn khác là vậy.

Như vậy tư tưởng của Kinh Vô Lượng Thọ phần quyển thượng là giới thiệu 48 lời nguyện của Pháp Tạng Tỳ Kheo và theo những lời nguyện ấy, quốc độ của Ngài mới được trang nghiêm thanh tịnh như vậy. Điều quan trọng là tin ưa và nhớ nghĩ cũng như trì niệm danh hiệu của Ngài một cách chân thực thì mới được thành tựu những sở nguyện và sau khi mạng chung sẽ được thác sanh về Thế Giới Cực Lạc kia.


Kế tiếp là phần nội dung tư tưởng của

Kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ.

Quyển hạ diễn tả về việc những chúng sanh được sanh về nơi hoa sen chín phẩm và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng nói cho Ngài A Nan cũng như Ngài Di Lặc nghe về những tội báo của những chúng sanh trong đời ác năm trược nầy. Hoa sen ở thế giới Ta Bà nầy nhỏ thó và chỉ có vài ba màu; nhưng hoa sen ở thế giới Cực Lạc to lớn và có nhiều màu sắc khác nhau. Ví dụ như hoa sen xanh phát ra ánh sáng xanh, hoa sen vàng phát ra ánh sáng vàng, hoa sen đỏ phát ra ánh sáng đỏ v.v…

Hoa sen ở cõi tục nầy mọc ra từ bùn nhơ nước đọng; nhưng hoa ấy có được những đặc tính như sau:

Đặc tính thứ nhứt - gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, Hoa sen xuất thân từ chốn bùn dơ nước đọng; nhưng khi hoa đã vươn lên khỏi mặt nước rồi thì hoa ấy tỏa ra hương thơm thanh thoát nhẹ nhàng. Điều nầy cũng giống như con người đang sống trong cuộc đời ngũ trược ác thế, tội lỗi dẫy đầy; nhưng nếu biết hướng thượng và tự chủ thì cũng có thể vượt qua mọi khổ đau trần lụy để trở thành một bậc quân tử chánh nhân; hoặc giả một người Phật Tử biết tỏ ngộ chân lý.

Đặc tính thứ hai – Nhân quả dị thời. Nghĩa là không có một loài hoa nào khi ra hoa mà hoa ấy không từ lá, cành đâm chồi để trở thành nụ cả. Chỉ riêng hoa sen, hoa ấy mọc thẳng từ gốc sen, không trực tiếp từ cành sen, giữa lá và hoa riêng biệt. Điều nầy tượng trưng cho nhân và quả khác nhau, không cùng lúc.

Đặc tính thứ ba – Nhân quả đồng thời. Không một loài hoa nào vừa ra hoa vừa ra quả; chỉ có hoa sen. Trong khi sen trổ bông, gương sen đã phơi bày đài sen và hạt sen. Đây là đặc tính đặc biệt chỉ có hoa sen mới có.

Đặc tính thứ tư – Là loài hoa tinh khiết. Loài hoa nầy chỉ để cúng Phật; ngoài ra không dùng làm những việc tầm thường; tuy rằng hoa ấy từ bùn nhơ nước đọng phát sinh ra.

Đặc tính thứ năm cũng là đặc tính cuối cùng – Hoa sen không là loài hoa ong bướm. Ong và bướm hay tìm cách hút mật các nhụy hoa khác; nhưng đặc biệt ở hoa sen, không là nơi lả lơi để cho ong bướm dễ dàng đến hút mật nơi nhụy hoa.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo với Ngài A Nan rằng: Những chúng sanh nào nghe danh hiệu của Đức Phật A Di Đà mà vui mừng tin tưởng, dầu cho là một niệm dốc lòng hồi hướng, nguyện sanh về nước ấy, tức được vãng sanh và ở vào bậc không còn thoái chuyển, trừ những người nào tạo tội ngũ nghịch và bác bỏ chánh pháp.

Đức Phật bảo rằng có ba hạng để các chúng sanh được sanh về đó.

- Hạng sanh ở bực Thượng.

“Gồm những người xuất gia dứt hẳn ái dục, làm hạnh Sa Môn, phát tâm Bồ Đề, một mực chuyên niệm Phật Vô Lượng Thọ, kiêm tu các hạnh, nguyện sanh lạc quốc, thì những người nầy lúc sắp lâm chung, Phật Vô Lượng Thọ và các Thánh Chúng hiện ra trước người ấy; ngay đó hành giả theo sau Đức Phật sanh về nước ấy. Từ hoa sen bảy báu tự nhiên hóa sanh, ở vào bậc không thoái chuyển, trí huệ dõng mãnh, thần thông tự tại. Thế nên A Nan! Ngay trong đời nầy, người nào muốn thấy Phật Vô Lượng Thọ, hãy nên phát tâm vô thượng Bồ Đề, tu các công đức và nguyện sanh về cõi nước An Lạc”.

Những chúng sanh được sanh ở bậc Thượng nầy là những người có căn tánh Đại Thừa, tin sâu nhân quả tội phước, giữ giới luật tinh nghiêm, kể cả tu sĩ lẫn cư sĩ. Khi những người nầy sắp lâm chung thì lập tức được Đức Phật A Di Đà và các vị Thánh Chúng đến đón về Tây Phương Cực Lạc và hóa sanh từ hoa sen báu. Bậc nầy dành riêng cho những người thượng căn, thượng trí. Nghĩa là sau khi nghe giáo lý của Đức Phật rồi liền thực hành và hiểu biết một cách rõ ràng, chính xác; nên đã ngộ rõ đường mê và tu tạo những phước đức để hồi hướng về cõi Tịnh Độ với một niệm nhất tâm, không có gì để hoài nghi nữa.

- Hạng sanh bực Trung:

“Các chúng trời, người trong các thế giới ở khắp mười phương, những ai hết lòng nguyện sanh về nước ấy, mặc dầu chẳng thể làm hạnh Sa Môn, tu công đức lớn; nhưng nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, một mực chuyên niệm Phật Vô Lượng Thọ, theo khả năng mình làm các việc phước đức từ thiện, vâng giữ trai giới, xây tháp cất chùa, in kinh, tạo tượng, cúng dường Sa Môn, treo phan thắp đèn, dâng hoa, đốt hương cúng dường Tam Bảo, dùng những phước ấy hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh lạc quốc. Đến lúc lâm chung, người ấy sẽ thấy hóa thân của Phật, tướng tốt sáng ngời, không khác chơn thân Phật Vô Lượng Thọ và thấy Thánh Chúng hiện ra trước mắt, liền đó hành giả theo sau hóa Phật vãng sanh Cực Lạc Quốc, ở bậc bất thối, sau đó công đức, trí tuệ người ấy sẽ như bực Thượng”.

Bực trung nầy dùng cho những kẻ trung căn trung trí. Nghĩa là nghe giáo pháp của Phật thuyết rồi thì hiểu; nhưng phải qua nhiều lần mới rõ nghĩa và không chứng nhập liền ở phẩm vị cao. Ở đây ám chỉ cho những người có căn tánh Tiểu Thừa. Tuy có giữ gìn giới luật; nhưng trọng việc tu tạo phước đức. Do vậy khi lâm chung chỉ có hóa thân của Đức Phật A Di Đà đến nghinh tiếp cùng với các vị Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí, đưa về cảnh giới Cực Lạc, ở ngôi bất thối và từ đó tu tiếp để được lên bực Thượng.

Những ai lạy Phật một lạy, cúng Phật một cành hoa, đốt hương đèn để dâng lên cúng Phật; hay nhẫn đến mang tiền tài, của cải đem dâng hiến vào chùa để làm những việc phước đức như in ấn kinh sách, xây chùa, đúc tượng hay nhẫn đến làm những việc như xây dựng cầu cống, đường sá, làm những việc từ thiện, cứu người v.v… tất cả đều giống như những giọt nước mưa rơi xuống từ hư không, rồi chảy ra ao hồ. Những giọt nước ấy tiếp tục chảy ra sông, rạch, suối v.v… rồi từ đó tiếp tục chảy vào biển cả. Chỉ khi nào biển cả mênh mông vô tận kia không còn nước nữa thì giọt nước ban đầu kia mới không có ý nghĩa. Công đức cũng như vậy. Tất cả những gì chúng ta đã hành trì, gìn giữ, tu tạo v.v… không bao giờ mất. Chính ở ngôi bất thối ấy vẫn luôn chứa đựng những phước đức mà chúng sanh đã tu tạo trong bao đời nay và bây giờ mới được tích tụ lại như vậy.

- Hạng sanh bực Hạ:

“Các chúng trời người ở trong những thế giới ở khắp mười phương, những ai thành khẩn muốn sanh về nước ấy, giả như chẳng thể làm nổi những việc công đức phước thiện, hãy nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, thường bữa chuyên ý niệm danh Phật Vô Lượng Thọ cho đến mười niệm, mong được sanh về cõi nước của Ngài. Nếu được nghe những giáo pháp sâu xa, nên mừng tin theo, chẳng sanh nghi ngờ, thì dầu một niệm, niệm danh Phật ấy, nhờ lòng chí thành, muốn sanh lạc quốc, đến lúc lâm chung, người đó mộng thấy Đức Phật cũng được vãng sanh; công đức trí tuệ người nầy kế đó như người bậc Trung”.

Những ai sanh về bậc Hạ nầy đều thuộc về những kẻ hạ căn hạ trí. Nghĩa là có nghe giáo pháp của Phật đó; nhưng nghe rồi không hiểu và nếu có hiểu cũng hiểu sai. Nếu có những thiện hữu tri thức cận kề nhắc bảo cho và nhớ lại lỗi lầm, tin theo chánh pháp, thì Đức Phật sẽ hiện ra trong giấc mộng của người ấy trước khi lâm chung và đưa thần thức của ngườI ấy về cảnh giới Tây Phương Cực Lạc.

Những chúng sanh nầy có thể gọi là những người xuất gia hoặc cư sĩ không thực hành đứng đắn giới luật và làm phước đức không nhiều; nhưng nếu có tâm nhớ nghĩ đến danh hiệu của Đức Phật A Di Đà, một lòng niệm Phật, cầu vãng sanh về Tây Phương và có tâm hối cải, xấu hổ những việc làm xưa; đồng thời những thiện hữu tri thức ở gần đó nhắc nhở niệm Phật và người ấy niệm theo. Nhờ vậy mà được mộng thấy Phật A Di Đà trước khi lâm chung và sau đó được vãng sanh. Từ cõi Hạ nầy dần dần tu hành tinh tấn trong nhiều tiểu kiếp để được sanh lên phẩm vị cao hơn ở bậc Trung cũng như bậc Thượng.

Những chúng sanh nào được sanh về cảnh giới Tây Phương Cực Lạc rồi đều không bị lưu chuyển trong vòng sanh tử luân hồi nữa và được phước báu ở gần Đức Phật A Di Đà cũng như các vị Thánh Chúng ở cõi đó để nghe pháp. Ở cõi nầy như trong kinh A Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ diễn tả từ con người cho đến cảnh vật, thực vật v.v… không có loại nào là không trân quý, đặc biệt. Nếu nói trong muôn ngàn kiếp cũng không thể kể hết được năng lực tự tại của Đức Phật A Di Đà và do thần lực ấy biến hóa ra, tạo nên những công đức như thế để trang nghiêm thế giới Tây Phương Cực Lạc.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tiếp đến nói cho Ngài A Nan và Ngài Di Lặc nghe về những việc ở cõi Ta Bà nầy mà con người thường hay gặp phải như:

“Người đời quen thói tục nông nỗi, chỉ cùng tranh chấp những việc không đâu. Sống giữa cảnh ác, sự khổ kịch liệt, con người lại siêng đem thân lo liệu để tự chu cấp. Không luận kẻ trên, người dưới, kẻ nghèo người giàu, từ nhỏ đến lớn, từ gái đến trai, cùng nhau chỉ biết lo kiếm tiền của. Dầu có hay không, cũng đồng một niềm ưu tư sầu khổ, chất chứa lo nghĩ mãi miết lâu ngày, bị tâm sai sử không lúc nào yên. Có ruộng lo ruộng, có nhà lo nhà, trâu ngựa gia súc, của tiền tôi tớ, y phục, uống ăn, vật nầy món nọ… lại cũng cùng nhau khổ tâm lo lắng, tư lự chất chồng, nghĩ ngợi bông lung, sầu ưu sợ sệt… (Kinh Vô Lượng Thọ, quyển hạ, trang 96-97).

Mặc dầu Đức Phật nói không sai một điều nào, không dư không thiếu một việc gì. Nhưng chúng sanh ở đời ác năm trược nầy đa phần chỉ biết sợ quả chứ không biết lo cho nhân nên mới ra nông nỗi ấy. Còn Bồ Tát thì ngược lại, nhân nào cũng phải lo tính toán trước khi thực hiện. Nếu thấy rằng quả sẽ không thánh thiện thì Bồ Tát dừng lại từ cái nhân lúc ban đầu. Trong khi đó chúng sanh vì ngu si, mộng tưởng, điên đảo… nên cứ mãi bị trôi lăn trong sanh tử luân hồi. Cứ thế chết đi, sống lại nhiều kiếp để gây ân và trả oán với nhau. Nếu không nhờ lòng từ của chư Phật như Đức Giáo Chủ cõi Ta Bà nầy hay Đức Giáo Chủ cõi Tây Phương Cực Lạc, mà các Ngài đã dùng tự lực và tha lực để cứu độ cho; nhưng nhiều chúng sanh vẫn còn cang cường chưa chịu tin sâu nguyện thiết để sanh về thế giới Cực Lạc ấy.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng tiếp về năm mối đại ác như sau:

“Thế nào gọi là năm mối đại ác, năm nỗi đớn đau, năm sự thiêu đốt? Và sao gọi là tiêu hóa năm ác, gìn giữ năm lành, được sanh phước đức, qua khỏi dòng đời và vào Niết Bàn trường thọ vĩnh viễn.

Mối ác thứ nhất: Loài trời, loài người cho đến các giống côn trùng bé nhỏ, không một loài nào chẳng tạo ra ác nghiệp. Lớn lấn cướp nhỏ, mạnh đè bẹp yếu, cùng nhau sanh giặc, tàn hại giết chóc, ăn nuốt lẫn nhau, không đạo không đức, chẳng biết tu thiện, về sau chịu các tai ương hình phạt, thần minh ghi chép không sót mảy may, chẳng hề ân xá kẻ phạm tội ác, do đó mà có đủ các hạng người: Nghèo nàn, hèn hạ, ăn xin, ăn mày, cô đơn côi cút, mù, điếc, câm, ngọng, ngu si, tệ ác, cho đến những người khập khễnh què quặt. Còn người sang giàu, tài cao học sáng, là do đời trước nhơn từ, trung hiếu, chứa đức làm lành, nên được như vậy…”

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi giới thiệu 48 lời Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà rồi, Ngài lại nói về các bậc tu chứng và ở quyển hạ của kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật không ngần ngại chỉ rõ cho chúng sanh thấy vì sao ở cõi Ta Bà nầy lại lắm điều bất tịnh như vậy ? Thật là tương phản với thế giới Tây Phương Cực Lạc. Tư tưởng nầy chẳng phải là tư tưởng yếm thế, nông nổi hay hù dọa chúng sanh. Đây là nhân, đây là quả, đây là duyên khởi, đây là sự biến đổi của vô thường sanh diệt v.v… Tất cả những điều nầy khi còn sống thì các vị thần minh ghi chép rõ ràng, khi chết thì nghiệp cảnh đài tiền sẽ hiện ra trước mắt như ban ngày để con người theo đó chọn nghiệp đi đầu thai.

Nghiệp cảnh đài tiền ấy giống như chiếc máy điện tử ngày hôm nay; hình ảnh, âm thanh thâu vào và phát ra nhờ dòng điện cũng như sự tạo tác bấm nút của con người. Dầu cho các dữ kiện có bị xóa đi; nhưng vết tích vẫn còn đó. Trừ phi cá nhân ấy biết hối lỗi và phải tin tưởng nơi lời thệ nguyện của Đức Phật A Di Đà thì mới được về nơi cảnh giới An Dưỡng, không còn bị luân hồi khổ đau chi phối nữa.

Mối ác thứ hai: Người trên thế gian, giữa đạo cha con, anh em, vợ chồng, phần nhiều chẳng có ân tình, nhân nghĩa, trái với lễ nghi. Hầu hết chỉ quen xa hoa dâm dục, kiêu mạn dọc ngang, mặc tình phóng túng lừa dối lẫn nhau, tâm miệng trái ngược. Lời nói, ý nghĩ đều sai tình thực. Hoặc siểm nịnh bất trung, hoặc a dua hồ mị, ganh ghét người hiền, chê bai điều thiện, hãm hại người lành một cách oan uổng. Làm Vua làm Chúa thì chẳng công minh, xử dụng tôi gian để họ làm quấy, hạng tôi bất chánh cơ mưu xảo ngụy. Lợi dụng thế lực, chà đạp người tài. Làm vua không chánh bị dân khi dễ, bỏ rơi người hiền chẳng xứng nhân tâm. Tôi khi dễ vua, con lừa dối cha, anh em, vợ chồng, bạn bè quen biết khi dối lẫn nhau, người người ôm lòng ham muốn dục lạc, giận giỗi, si mê, muốn mình nồng hậu, muốn có thật nhiều, kẻ trên người dưới tâm ai cũng vậy, đến đỗi tan nhà mất mạng cũng chẳng ngó trước nhìn sau, lụy đến bà con, bỗng dưng mà bị diệt cả họ hàng…

Người xưa dạy rằng:

Ân tình tợ điểu đồng lâm túc

Đại hạn lai thời các tự phi.

Nghĩa:

Ân tình, như chim chung một rừng

Hạng lớn đến rồi, mỗi tự bay.

Tình đời cũng giống như thế thôi! Tuy rằng nói chồng vợ, cha con, anh em hiếu nghĩa v.v… nhưng mỗi người đều xây dựng riêng cho tự ngã của mình. Nếu tự ngã ấy không được củng cố, vuốt ve, che đậy … thì mọi tình cảm xưa nay xem như bị tan vỡ. Điều chính yếu để thỏa mãn lòng ham muốn sắc dục, danh vọng, địa vị mà thôi. Ngay như cả làm vua được rồi cũng chưa cho là đủ; còn phải thâu tóm quyền hành, xử dụng tôi gian, làm hại cả quê hương, họ hàng, đất nước, nào có nương tay.

Đức Phật đã nói ra việc nầy cách nay (2011) đã hơn 2.500 năm lịch sử rồi; nhưng mới đây vào tháng 10 năm 2011 nầy lịch sử cũng đã lặp lại giống như những gì đã nói tự ngàn xưa, không sai một mảy may nào. Nguyên là ông Gaddhafi thủ lãnh của xứ Libya thuộc miền Bắc Phi Châu. Từ lúc 27 tuổi đã bước lên địa vị vinh quang, nắm quyền sinh sát cả nước dưới tay mình qua 42 năm cai trị; nhưng cũng không chịu nhường quyền cai trị đất nước cho người khác. Nên những tiếng nói tự do dân chủ bắt đầu phản kháng mạnh và đòi hỏi ông phải tỵ nạn lưu vong để cứu dân tộc mình; nhưng ông một mực vẫn từ chối, cả cha con dòng họ đều muốn tử thủ nơi quê hương mình và kết quả là ông đã bị lực lượng kháng cự giết chết cả hai cha con vào hạ tuần tháng 10 năm 2011 vừa qua. Đây là một bài học lịch sử cho những ai muốn học những điều tốt và tránh những điều xấu. Trước khi bị lôi ra từ ống cống (tương phản lại với ngai vàng nơi ông đã cầm quyền sinh sát suốt 42 năm qua); ông ta đã van nài người lính là “đừng giết tôi và tôi có rất nhiều tiền”. Đến giờ phút cuối đời mới van xin thì quá trễ. Vì quyền lực và tiền bạc đâu có đổi được mạng sống của mình. Phải chi trước đây chừng vài năm ông tha tội cho những người bị ông hãm hại, thì cái quả ngày nay ông ta đâu có bị hưởng như vậy. Có lẽ ông ta nghĩ rằng: quyền lực sẽ suốt đời ở bên ông và ông tin rằng: Cha truyền con nối, nên mới không buông bỏ những quyền thế như vậy. Nào ngờ đâu danh vọng, tiền tài, địa vị… bỗng chốc cũng tan ra mây khói.

Nghe đâu ông còn để tiền trong các ngân hàng ở ngoại quốc đến 200 tỷ đô la. Nếu tiền ấy đem chia cho dân nghèo thì dân thương ông biết mấy. Bây giờ tiền ấy của thiên trả địa mà thôi. Do vậy tiền bạc cũng chẳng mua được mạng sống của con người. Ngày nay chế độ dân chủ đã ngự trị hầu hết quả địa cầu nầy rồi. Cho nên những người lãnh đạo một quốc gia nên ý thức việc lâm nguy của sơn hà xã tắc quan trọng hơn là bản thân và địa vị của mình mới được. Ngày xưa các chế độ quân chủ thường hay chủ trương: Dân Vi Quý, Xã Tắc Thứ Chi, Quân Vi Khinh. Nghĩa là: Dân là quý, đất nước hàng thứ hai, Vua là nhẹ. Thế mà ngày nay ai lên làm vua được rồi đều cai trị ngược lại. Do vậy mà lòng dân oán than cũng phải.

Đức Phật dạy tiếp:

Mối đại ác thứ ba: Người trên thế gian cùng nhau sống gởi; trong vòng trời đất mênh mông vô tận, mạng sống con người thật là ngắn ngủi. Trên từ những người hiền tài thông minh, những người lớn tuổi, quý phái khá giàu; dưới đến những kẻ nghèo nàn hèn hạ, hoặc là những kẻ bại liệt ngu ngơ, giữa nữa là những người tạo những nghiệp dữ, hầu hết ôm ấp những điều xằng bậy, nhớ tưởng dâm dật, phiền não ngập lòng, giao hợp ân ái, đứng ngồi chẳng yên. Ý tham tiếc giữ, chỉ muốn vớ được, liếc ngó sắc đẹp theo thói tà ngoại, chán ghét vợ nhà đi lại tư thông, hao tốn gia tài, làm điều trái phép…

Tổ Quy Sơn trong văn Cảnh Sách đã cảnh báo về sự vô thường về mạng sống của con người rằng:

“Ngạn thọ tỉnh đằng, khởi năng trường cửu”. Nghĩa là “cây bên bờ miệng giếng, há có thể lâu dài chăng?”. Quả thật là như vậy. Nếu cây bám rễ bên miệng giếng thì đâu có gì là chắc chắn! Thế nhưng con người vì sống trong cuộc đời ngũ dục về tài, sắc, danh, thực, thùy nầy nên quên đi tất cả những sự khổ đau xảy đến trước mắt rất nhanh.

Sống chỉ ham vui dâm dật, ân ái, giao hợp, chán ghét vợ nhà rồi đi tư thông với những người khác, làm cho gia đình mất hạnh phúc. Thế nhưng con người không biết dừng tại đó, lại còn tạo ra không biết bao nhiêu nỗi oan khiên chồng chất thêm nữa; khiến cho nhiều người bị bức bách khổ não, có trường hợp phải dẫn đến sự tử vong. Nếu con người biết dừng, thì người ấy sẽ là người hạnh phúc muôn đời. Biết dừng lại trước những thử thách là biết mình. Nếu không tự biết mình thì mọi sự thành công cũng chỉ là giả tạm mà thôi. Sự ham muốn về xác thịt, về sắc đẹp nó cũng giống như những cơn ngứa. Càng gãi thì càng ngứa. Nói như Ngài Long Thọ, Tổ Sư của Trung Quán Luận là “ước gì đừng ngứa”. Nhưng quan trọng là hãy đừng gãi. Đừng ngứa là cái nhân, đừng gãi là cái quả. Nhân và quả luôn đi bên nhau như bóng theo hình vậy. Đa phần ai cũng muốn vớ được vợ đẹp, tiền nhiều… nhưng rồi tất cả những loại nầy nó cũng chỉ là những sự vô thường, tạm bợ, chẳng có gì vĩnh cửu trên thế gian nầy cả. Người nào có cả hàng trăm vợ rồi cũng chết một mình. Người nào giàu cả hàng trăm tỷ đô la, khi nhắm mắt xuôi tay nào có ai mang theo được đồng nào! Tất cả chỉ là ảo ảnh của cuộc đời.

Mối ác thứ tư: “Người trên thế gian chẳng nhớ mấy việc ăn hiền ở lành, lại dạy bảo nhau càng gây ác nghiệp. Nói lời hai lưỡi, nói năng nguy hiểm, nói sai sự thật, nói lời thêu dệt, gièm pha tranh đấu, ganh ghét người lành, phá hoại hiền sĩ để rồi đắc ý. Chẳng hiếu với cha mẹ, khinh lờn bậc Thầy dạy, thất tín với bạn bè, không mấy khi thành thật. Cho mình là sang, nghĩ mình là lớn, nói mình có đạo, hành động ngang tàng, cậy thế cậy oai xâm lấn kẻ khác, chẳng hay nghĩ xét, làm ác không thẹn, ỷ mình mạnh khỏe, muốn người cung kính, chẳng sợ đất trời, chẳng sợ thần minh, chẳng khứng làm lành, tự do ngạo nghễ. Tưởng mình sống lâu, không lo không sợ, thường cứ ôm lòng ngã mạn kiêu căng… những ác nghiệp ấy trời thần ghi biết…”.

Việc làm phước, tích tụ đức cho mình và cho đời sau thì ít người làm; nhưng tích chứa tài sản của cải thì nhiều. Tuy vậy chẳng biết làm việc từ thiện. Muốn có nhiều tiền của thì phải tạo ra mưu nầy chước nọ, nói dối, nói gạt và mối lợi muốn thâu vào mình, khiến cho người khác phải khổ đau mà mình đâu ngờ đến. Cứ cho mình là giàu có, ăn trên ngồi trước, nói năng hung hãn, vì nghĩ mình là người có quyền có thế v.v… Rồi nghĩ mình mạnh khỏe suốt đời, sống lâu chẳng sợ… nhưng ngờ đâu cơn vô thường lại ập đến, khiến cho tất cả từ có đã biến thành không và những cái không lại biến thành có. Đó là tiền tài, của cải, gái đẹp, rượu ngon và những tội lỗi tuy chẳng thấy nhưng đã trở thành hiện thực.

Đạo Phật là đạo vô thần, vì không chấp một vị Thần nào tạo ra vũ trụ nầy và có quyền ban ơn giáng họa cho mọi người, nhưng cũng có thể gọi Đạo Phật là Đạo Siêu Thần. Vì Đạo Phật chấp nhận những vị Thần khác hiện hữu trong thế gian nầy, như trong Kinh Pháp Hoa hay nhiều kinh khác Đức Phật đã dạy. Mỗi vị Thần hay các vị Trời có nhiệm vụ ghi lại những phước đức và lỗi lầm của mỗi chúng sanh để theo đó, sau khi mạng chung sẽ trả nghiệp. Vì không có nghiệp nào vay mà chẳng trả. Vì lẽ khi có nhân, ắt phải sanh ra quả, dầu cho quả ấy đến nhanh hay chậm.

Đức Phật dạy tiếp:

Mối ác thứ năm: Người trên thế gian biếng lườì dật dựa, chẳng chịu làm lành, sửa mình tu đức, bỏ bê cửa nhà, vợ con đói rách, khốn khổ quanh năm, cha mẹ răn dạy trở lại giận dữ, trợn mắt trả treo, nói năng bất hòa, chống trái phản nghịch, chẳng khác oan gia, chẳng bằng tuyệt tự. Lấy, cho vô phép, mọi người chán ngán, phụ ơn bội nghĩa, không lòng báo bổ đáp đền. Nghèo nàn túng thiếu phục hồi chẳng được, đua chen giành giựt, phóng túng chơi bời. Tiền gian xoay xở, tiêu pha lãng phí, say đắm rượu thịt, ăn uống vô chừng, luông tuồng phóng đãng, bướng bỉnh ngang ngạnh, chẳng biết phải quấy, chẳng kể tình người, cưỡng bức dục tình, ức hiếp kẻ yếu, thấy người làm lành ganh ghét phá hoại, không lễ không nghĩa, chẳng ngó ngàng ai, tưởng mình hiểu biết, can dạy chẳng nghe. Sáu dòng bà con, kẻ có người không chẳng cần để ý. Chẳng nghĩ công ơn cha mẹ, chẳng còn tình bạn nghĩa Thầy. Tâm thường nghĩ ác, miệng thường nói ác, thân thường làm ác, chưa từng có một điều lành. Chẳng tin Thánh hiền, chẳng tin Phật Pháp, chẳng tin tu hành có thể chứng đạo, chẳng tin chết rồi thần thức tái sanh, chẳng tin làm lành gặp lành, làm dữ gặp dữ. Muốn giết Thánh hiền quấy rối Tăng Chúng, muốn hại cha mẹ, anh em quyến thuộc, đến đỗi bà con ghê tởm oán ghét, mong chết cho khuất…

Khi sinh ra cuộc đời nầy, bất cứ ai trong chúng ta đã chẳng mang theo một điều gì, ngoại trừ nghiệp lực với hai bàn tay trắng. Rồi lớn lên thành danh, thành tài, thành người và đã tạo ra không biết bao nhiêu là khổ nạn như bất hiếu với mẹ cha, không trung thành nghĩa chồng vợ, không tạo chữ tín cho bạn bè, thân hữu, không làm lành lánh dữ, không có tâm thương chúng sanh. Nhưng nếu có, hầu như là có những điều tệ hại. Ví dụ như bất hiếu với cha mẹ, Thầy Tổ, ngỗ nghịch trái ý với anh chị em; tạo ra sự nghi ngờ giữa vợ chồng và người thân, làm cho nghi kỵ chống báng nhau…

Lại còn chẳng tin tội phước nhân quả báo ứng. Chỉ biết đời nầy và không tin sự tái sinh ở đời sau; nên tha hồ dối trá và tạo ra tội ác. Lại tìm cách giết chết những bậc Thánh hiền và Tăng Chúng, những người đã cắt ái ly gia sống đời tỉnh thức. Đôi khi còn muốn giết hại cả cha mẹ, anh em, vợ chồng, bà con quen thuộc nữa… như vậy cái ái của thế gian chỉ là cái ái có điều kiện và cái ái mang đến sự khổ đau. Đức Phật cũng thường dạy rằng: Người lành làm việc lành, đi từ niềm vui nầy đến niềm vui khác; giống như đi từ sáng vào sáng. Còn kẻ dữ làm dữ như từ khổ nầy đến khổ kia, từ bóng tối bước vào bóng tối. Những việc như vậy có ai biết chăng ?

Đức Phật dạy tiếp:

“Thế gian như vậy, thật đáng thương xót! Phật dùng thần lực diệt ác, khuyến thiện, làm cho chúng sanh bỏ lìa nghĩ quấy mà vâng giữ giới, chăm lo hành đạo. Y lời Như Lai chỉ dạy, sau sẽ qua khỏi dòng đời và chứng Niết Bàn. Chư Thiên, nhân dân đời nầy, đời sau được nghe những lời trong kinh Phật nói, hãy nên suy nghĩ và gắng siêng năng, theo lời kinh dạy, chỉnh đốn thân tâm, người trên làm lành, đốc xuất kẻ dưới, răn nhắc lẫn nhau. Mỗi người phải tự giữ vững tâm ý, tôn trọng bực Thánh, quý kính người hiền, từ bi nhân ái, cứu nhơn độ thế. Đối với những điều Như Lai răn nhắc, chớ có xem thường phụ bỏ, hãy cầu thoát khỏi dòng mê, nhổ gốc tội ác của sự sống chết, để ra khỏi cảnh khổ đau vô lượng, và mối lo sợ đọa ba đường ác. Đời nầy các ngươi cần nên gieo trồng rộng rãi cội đức, ban bố ân huệ, giữ gìn cấm giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định sáng suốt, giáo hóa lẫn nhau. Tự mình tu đức và gây thiện nghiệp, giữ tâm giữ ý đúng đắn chân thật. Dầu một ngày đêm ở tại nơi nầy trai giới thanh tịnh, công đức còn hơn ở cõi an lạc làm lành đến một trăm năm. Tại sao vậy? Vì cõi Phật kia vô tri tự nhiên, tất cả đều cùng chứa nhóm thiện nghiệp. Một điều ác nhỏ giống như tơ tóc cũng không hề có. Chơn thật tu mười ngày đêm ở tại cõi nầy, công đức trội hơn ở Phật quốc khác tu thiện ngàn năm! Lý do là vì cõi nước Phật khác đa số làm lành, hiếm có người tạo ác, phước đức chiêu cảm một cách tự nhiên, không có nguyên do để gây ác nghiệp. Chỉ có nơi nầy đầy dẫy điều ác, chẳng được tự nhiên, toàn những gian khổ tìm cầu ham muốn và lừa dối nhau, khiến nỗi con người thân tâm lao nhọc, uống đắng ăn độc, rồi cứ như thế mà chăm làm ác, chưa từng nghỉ ngơi…

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở cõi thế gian nầy, chịu kham nhẫn với chúng sanh tại đây, không biết dường bao khó nhọc. Ngài đã nói ra những điều lành, vạch ra những nẻo ác; mục đích là làm cho chúng sanh bỏ ác làm lành, cải tà quy chánh. Do vậy Phật đã vì chúng sanh mà dùng thần lực để diệt ác, khuyên làm việc lành, giữ giới ăn chay, siêng năng hành đạo; nên mới khuyên nhắc, tu ít nhất một ngày một đêm Bát Quan Trai giới thanh tịnh nơi cõi Ta Bà nầy thì công đức còn nhiều hơn ở cõi Tây Phương Cực Lạc. Vì sao vậy ? Vì ở cõi ấy việc thiện dễ làm và hầu như không có việc ác. Còn ở cõi nầy việc lành khó làm, việc ác lại đầy dẫy; nếu có ai đó phát nguyện tu thanh tịnh một ngày một đêm quả là điều hy hữu. Nếu có người con trai lành, người con gái tốt nào chơn thật tu trong 10 ngày đêm ở cõi nầy thì công đức còn nhiều hơn gấp ngàn lần tại các nước Phật khác. Vì lẽ nhân dân của các cõi Phật khác chỉ thuần làm việc lành, chẳng có ai tạo ra ác nghiệp. Do vậy họ có nhiều phước đức, là chuyện bình thường. Còn ở nơi cõi nầy ai cũng chăm làm ác, quên việc lành mà còn có người thiện lương tu trong 10 ngày đêm như thế, không phải là việc dễ dàng. Do vậy Đức Phật mới tán thán những người tạo ra thiện nghiệp ở ngay tại cõi nầy là vậy.

Sau khi nghe những lời thiện lương và hậu quả của những việc ác như thế, Ngài A Nan có ý mong chờ Đức Phật Vô Lượng Thọ phóng quang soi sáng chúng sanh trong mười phương cõi nước. Đức Phật A Di Đà tùy nguyện của Ngài A Nan, Ngài Di Lặc đã phóng quang. Tất cả Đại chúng đều hoan hỷ. Các vị Trời, các vị Chuyển Luân Thánh Vương đều chứng quả A Na Hàm, các vị Tỳ Kheo hết sạch mê lầm, tâm ý sáng tỏ. Các vị Bồ Tát chứng quả bất thoái…

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn