Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

NĂM: Chứng Nhân của Chặng Đường Lịch Sử Hiện Đại

14/06/201212:06(Xem: 5738)
NĂM: Chứng Nhân của Chặng Đường Lịch Sử Hiện Đại

TUỆ SỸ ĐẠO SƯ

Thơ và Phương Trời Mộng - Tập 2


Tác giả: Nguyên Siêu
Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang
In lần thứ nhất
California - Hoa Kỳ 2006

flowerba

Năm

Chứng Nhân của Chặng Đường Lịch Sử Hiện Đại

Saubiến cố 1975, Viện Cao đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang phải đóng cửa. Ban Giáo sư tự động giải tán. Anh em học Tăng, một số trở về chùa Thầy Tổ ;một số hoàn tục kiếm kế sinh nhai. Một sốkhông chấp nhận chính sách đảng trị của cộng sản Việt Nam nên bất chấp hiểmnguy để rồi bị tù đày và ra đi vĩnh viễn. Một số còn lại tại Viện thì đi lao động sản xuất trong các hợp tác xãcho qua ngày tháng. Đây là một thực trạngmà ai trong chúng ta đã sống trong những tháng năm của thời gian đó đều thấurõ.

Đểhòa mình vào cộng đồng xã hội của một đất nước trong bối cảnh lịch sử đen tối,Thầy cũng không ngoại lệ, cũng phải lên rừng làm rãy, cuốc đất, đào mương để trồngkhoai, tỉa bắp, chăm sóc ruộng vườn cho qua ngày tháng. Nhưng chí nguyện của kẻ sỹ, lý tưởng của ngườixuất gia không cho phép Thầy chôn chân, cày sâu cuốc bẫm nơi rừng sâu, núi thẳmđể ẩn cư mà quên đi hạnh nguyện độ sinh, hay tiếp tay xây dựng để vực dậy mộtquê hương, dân tộc đang bị đọa đày lầm than cơ cực. Vì thế, cho dù ngô khoai đang tươi tốt, bí càđang đơm bông, mạch sống của rẫy vườn đang đâm chồi nảy lộc, cũng không đủ sứcmạnh giữ chân Thầy nơi chốn núi rừng thiên nhiên, u tịch đó. Thầy tiếp tục đi theo chí nguyện bình sinh, mộngkiêu hùng của phương trời viễn mộng. Đểrồi từ đó, tự thân Thầy cũng nổi trôi theo vận nước suốt 30 năm qua.

Chặngđường lịch sử đó đã ghi tên tuổi Thầy đậm nét trên các hệ thống truyền thôngbáo chí, các diễn đàn chính trị quốc tế, Liên Hiệp Quốc, Hội Ân Xá Quốc Tế... rằng, người tù mang bản án tử hình củanhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Bản tinấy đã truyền đi khắp nơi, từ trong nước đến hải ngoại làm mọi người bàng hoàng,sửng sốt. Có lý nào, một thiên tài của đấtnước, một Tăng sĩ uyên thâm Phật pháp nơi chốn thiền môn lại lãnh một bản án tửhình như vậy? Người người như đồng cảm, nhất tâm đứng dậy, đồng loạt đấu tranh đòitự do và lẽ sống cho Thầy. Ngay cả 10ngàn dân vượt biên tị nạn của trại Palawan, Phi Luật Tân, cũng được vận động đứnglên trương biểu ngữ chống án lệnh tử hình của nhà cầm quyền cộng sản ViệtNam. Tất cả các Hội đoàn, Đoàn thể ngườiViệt quốc gia, các Tự viện, các cơ quan bảo vệ nhân quyền, tự do, dân chủ trênkhắp năm châu bốn bể đều lên tiếng can thiệp. Nhà nước cộng sản Việt Nam đã phải lùi bước trước áp lực quốc tế, giảm bảnán tử hình xuống 20 năm tù ở.

Ngàytháng âm thầm lặng lẽ trôi qua, Thầy như người ngồi đếm thời gian, chứng kiếnbao hoang tàn đổ nát đang từng ngày diễn ra trên quê hương. Nỗi oan khiên, nghiệt ngã giáng xuống đầu ngườidân vô tội, từ những em bé thơ ngây trong trắng cho đến những cụ già gầy ốm homhem. Là nạn nhân của chế độ khắc nghiệt,người dân thấp cổ bé miệng đành câm nín mỏi mòn trong tủi nhục.

Ngồibên trong chắn song tù, nhưng Thầy không ngừng theo dõi mọi Phật sự của Giáo Hộivà lo lắng cho tiền đồ đạo pháp ở bên ngoài. Thầy tự đặt mình trong trách nhiệm dấn thân phụng sự đạo pháp; cứu nguyGiáo Hội trong lúc nguy nan, phò trì dân tộc trong thời nhiễu nhương, khốn đốn.

Từtrại giam Xuân Phước, Thầy gởi Tâm thư đến Hòa thượng Thích Huyền Quang, Việntrưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, nêu lên những nhận định và lập trường của Thầytrong hiện tình Giáo Hội đang bị vây khổn. Thầy đề nghị Đại Hội VIII tập trung thảo luận vào hai chủ đề chính:

1. Pháp lý tồn tại của Giáo Hội Phật Giáo ViệtNam Thống Nhất trong truyền thống dân tộc và trong cộng đồng thế giới.

2. Sứ mệnh hiện tại của Phật Giáo Việt Nam trướcsự sinh tồn và tiến bộ của dân tộc và trong nền văn minh dân chủ của nhân loại.

Đâylà hai chủ đề trọng đại liên quan đến vận mệnh của đạo pháp trên quê hương và cộngđồng thế giới. Ưu tư lo lắng cho Giáo HộiPhật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Thầy đã nêu lên 4 điểm để Chư Tăng Ni và các đạibiểu Phật tử cùng gia tâm thảo luận hầu mang lại kết quả tốt đẹp cho Đại Hội:

THƯ CỦA THƯỢNG TỌA THÍCH TUỆSỸ

VIẾT TỪ TRẠI GIAM XUÂN PHƯỚC.

Kínhgởi: Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Viện Trưởng Viện Hóa ĐạoGHPGVNTN

Kínhbạch Hòa Thượng,

Dướisự kiểm soát và can thiệp trực tiếp vào nội bộ Tăng Già, Giáo Hội Phật Giáo ViệtNam đang là công cụ đắc lực cho sách lược thống trị của những người cộng sản ViệtNam. Sách lược đó đã từng được ông NguyễnVăn Linh, nguyên Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam vạch rõ. Phật Giáo Việt Nam là chỗ dựa cho những ngườiCộng Sản Việt Nam làm cách mạng. Và đó cũnglà sách lược mà Lenin đã chỉ thị: Đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp quầnchúng.

Trướctình trạng vong thân đó, chúng con vô cùng hoan hỷ được biết Hòa Thượng thay mặtHội Đồng Lưỡng Viện quyết định triệu tập Đại Hội VIII Giáo Hội Phật Giáo ViệtNam Thống Nhất; kêu gọi toàn thể Tăng già và Phật tử hãy hiến dâng tâm tư vànguyện vọng của mình cho Đại Hội VIII, bằng cách tham luận, khảo cứu, hội thảo,tọa đàm... Đó là những Phật sự cần thiết;là thuận duyên để Phật tử Việt Nam bằng tiếng nói trung thực của chính mình xácđịnh vị trí của Phật Giáo Việt Nam trong lòng dân tộc và Nhân loại.

Chúngcon mặc dù đang sống dưới sự giam cầm khắc nghiệt, nhưng bất chấp mọi nguy hiểmtrực tiếp đe dọa tính mệnh, cố vượt qua mọi chướng ngại, kính trình lên Hòa Thượngvà Chư tôn Trưởng lão Hội Đồng Lưỡng Viện một số đề nghị sau đây, gọi là dâng cảtâm nguyện chí thành cho Đại Hội.

Đềnghị Đại Hội VIII sẽ tập trung thảo luận trên hai chủ đề chính:

1. Pháp lý tồn tại của Giáo Hội Phật Giáo ViệtNam Thống Nhất trong truyền thống dân tộc và trong cộng đồng thế giới.

2. Sứ mệnh hiện tại của Phật Giáo Việt Nam trướcsự sinh tồn và tiến bộ của dân tộc và trong nền văn minh dân chủ của nhân loại.

Đểchuẩn bị đầy đủ cơ sở dữ kiện cho Đại Hội, xin đề nghị 4 điểm mà toàn thể Tănggià và Phật tử có thể tham gia thảo luận trong quá trình chuẩn bị Đại Hội:

1. Việc nhà nước chuẩn y và phong tặng các phẩmhàm Hòa Thượng, Thượng Tọa cho các Tỳ kheo và Tỳ kheo ni là một xúc phạm đối vớiGiáo chế của Đức Phật được truyền thừa trong Luật tạng. Việc làm đó còn bộc lộ ý đồ rằng vị ngọt củaDanh và Lợi biến một số Tỳ kheo và Tỳ kheo ni biến chất phải trung thành với ĐảngCộng Sản Việt Nam hơn là lý tưởng phụng sự Chánh Pháp.

2. Luật điển Ba La Đề Mộc Xoa cấm các Tỳ kheovà Tỳ kheo ni tham gia các cơ cấu quyền lực; nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó là đạibiểu Quốc hội. Các vị ấy như thế đang tựmình làm môi giới nối dài cánh tay quyền lực lung lạc Giáo Hội, khoa trươngchính sách mị dân và củng cố chế độ độc tài đảng trị.

3. Nhà nước Cộng sản bằng cái gọi là Pháp chếXã Hội Chủ Nghĩa đặt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam làm một thành viên của Mặt TrậnTổ Quốc Việt Nam. Như thế, chỉ công nhậnGiáo Hội tồn tại như một hội đoàn thế tục ngang hàng với các hội đoàn khác dướiquyền lãnh đạo của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Về mặt pháp lý, Phật Giáo Việt Nam đang bị đặt trở lại đạo dụ số 10 củachính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Phậttử Việt Nam đã hy sinh thân mình để đốt cháy đạo dụ ấy. Đó là nỗi đau của dân tộc và đạo pháp.

4. Bằng lý tưởng Tịnh độ dân gian, bằng giáo lýPhật tính bình đẳng. Phật tử Việt Nam bằngtinh thần hy sinh vô úy, khẳng định minh bạch sứ mệnh của mình trong thời đại vănminh dân chủ; Giáo Hội phải nêu cao ngọn đuốc từ bi và trí tuệ, lãnh đạo Phật tửtiến tới và xây dựng một xã hội an lạc, bình đẳng và nhân ái.

Cầunguyện Đại Hội thành tựu viên mãn.

Kínhchúc Hòa Thượng và Chư Tôn Trưởng Lão Hội Đồng Lưỡng Viện Pháp thể khinh an,chúng sanh dị độ.

Phậtlịch 2537

Trạitù Xuân Phước ngày 15 tháng Giêng, 1994

TuệSỹ

Kínhbạch

Từ bản án tử hình còn 20 năm tù ở, Thầy đã đồngcam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi cùng với anh em bạn tù của chế độ. Dù thân mình bị giam hãm trong sự tù túng,thiếu ăn, thiếu ngủ nhưng thâm tâm Thầy vẫn lao lung cùng đạo pháp và quê hương.

HònNgọc Viễn Đông Việt Nam, đang lùi dần, tụt hậu, nghèo nàn, đất đai bị cắtbán. Miền Tây là vựa lúa trù phú nuôi sốngcả Miền Nam nước Việt, nhưng nay đã không còn trù phú như xưa. Các tài nguyên thiên nhiên bị hủy hoại vì đóikém, rừng cây gỗ quý bị chặt đốn, xuất cảng bừa bãi, cho những lợi nhuận riêngtư. Vì không còn cây rừng ngăn chận nguồnnước thượng ngàn nên tạo thành những trận lụt hàng năm cuốn trôi nhà cửa, dânlàng, thiệt hại biết bao nhiêu tài sản của người dân vốn đã nghèo khó lại thêmnghèo khó hơn.

Từngàn xưa, tiền nhân đã tốn bao công khó, bao xương máu để mở mang bờ cõi tiến dầnvề phương Nam, để bảo vệ giang sơn gấm vóc, cho đồng lúa thêm xanh tươi, cho quốcgia dân tộc được phú cường thịnh vượng. Quê hương Việt Nam đã nuôi lớn bao anh hùng liệt nữ, mong xây dựng một đấtnước thái hòa ngõ hầu theo kịp đà văn minh phát triển cùng các quốc gia trên giới. Ai ai trong chúng ta cũng mong muốn bảo vệquê hương đất nước của Cha Ông để lại. Thế nhưng, nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa đã không màng đến công sức tiềnnhân, mà cắt đất bán biển cho ngoại nhân.

Sốngtrong một quê hương với bao nỗi thăng trầm, điêu linh, Thầy cũng lênh đênh theovận nước:

“Tiếngtrẻ khóc ngân vang lời vĩnh cửu

Từ nguyên sơ sông máu thắm đồng xanh

Tôilà cỏ trôi theo giòng thiên cổ

Nghelời ru nhớ mãi buổi bình minh.”

(BìnhMinh – Tuệ Sỹ)

Từthuở khai sơn phá thạch, từ thời mở nước hơn 4000 năm trước của dân tộc đếnnay, tất cả hình ảnh ấy vẫn như còn hiển hiện trong tâm tư mỗi người con nướcViệt. Sự kiện lịch sử hôm nay, luôn đánhthức chúng ta nhớ về tinh thần bất khuất quật cường, anh dũng của giốngnòi. Tiếng nấc, uất nghẹn trào tuôn củaai đâu đó thầm tưởng về cái buổi ban sơ. Đó là tình tự được nối kết suốt theo dòng lịch sử mà chưa một thời nào bịlãng quên, lạt phai của tính mệnh và sử mệnh quê hương. Thầy luôn mang tự tình đó, luôn cất cao lờikêu gọi tất cả mọi người dân hãy nhớ đến quê hương, bảo vệ quê hương và cùng sốngchết cho quê hương, mà không quay lưng trốn tránh, chối từ nhiệm vụ:

“Ngườiđi đâu bóng hình mòn mỏi

Nẻotới lui còn dấu nhạt mờ

Đườnglịch sử

Bốnngàn năm dợn sóng

Đểngười đi không hẹn bến bờ.”

(TĩnhThất 24 – Tuệ Sỹ)

Chomột quê hương, là nỗi thao thức miệt mài trong tâm tưởng, trong ký ức muôn đờicủa dân tộc, là giải trừ nỗi khốn cùng của quốc nạn để xây dựng lại thời vàngson của đất nước trong cảnh thanh bình thịnh trị, có được như vậy, quê hươngkhông thể thiếu vắng các vị khai quốc công thần, các vị hứng chịu đầu tên mũi đạn,các vị quên thân mình để hy sinh cho đất nước, đại cuộc:

“Từnhững ngày Thái Bình Dương dậy sóng

Quêhương mình khô quặn máu thù chung

Nàngkhông mơ những chiều phơi áo lục

MơTrường Sơn vời vợi bóng anh hùng.”

(CôGái Trường Sơn – Tuệ Sỹ)

Ấylà cho một quê hương hôm nay.

Còndân tộc thì sao? Có lẽ quá ư là thiếu thốn và hầu như mất tất cả. Mất đi một nền văn hóa dân tộc:

-Phủ nhận giá trị đạo đức, lương tâm giữa người với người. Cấm đoán tình tự viếng thăm giữa Thầy vớitrò, tông môn, làng nước, qua những ngày lễ lộc của dân tộc. Phá hủy và triệt tiêu hầu hết tất cả các chứngtích lịch sử: Đền đài, miếu mạo, đình làng, chùa viện để biến thành các côngtrình có tính cách thời thượng xã hội hiện nay. Thay tên các đường phố mang danh các vị anh hùng liệt nữ của một thời chốnggiặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi. Từ nhữngchủ trương thâm độc của người cộng sản, cố tình tẩy não người dân để không cònnhớ tưởng về quá khứ, không còn lưu lại một hình ảnh kiêu hùng mang nét đặc thùcủa giống nòi Đại Việt.

Ngườicộng sản Việt Nam chủ trương chế độ quản lý hộ khẩu, kinh tế buộc bụng. Đảng san bằng đẳng cấp người dân để chỉ còn:giai cấp lãnh đạo và quần chúng. Giai cấplãnh đạo đảng viên thì giàu có, quan liêu, thụ hưởng vật chất dư thừa, trongkhi đại đa số người dân thì buôn gánh bán bưng, nghèo khó, cơm không đủ ăn, áokhông đủ mặc, bán máu nuôi gia đình, để từ đó sanh ra mọi tệ nạn xã hội: Buônngười ra ngoại quốc, xuất cảng lao động, đủ các loại bệnh tật giết hại đời sốngcon người. Văn hóa suy đồi, vong thân...

Giáodục học đường suy kém, thiếu thực tiễn, dân trí thấp kém không theo kịp đà vănminh tiến bộ của thế giới mà được gọi là nền giáo dục tẩy não, nhồi sọ với khẩuhiệu: “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” để đi theo con người của xã hộichủ nghĩa. Sinh viên tốt nghiệp ra trườngđa phần không có việc làm, nếu không phải là con cháu đảng viên, không có chỗ ứngdụng và từ đó vùi mình trong nếp sống thị thành, với bóng đêm, với những xa hoaphù phiếm bên ngoài.

Nềngiáo dục bao cấp, ưu tiên cho con cháu cán bộ cắp sách đến trường, trong khicon dân thì lang thang đầu đường xó chợ, nhặt lon, ve chai, bao nhựa... sống đời lam lũ; nhưng nào ai có màng đến đờisống của người dân cùng khổ đó. Vừakhông được cắp sách đến trường, vừa không có công ăn việc làm, vừa bị đẩy lùira khỏi thành phố, lang thang bên lề xã hội không chút tình thân. Mọi việc đều do nhà nước cai quản, người dânchỉ còn biết nuốt tủi nhục vào lòng.

Cuộcsống đầy những khó khăn thiếu thốn, có làm nhưng không được hưởng theo công sức,chỉ những người may mắn có gia đình ở hải ngoại thì đời sống tương đối không đếnnỗi thiếu trước hụt sau. Nguồn ngoại tệtừ nước ngoài gửi về giúp thân nhân đã giúp cho nền kinh tế Việt Nam cũng nhưgiúp cho các cấp lãnh đạo của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có đờisống vật chất hoang phí, mặc cho dân khốn khó.

30năm đã qua, đất nước Việt Nam vẫn yếu kém, tụt hậu, các ngành khoa học, kỹ thuật,công nghệ, công nghiệp... ngay cả nghành nông nghiệp cũng không được phát triểnđúng mức mặc dù Việt Nam là nước nông nghiệp, vì thế đại đa số quần chúng vẫn đóinghèo.

30năm sống trên quê hương cùng chia sẻ những nỗi khó khăn với dân tộc, Thầy đã chứngkiến những khuôn mặt tái xanh vì thiếu ăn suy dinh dưỡng của những em bé langthang đầu đường xó chợ. Những khuôn mặtmăng sữa ngơ ngác khi bị bán ra ngoại quốc, bán thân để nuôi sống gia đình. Đó chính là một trong những thảm trạng của xãhội trên chặng đường lịch sử quê hương hôm nay.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn