Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

MỘT: Thơ Người Tù Thế Kỷ

14/06/201212:06(Xem: 7487)
MỘT: Thơ Người Tù Thế Kỷ

TUỆ SỸ ĐẠO SƯ

Thơ và Phương Trời Mộng - Tập 2


Tác giả: Nguyên Siêu
Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang
In lần thứ nhất
California - Hoa Kỳ 2006

flowerba

Một

Thơ Người Tù Thế Kỷ

Nói đến cõithơ như mây trời viễn xứ, giăng giăng, nhè nhẹ, mảnh mai và bềnh bồng, thongdong thư thả, tự tại hồn nhiên như cõi hư không vô cùng. Như tiếng rì rào trùng dương bát ngát, từng đợtsóng nhấp nhô, lấp lánh vô biên đang tấp vào bờ nằm xoải dài thiên thu vô tận. Đại dương của cõi thơ là lâu đài thànhquách, lung linh, huyền ảo của những con sóng nghìn khơi. Là bãi cát vàng như tấm lụa dệt bằng ánh sángcủa mặt trăng, tia nắng của mặt trời, và lốm đốm vô ngần các tinh thể.

Đá với nước, bóng chiều và cuộc chơi làhành trang để đi vào cõi mộng, hay chất liệu để gây dựng cơ đồ cho cuộc lữ. Mộng hay thực chỉ là cách nói của nhà thơ giầungôn ngữ, để pha lẫn, biến thành hình hài đồng tử ước mộng trường sinh:

“Đá mòn phơi nẻo tà dương

Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi”

Đá mòn vì nhiều dấu vết thời gian điqua, nhiều sự ngóng chờ mòn mỏi. Thờigian đó đã làm đá mòn rêu nhạt dưới ánh tà dương, chiều buồn da diết. Một sự thi gan cùng tuế nguyệt, chịu đựng baongày tháng nắng mưa, đá của đất trời gầy dựng vẫn trơ mình kiên cố bất động. Một hình bóng lẻ loi, nhưng chất ngất kiêuhùng, xông pha, vững chãi mặc cho bóng tà dương sắp lặn về Tây. Bỏ mặc cho ai độc hành cô lữ để nằm nghe âmthanh ào ạt của nước đổ về từ rừng sâu núi thẳm.

Trong cuộc tử sinh, Người Tù đi vào cátbụi, làm cuộc lữ phương trời viễn mộng, đọa đày như cánh hải âu nghìn trùng bạtgió, như dấu chân Người trên cát nóng mù khơi, xa xăm mòn mỏi:

“Một ước hẹn đã chôn vùi tang tóc

Cánh chim trời xa mãi giữa lòng sâu....

Khuya còn lạnh sương mù và gió lốc

Thở hơi dài cát bụi cuốn chiêm bao.”

Nhưng dù có chôn vùi một ước nguyện vẫnkhông nhạt nhòa hương xưa cũ. Hương xưacủa màu tóc hung hung, bay vào chiều thu, sương mơ, lá vàng rơi rụng. Hương của bóng xế nhạt nhòa, còn lất phất bờvai, của một thời son trẻ, nhiều mơ ước. Mộng kiêu hùng. Mộng trùng khơixa tít:

“Màu nắng xế, ôi màu hương tóc cũ

Chiều chơ vơ,chiều dạt mấy hồn tôi

Trời viễn mộng, đọa đày đi mấy thuở

Mộng kiêu hùng hay muối mặn giữa trùngkhơi”

Rồi đến một hôm nào đó, mắt Người Tùthâm huyền và trầm sâu vô tận, vì Người Tù bâng khuâng, thao thức, hoài niệm nhớmong những vì sao lạc lối bên kia đỉnh núi, bên kia đồi sao mọc. Bên kia khung trời cũ, khung trời hội ngộ đãmột lần hẹn hò trong chuyến tàu đêm, hay bên ánh lửa bập bùng thâu đêm nhiềutâm sự. Chỉ một đêm thôi không ngủ, mắtNgười Tù sâu hoắm, tóc Người Tù bạc phơ, mặt Người Tù hõm lại, chân thân hiến dâng cho muôn trùng, cho ước hẹn lên đườngphiêu lưu:

“Một đêm thôi, mắt trầm sâu đáy biển

Hai bàn tay khói phủ tóc tơ xa

Miền đất đỏ, trăng đã gầy vĩnh viễn

Từ vu vơ bên giấc ngủ mơ hồ.”

Cũng đôi mắt ấy, lại cưu mang những giấcmộng tàn, những giấc mộng qua đi. NgườiTù mãi chếnh choáng trong trối trăn của tâm thức, trong sự hao gầy của tự thân,mà không thể bay bổng tuyệt vời như cánh chim hồng trên chín tầng xanh. Gối đã mỏi, chân đã mòn, tóc đã bạc khi tuổi đờichưa đến tuổi, nhưng cứ mãi loanh quanh trong bốn bức tường, mà suối nguồn xa xămkia vẫn biền biệt. Suối nguồn đang réogọi, cát bụi đang nằm chờ, rừng sâu đang mong đợi, biển nước mây trời vẫn hiệnhữu thênh thang mà bóng dáng Người Tù vẫn biệt tăm. Người Tù đối diện với chính mình, với bóng đènkhuya trong bóng đêm nhạt nhòa ủ rũ. Tâmsự đầy lại vơi:

“Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vác tường ủ rũ

Suối nguồn ơi ngược nước xuôi ngành”

Rồi một buổi sáng hôm nào, Người Tù đibách bộ trên đồi Trại Thủy, trong dáng dấp khẳng khiu, gió thổi muốn bay, thìra suốt một tuần lễ Người Tù tuyệt thực chỉ uống nước chanh. Người Tù tuyệt thực để phản đối mình, phản đốisự hiểu biết nghịch thường mà người thường không hiểu biết. Tuyệt thực để đóng cửa ở một mình trongphòng, không muốn gặp ai, không muốn tiếp xúc với ai, không muốn nói chuyện vớiai, và cũng chẳng muốn thấy ai cho bận lòng, cho tốn thời gian, cho mất thời giờ,phung phí mất những điều cần nói, những việc cần làm để lưu lại cho đời mộthình ảnh đơn sơ, như đôi tay gầy, vầng trán cao. Như đôi mắt sâu, như mái tóc bạc màu hủy hoạitheo sự đọa đày nhục thể. Người Tù ở tù đểlàm thơ trong tù, để viết bản thảo, để đánh dương cầm, tấu lên khúc nhạc tâm tư,mà thân phận lạc loài như cánh én chiều xuân, như đôi cánh bướm rừng mơ, chậpchùng hoa tàn nhụy rã. Đời người trôiqua như từng tiếng vu vơ, như lá dạt xa bờ, như lòng sông nhuộm nắng, như chiếclá xa mùa, như ngày cũ xa xưa. Hình bóngđó vẫn đứng đếm thời gian, giữa những chiều nắng nhạt, mỗi sáng tinh sương, nhưngtất cả chỉ là phù hư ảo ảnh, là giấc mộng con, mộng lớn, mộng kiếp tử sinh:

“Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng

Người mãi đi như nước chảy xa nguồn

Bờ bến lạ chút tự tình với bóng

Mây lạc loài ôi bến cũ ngàn năm”

Nỗi đời và tình người bẽ bàng như nhau,cùng chung số phận không khác. Người đau,cảnh sầu có lẽ muốn chia xẻ như bãi dâu ngàn suối hoang liêu tiêu sơ dưới mắtai cái nhìn đại cuộc, mà làm cho kẻ lãng du cô thân chích ảnh gối mỏi, gót xiêubên triền núi khi trên vai còn nặng nợ ân tình, còn vấn vương mây chiều lãng đãng,còn ráng hồng bám víu, chiều hôm. Một kiếplữ khách, dừng chân nơi quán trọ, gởi chiếc thân như bóng tàu qua đêm, lầm lũitrong sương mù, gió cuốn, cát trắng, nắng vàng trên cánh đồng hoang của kiếp ngườinhiều mộng mị:

“Gởi thân gió cuốn xa mù

Áo xanh cát trắng trời thu muộn màng

Chênh vênh hoa đỏ nắng vàng

Gót xiêu dốc núi vai mang mây chiều

Tóc huyền loạn cả nguyên tiêu

Lãng du ai ngỡ cô liêu bạc đầu.”

Người Tù đã vào cuộc lữ, như con ngườivào cõi phù hư quanh quẩn đâu đây như là cát bụi, như sự chìm nổi, đá mòn chiêmbao, quán trọ, thông già để nghe mối hận dâng cao. Hận mùa thu mây trắng, hận rừng thu lá vàng,hận trời thu hiu hắt, hận gió thu mang mang, mà xuôi đôi chân trần về miền cátbụi, lăn lóc trơ trọi. Người Tù hóa thânvào cát bụi, như Bồ Tát hóa thân làm hạnh độ sinh, chẳng biết từ nan bất cứ nơinào. Địa ngục, trần gian, thiên giới,long cung đều có dáng từ Bồ Tát cứu khổ độ mê, đưa chúng sinh về miền tịnh lạc. Đó là hạnh nguyện, tư lương độ đời kham nhẫnmà mạnh dạn Bồ Tát bước chân vào dòng cuồng lưu sinh tử. Hành trang và sự nghiệp của Người Tù đi vàothế giới lãng du cát bụi là đá mòn, tà dương, đào tiên, mục tử, là cánh chim trời,nỗi hao mòn, tiếng kêu và nỗi lạnh sương khuya; là gió lốc, chiêm bao, con tàu,tóc trắng; mắt sâu và dòng máu phiêu lưu; là màu nắng, là hương tóc cũ, là chiều bơ vơ,là mộng kiêu hùng, muối mặn, trùng khơi; là đáy biển, là trăng gầy, là điêutàn, khói phủ; là tuổi vàng, đồi hoang, trăng tàn, núi lạnh, là đỉnh đá, hạt muối,mùa hạ, bụi đường, suối rừng, nước cuốn, tóc huyền sương mai... Đó là chất liệu để Người Tù làm cuộcrong chơi, in dấu chân mòn trên mặt đất, độc hành, cô lữ, héo hon:

“Quỳ xuống đó nghe hương trời cát bụi

Đôi chân trần xuôi ảo ảnh về đâu

Tay níu lại những lần khần chìm nổi

Hận thu cao mây trắng bỗng thay màu.

....

Còi rộn rã bởi hoang đường đã đổi

Bởi phiêu lưu ngày tháng vẫn con tàu

Vẫn lăn lóc với đá mòn dứt nối

Đá mòn ơi cười một thuở chiêm bao

Quỳ xuống nữa ngủ vùi trong cát bụi

Nửa chừng say quán trọ khóc lao xao.”

Cõi thơ, Người Tù không còn ranh giới. Người Tù đã nhập thể vào cõi thơ. Thơ là người, người là thơ không còn khác biệt,đồng điệu như cung đàn xưa. Cung đàn lướtđều dưới mười ngón tay xương xẩu, xanh mét, như những cọng lau gầy phiêu diêutrước gió.

Sáng nay, Người Tù ngồi bên bếp lửa hồngđun nước sớm. Tiếng lửa reo tí tách, tiếngnước reo vui trong ấm, mà tự dưng mơ màng rừng sâu phố thị. Mắt Người Tù đăm chiêu nhìn bếp lửa, môi mấpmáy, tay lần khần khơi từng cục than lăn qua trở lại như lăn đời mình nhục nhằntrong tù ngục trên đỉnh Trường Sơn để mà:

“Nằm ôm một bóng trăng gầy

Vai mang tủi nhục hờn lay mộng tàn

Rừng sâu mấy nhịp Trường Sơn

Biển Đông mấy độ triều dâng ráng hồng”

Tâm sự của riêng mình, hay nỗi bơ vơ lạcloài giữa đất trời mênh mông hoang dã, Người Tù cảm thấy hụt hẫng, vì quanhmình chẳng thấy ai chung lối. Trao thâncho cát bụi thì người yêu cát bụi chẳng chung tình, gởi một nguyện ước cho muôntrùng thì trùng khơi dậy sóng, chỉ còn là tự tình, để yêu đốm lửa đêm sâu bậpbùng, và gởi thân tạo dựng quê hương cùng với nỗi hờn thiên thu khổ lụy, cho mộtkhoảng trống vắng mênh mông. Sau lưng, bụiđường khỏa lấp, chôn chân mục nát rêu phong, từ đó thì thầm nghe một phương trờinào là gác trọ:

“... Trời ơi tóc trắng rủ lòng quê cha

Con đi xào xạc tiếng gà

Đêm đêm trông bóng Thiên Hà buồn tênh

Đời không cát bụi chung tình

Người yêu cát bụi quê mình là đâu?”

Dưới bóng đổ dài, ngôi Kim thân Phật Tổngự trên đồi Trại Thủy nhìn ra biển Nha Trang, lồng lộng gió chiều, được mệnhdanh là miền thùy dương cát trắng, Người Tù đưa tay bẻ cành hoa Tứ Quý, mộtloài hoa dại mọc nơi sườn đồi, chung quanh tượng Phật, xoay xoay theo chiềugió. Dường như Người Tù muốn gửi hươngtheo gió bay về một phương trời nào đó. Hương của hoa rừng, hay hương của một tấm lòng cho mây ngàn, cỏ nội, lànhương thơm lây đến tất cả các loài thảo mộc, nơi miền xa xôi. Nơi có mây trắng và núi cao, có sương sớm và đòngang nước lạnh đang ngóng chờ khách bộ hành sang sông. Người Tù có lẽ là lão chèo đò, đưa người quabến hay là tiễn biệt lữ hành đi vào cuộc lữ của “phương trời viễn mộng”.

Người Tù đứng nhìn ra biển khơi, xa xalà những rặng núi mờ vì sóng nước. Nhữngdãy núi này được gọi là Hòn Tre hay Hòn Yến chắn ngang cửa biển làm dịu lại nhữngcơn sóng nước muôn trùng, nhờ vậy mà bãi biển Nha Trang êm ả, nên thơ. Dưới chân núi là những hàng dừa xanh bátngát, chạy vòng bao quanh từ những chân núi xa Đồng Bò, Đồng Đế, Diên Khánh, PhướcHải ... đến mép bờ biển Cầu Đá, Cửa Bé,Lương Sơn... Rừng dừa được nuôi lớn từ nướcmặn và cát trắng, xanh tươi mượt mà nhờ làn gió biển thổi vào từ đại dương baola cho thêm sum xuê, đầy trái ngọt. Khung cảnh thơ mộng thành phố Nha Trang đã giữ được bước chân Ngườiphiêu lãng qua những năm tháng phiêu bồng, thể hiện tấm lòng gầy dựng tương laicủa một thế hệ, nhưng rồi thời cuộc đẩy đưa, trời chẳng chiều lòng người nên tấtcả chỉ là những rong chơi, bâng quơ như giã biệt, hay tiễn đưa ai trên con đòngang qua dòng sông lạnh, để người ra đi còn mình ở lại với bóng đèn u tịch:

“Một bước đường thôi nhưng núi cao

Trời ơi mây trắng đọng phương nào

Đò ngang neo bến đầy sương sớm

Cạn hết ân tình nước lạnh sao?

Một bước đường xa, xa biển khơi

Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời

Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ

Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi

....

Cho hết mùa thu biệt lữ hành

Rừng thu mưa máu dạt lều tranh

Tay so phấn nhụy trên màu úa

Trên phím dương cầm hay máu xanh.”

Người Tù đã dứt áo, bỏ lại sau lưng nhữngdấu chân mờ còn phong kín xanh rêu. Lá rừngnơi đây được đổi thay, lá rừng Vạn Giả. Ngày cuốc đất trồng khoai, tỉa ngô vun sắn; tối ngắm sao trời bên máitranh xiêu, Người Tù vùi chôn ngày tháng với cuốc, mai, nương rau, liếp cải.

Một tay cầm cuốc, xới lên luống đất mớicủa núi rừng Vạn Giả để gầy dựng sự sống; một tay cầm bút viết nên những vần thơven rừng, suối mây, cỏ dại:

“Ta muốn đi làm thuê

Đời không thuê sức yếu

Ta mộng phương trời xa

Trời buồn mây nặng trĩu

Ven bờ thân cỏ dại

Sức sống thẹn vai gầy

Tóc trắng mờ biên ải

Nỗi hờn mây không bay.”

Sự sống được khơi nguồn, những ngàytháng vật vã trên luống đất mới, qua lát cuốc sâu, lầm lũi như người nông phuyêu ruộng vườn, rẫy nương, lúa mạ. Mạchsống của liếp cà, giàn bí, mướp đắng, bầu xanh dưỡng nuôi lý tưởng, Người Tù cặmcụi, một nắng hai sương. Sự sống ấy đượcchăm sóc, nâng niu bằng đôi tay trang trọng, bằng đôi chân nhẹ nhàng thảnh thơiđể gieo mầm hy vọng:

“Người không vui, ta đi về làm ruộng

Gieo gió Xuân chờ đợi mưa Hè

Nghe cóc nhái gọi dồn khe suối

Biết khi nào phố chợ chắn bờ đê”

Những liếp cà xanh, luống tía tô phơimình trong nắng hạ, Người Tù nâng niu từng quả cà tím sẫm, giàn ổ qua, dây bí rợbò lan tràn trên mặt đất, đùn thành những ụ cao như gò mối. Chính sức sống mạnh mẽ nơi đây là do sự cố gắng,hít thở khí trời, sương khuya gió sớm để un đúc, trưởng thành. Người Tù đứng nhìn công trình xây dựng củamình đượm màu xanh, màu ước mơ hy vọng:

“Ta biết mi bọ rùa

Gặm nhắm tàn dãy bí

Ta vì đời ganh đua

Khổ nhọc mòn tâm trí

Ta biết mi là dế

Cắn đứt chân cà non

Ta vì đời đổ lệ

Nên phong kín nỗi hờn

Ta biết mi là giun

Chui dưới lòng đất thẳm

Ta vì đời thiệt hơn

Đêm nằm mơ tóc trắng

Người Tù với vóc dáng mảnh khảnh, yếu gầy,mẫu người không phải sinh ra để cày sâu cuốc bẫm, khai hoang nương rẫy, ruộng đồngđể tìm mưu sinh trong chốn khốn cùng; Người Tù bất đắc chí, quăng bút nghiên ở ẩnchốn hoang sơ nên “độc hành kỳ đạo, độc thân kỳ sinh” không nương nhờ cậyai. Bằng sức người nhỏ nhắn, giữa đêm tốimông lung, giữa ngày hè nắng gắt, không nhụt chí phấn đấu trên vùng đất mới vỡ,Người Tù vẫn không nguôi ngoai ước nguyện cho đời, cho một phố xưa nhiều hươngsắc, dẫn khởi cho Người một niềm an nhiên tịnh lạc. Người Tù bỏ lại sau lưng thành phố cũ, bụi mờkhói nhạt, mây bay, lầm lũi nơi xó rừng, bên nương dâu rẫy bắp, nhưng ước vọngmột ngày về góp bàn tay xây dựng cơ đồ, quê hương đổ nát. Sự đổ nát cứ âm ỉ, gặm mòn tiêu hao cho đếnngày gục ngã. Đó là viễn ảnh trong mắtNgười Tù đã nhận diện sự hư thực của đời qua guồng máy bạo tàn. Ngày về trên đôi chân trần, còn vương bụi đỏ,còn phảng phất hương đồng cỏ nội của miền Soi Đê:

“Mười năm sau anh về thăm phố cũ

Màu Trường Sơn pha nắng rực trưa hè

Anh vẫn nhớ những con đường bụi đỏ

Và tình yêu trong ánh mắt rã rời.”

Tiếng hát của thi nhân, hay tiếng đàn củangười nghệ sỹ là chất liệu sống chảy xuôi theo mười ngón tay lả lướt trên thùngđàn tồn đọng trên khóe môi nồng ấm tự thuở đầu đời, Người Tù đã sống từ thuở ấy. Cái thuở của buổi ban sơ, khi tâm tư con ngườicòn trong trắng, thuần tịnh, như sáng hôm nay, tia nắng chiếu xuyên qua mành, lọtvào khe cửa sổ, soi tỏ từng hạt bụi li ti trong không gian, Người Tù ngồi đămchiêu bên dương cầm chẳng buồn gõ, vầng trán ấy như vọng về nơi đâu, xa xăm đểnhớ lại những lời tiễn biệt, những nụ cười tiếng hát năm xưa. Ấy là một thời đôi tay Người không bị còng, đôichân Người tự do rảo bước các miền thi ca, âm nhạc, triết lý Đông Tây. Là thuở của Người tự do ca hát, hát bài tìnhca tự do:

“Lời tiễn biệt nói gì sau tiếng hát

Hỏi phương nào cho nguyện ước Trường Sơn

Lời em ca phong kín nhụy hoa hờn

Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt

Mờ phố thị những chiều hôm suối tóc

Bóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa.”

Đáp chuyến tàu đêm từ rẫy Soi Đê – VạnGiả vào lại Viện Nha Trang những khi vắng người, vì ai cũng phải đi làm, NgườiTù một bóng một hình ít được biết tới. Khi đi sớm lúc về khuya, Người Tù thoạt hiện thoạt biến như những cơngió biển khơi thổi ngang qua gác chuông khuya Chùa Hải Đức, đìu hiu, cô quạnh. Khuya nay ai sẽ là người gióng quả Đại HồngChung, để tiếng chuông ngân vang trong lời kệ thỉnh: “Nguyện tiếng chuôngnày siêu pháp giới, các cõi tối tăm thảy đều nghe. Nghe rồi thanh tịnh chứng viên thông, tất cảchúng sanh thành chánh giác.” Quả ĐạiHồng Chung có từ lâu đời, trước khi Người Tù dừng chân đứng lại trên đồi TrạiThủy. Tiếng chuông ngân lên buổi sángmai lành, lúc mọi người còn đang say giấc ngủ. Nhưng, tiếng chuông đã đánh thức Người qua giấc mộng êm đềm để Ngườichoàng tỉnh cơn mê. Mái gác chuông đãnhuộm màu rêu phong, cột gác chuông xám xì theo năm tháng phế hưng, lớp da bọcdùi dộng chuông đã rách mòn cũ kỹ. Nhưngquả Đại Hồng Chung vẫn lầm lì cổ kính, dửng dưng giữa cuộc phong trần, mặc chonăm tháng phôi pha, ai đến ai đi quả chuông vẫn đứng đấy.

Nép mình dưới tàng Bồ Đề xanh thắm,chen giữa cánh phượng đỏ trưa hè, quả Đại Hồng Chung như được bao người mến mộ,thỉnh tiếng chuông cho vơi bớt bụi trần. Đó là tâm tình của khách viếng cảnh, thăm Chùa vào những thập niên trướcvới những khách vãng lai nhộn nhịp. Giờthì không, chỉ là dấu mòn rêu nhạt, dẫu biết rằng gác chuông trên đồi Trại Thủyđược bao quanh bởi xóm làng phố thị đông đúc. Nhưng dù có sao đi nữa, cảnh vật có hoang liêu tiêu sơ, núi đồi có khô cằnsỏi đá, quả Đại Hồng Chung Chùa Hải Đức vẫn thâm nghiêm, kính cẩn, soi mình dướibóng trăng thanh, u huyền, tao nhã; vẫn sừng sững vững chắc để bảo tồn một chứngtích công phu của Tổ Đức một thời tâm huyết; lưu giữ lời di chúc vô ngôn mà thừatruyền cho hàng hậu duệ.

Người Tù cũng mang tâm nguyện ấy, muốntruyền đạt sở học của mình cho đàn con cháu, nhưng mấy ai đủ thiện duyên, đủ hiểubiết để tiếp thọ. Người Tù rơi lệ chochính mình, cho lý tưởng giải thoát giác ngộ, cho một cõi vô cùng trên đỉnh tuyếtsơn mà mấy ngàn năm qua vẫn lưu giữ hình hài của Sơ Tổ Ca Diếp nơi đó. Khóc cho quê hương mấy ngàn năm văn hiến, giờnhư viên đá bụi đường, vết tích tang thương. Một tấm lòng u uẩn lạnh tanh:

“Tiếng ai khóc trong đêm trường uất hận

Lời ai ru trào máu lệ bi thương

Hồn ai đó đôi tay gầy sờ soạng

Là hồn tôi tìm dấu cũ quê hương

Ai tóc trắng đìu hiu trên đỉnh tuyết

Bước chập chờn heo hút giữa màn sương

Viên đá cuội mấy nghìn năm cô quạnh

Hồn tôi đâu trong dấu tích hoang đường?”

Giá có ai đi qua dưới chân tháp sắt củaViện sẽ thấy còn lại những chứng tích tàn phá của thời gian. Nền tháp còn kia, nhưng tháp cao mười hai tầngđã bị ai phá sập. Bên cạnh tháp sắt làQuán Âm Các, bây giờ cũng hóa thân vào cát bụi, như hạnh nguyện độ sinh của BồTát hóa thân vào đời trầm luân. Nơi đây,Người Tù đã bao lần ngồi kể chuyện Thiện Tài Đồng Tử, trong Kinh Hoa Nghiêm đitham học qua 53 vị Tổ Sư. Một trang Thiệngia Nam tử vì sở cầu, chí nguyện tham vấn mà một thân, một mình đi từ hải đảonày đến đỉnh núi kia. Khi nghe một vị TổSư nào danh tiếng dù ở chân trời góc biển xa xăm, Thiện Tài Đồng Tử đều đi đến đảnhlễ tham học. Đó là chí nguyện của kẻ xuấttrần, giàu lòng nhân, xây dựng đời bằng tấm lòng khoan dung, độ lượng, biết thươngđời, biết thương người, giải thoát chốn tối tăm. Người Tù cũng bước theo dấu chân ấy, bước đikhắp nẻo quê hương, vì Người Tù là đứa con của quê mẹ, nên Người Tù chẳng rờixa quê mẹ. Sinh ra từ quê mẹ, thì có chếtcũng chết trên quê mẹ. Dù quê mẹ nghèo đói,đất mẹ gầy hao thiếu áo cơm, đói rách, nhưng chí nguyện Người Tù vẫn hực lửa đểsoi sáng quê hương. Người Tù đi tham họccác miền, các vị Tổ Đức Tòng Lâm, trang bị cho mình một kiến văn quảngbác. Nhưng khi con phượng hoàng đủ lông đủcánh thì cất cánh bay cao. Khi rồngthiêng ẩn mình dưới đầm lầy đủ nanh vuốt thì vẫy vùng nơi bể sâu sóng cả. Do vậy, khi “Nhìn quê hương qua chứng tích điêutàn”, Người Tù mang nỗi đau lớn, nỗi đau của một người sống trong lòng quê hươngbị dập vùi theo cát bụi quê hương. NgườiTù mất quê hương giữa lòng quê hương, nên Người Tù nguyện ở tù cho quê hương đượccó trọn một mùa Xuân:

“Quê hương ơi, mấy nghìn năm máu lệ

Đôi vai gầy dâng trọn cả mùa Xuân.”

Người Tù khóc cho quê hương sao nhiềumáu và nước mắt. Suốt một dòng lịch sử mấyngàn năm quê hương bị xâm lăng, đô hộ, quê hương bị cướp đoạt, tương tàn với biếtbao nỗi thống khổ:

“Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử

Dài con sông trào máu lệ quê cha.”

Đến hôm nay, Người Tù là chứng nhân củamột chặng đường lịch sử. Nhìn dòng sử mệnhquê hương trôi nổi, điêu linh với bao nỗi xót xa, Người Tù giở lại từng trang lịchsử để thấy từ thủa bình minh lập quốc, dòng máu củacác chiến sĩ, các anh hùng dân tộc, đã thấm sâu trong từng tấc đất quê hương,trải dài trên giang sơn gấm vóc, mở rộng bờ cõi biên cương, cho cánh đồng lúangày thêm mượt mà xanh thẳm. Máuxương của các bậc tiền nhân khổ công dựng nước, xây nước và giữ nước cho đếnbây giờ. Sự kiến tạo quê hương, mở mangbờ cõi, giữ gìn quê Cha đất Tổ được thanh bình. Sự hy sinh đó, máu chảy thành sông, xương chất thành núi qua bao thế hệ,bao lớp người ngã xuống, nuôi sống cỏ cây, nuôi sống dòng lịch sử dân tộc hàohùng.

Lần giở lại lịch sử quê hương, dân tộc,biết bao công đức của các bậc Tổ Đức Tiền Nhân, các anh hùng, chiến sĩ vô danhvùi thây ngoài chiến địa cho sự trường tồn của dân tộc. Không ngồi yên nhìn gót giày quân giặc tànphá quê cha, nhìn sự ngược đãi bạo tàn của quân xâm lược. Một Trưng Nữ Vương đã phất cờ khởi nghĩa đánhđuổi quân thù ra khỏi biên cương, tạo dựng một quê hương độc lập tự chủ, với hiếnpháp kỷ cương luật định. Ngồi trên bànhvoi vì nợ nước thù nhà, để xiển dương dòng máu nữ lưuanh kiệt. Một Triệu Thị Trinh, đã“cưỡi cơn sóng dữ, đạp luồng kình phong, quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi,mà không là nữ nhi thường tình.”Một tướng quân Trần Bình Trọng dõng dạc,khẩu khí, kiêu hùng: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm Vương đất Bắc.”Một Trần Khánh Dư ngồi đan sọt mà lo việc nước. Một Đại tướng Trần Hưng Đạo: “Ngày nào đầu tôi còn trên cổ, thì ngày đóxin Vua đừng lo.” Đem chí nguyện của một con dân, hiến dâng cho Tổ quốc, tiếpnối mạch sống giống nòi, lấy da ngựa bọc thây, lấy áo bào làm mồ chôn thân xác đápđền ơn nước.

Một Lý Thường Kiệt hào hùng, bất khuất,minh định:

“Nam quốc Sơn hà Nam đế cư

Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhử đẳng hànhkhan thủ bại hư.”

Một Lê Lai liều mình cứu Chúa, một Lê Lợinếm mật nằm gai, mười năm kháng chiến chống quân Minh trong rừng núi Chí Linh,không sờn lòng nhụt chí. Một NguyễnTrãi: “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần.” Tất cả đã đều đóng góp xương máuvào dòng sử Việt. Một Đại Đế Quang Trungthống nhất sơn hà, để hơn hai mươi vạn quân Thanh vội vã, chen chúc rút lui bỏthây nơi cầu phao, cũng vì dòng máu quật cường củadân tộc Việt Nam. Người Tù, cũngnổi trôi theo dòng sử mệnh đó.

Người Tù chứng kiến thảm trạng của quêhương hôm nay mà nhớ lại bước đường lịch sử xa xưa của các bậc khai quốc côngthần.

“Tiếng trẻ khóc ngân vang lời vĩnh cửu

Từ nguyên sơ sông máu thắm đồng xanh

Tôi là cỏ trôi theo dòng thiên cổ

Nghe lời ru nhớ mãi buổi bình minh.”

Ý thức phận mình trong thân phận quê hươnghiện nay, Người Tù đi làm hạt cát. Một hạtcát trong bãi cát nóng muôn trùng. Hạtcát nóng đó lăn vào mắt kẻ quan quyền, bạo chúa, kẻ hưởng thụ trên máu xương củadân tộc, kẻ thống lãnh cai trị một chế độ phi nhân.

“Nữ Vương ngự huy hoàng trong ráng đỏ

Cài sao hôm lấp lánh tóc mai

Bà cúi xuống cho đẹp lòng thần tử

Kìa, khách lạ, người là ai?

Tôi sứ giả hư vô

Xin gửi trong đôi mắt Bà

Một hạt cát.”

Trên dòng sử mệnh quê hương, Người Tù đãbềnh bồng trong dòng sông từ khơi nguồn tiến hóa tựthủa man khai. Người Tù bước đitrên tinh thần quê hương dân tộc, làm nghĩa vụ của một con dân. Là cọng cỏ trong đám cỏ. Là chiếc lá trong rừng lá. Là giọt nước trong dòng sông. Là hạt cát trong bãi cát. Là hạt mưa trong cơn mưa làm mát dịu khí trờioi bức, làm tắt lịm cơn nắng sốt trưa hè. Nhưng Người Tù làm mát dịu lòng dân thì lại xốn xang, cay rát mắt ngườithống trị. Vì sự đau nhức đó, Người Tùphải lãnh bản án tử hình, hay tù khổ sai chung thân qua hai thế kỷ.

Tất cả là bài học của thời gian, xoimòn và sụp đổ. Người Tù nói với quê hương“mặt trời kia sẽ tắt.” Đó là bài học lịch sử muôn đời, bất biến. Rồi một ngày nào đó những gì của quê hương,hãy trả lại cho quê hương, những gì của giống nòi dân tộc hãy trả lại cho dân tộcgiống nòi. Chẳng ai có thẩm quyền cướp đoạt,tẩu tán tài sản của cha ông ngàn đời xây dựng.

“Nắng lụa đỏ phủ tường rêu xám bạc

Lá cây xanh nghiêng xuống mắt mơ màng.

Người có biết mặt trời kia sẽ tắt?

Tôi yêu người từ vết rạn thời gian.”

Đó là lẽ tất nhiên được khẳng định quabài học dấu mòn bên lịch sử. Một chân,Người Tù đi trong lòng quê hương; Một chân, đi trong lòng Đạo pháp, theo vếttích hoằng dương của Chư Lịch Đại Tổ Sư. Một Thiền học, Khương Tăng Hội chống tích trượng dựng Phật nghiệp cùngMâu Tử, Chi Cương Lương, Lý Miễu, Đạo Cao, Pháp Minh... Khương Tăng Hội là bậc kỳ vĩ, đồng thời vớinhững bước chân của các bậc Thạch Trụ Thiền Gia trong sứ mệnh dựng xây ngôi nhàlịch sử Phật giáo đầu tiên. Công đức vàtài năng của Chư Vị Lịch Đại Tổ Sư đã sống trọn vẹn, huy hoàng, thù diệu tronglòng quê hương, Đạo pháp.

“Nội dung giáo dục Phật giáo ViệtNam vào thời Khương Tăng Hội như thế,không phải là một nền giáo dục thuần túy Phật giáo hay tôn giáo, mà là một nềngiáo dục tổng hợp toàn diện, có thể nói đại diện cho nền giáo dục Việt Nam thế kỷ thứ ba. Nền giáo dục này không chỉ giới hạn trong chứcnăng truyền giáo, đào tạo ra những con người Phật giáo, mà trên hết và trước hếtlà đào tạo ra những trí thức dân tộc toàn diện có tánh bách khoa, am hiểu vàlãnh hội được hết tinh hoa dân tộc và nhân loại của thời đại mình, rồi trở lại đónggóp những thành quả của mình cho kho tàng hiểu biết của loài người. Cho nên Khương Tăng Hội không chỉ học ba tạngkinh điển của Phật giáo, không chỉ học sáu kinh của Nho giáo, và chắc chắn làcác giáo khác nữa, mà còn học tới thiên văn đồ vỹ, khoa ăn nói và nghệ thuật viếtlách. Chính nền giáo dục tổng hợp toàndiện và phóng khoáng này đã đào tạo cho lịch sử dân tộc những thiên tài trongcác lãnh vực khác nhau, thậm chí đối lập nhau như nghệ thuật và khoa học, chínhtrị và âm nhạc, văn và kỹ thuật. Từ LýMiễu cho đến Lý Công Uẩn, từ Lương Thế Vinh cho đến Ngô Thời Nhiệm, Từ Lê Ích Mộccho đến Trần Cao Vân, từ Tuệ Tĩnh cho đến Võ Trứ, chứ khoan nói chi với Vạn Hạnh,Chân Lưu, Pháp Thuận, Quảng Đức... Dựatrên học phong thiết thực, nó đã trang bị cho những đối tượng cần đào tạo nhữngkiến thức rộng rãi, phóng khoáng của tất cả các ngành tri thức của nhân loại thờiđó, mà không nhất thiết đóng khung vào một chủ thuyết nào nên đã tạo được nhữngvùng trời tự do cho khả năng tư duy, và tư tưởng sáng tạo của từng cá nhân.

Nền giáo dục Phật giáo này không chỉ tồntại vào thời Khương Tăng Hội, mà còn được tiếp tục kế thừa, tiếp nối cho đếnngày hôm nay và mai sau.

Chính cái cột sống dân tộc ấy đã nâng đỡcho những người con xa quê khỏi ngã gục trước gánh nặng của trách nhiệm và trướcnhững cám dỗ tha hóa của vật chất. Họ cóthể đứng thẳng người lên trông ngắm quê hương gấm vóc và thương nhớ quê hươngdiệu vợi. Mà quê hương là gì? Là nhữngcâu hò của Mẹ, là nét mặt của Cha, là lời dạy của Thầy và là nhiều thứ nữa...

Phật giáo Việt Nam vào thời Khương TăngHội đã xây dựng thành công một cơ cấu giáo dục tổng hợp khá hoàn chỉnh và đa dạng,bao gồm toàn bộ tất cả các ngành tri thức có mặt ở thời đó mà không đóng khungvào một giới hạn chật hẹp nào. Người takhông chỉ học ba tạng kinh điển Phật giáo, sáu kinh của Nho giáo, còn phải họctất cả khoa sấm ký, thiên văn, thậm chí cả khoa học ứng đối và đặc biệt truyềnthống dân tộc Việt Nam. Nền giáo dục ấyvì vậy có thể nói là đại diện cho nền giáo dục Việt Nam vào thế kỷ thứ II và thứIII, đối kháng lại nền giáo dục nô dịch của Trung Hoa đang tồn tại song songcùng nó. Nhờ thế, qua lịch sử nó đã đàotạo ra những thiên tài đáp ứng được nhu cầu của đất nước và tiếp nối cho đến ngàynay.”

(Khương Tăng Hội Toàn Tập I - Tu Thư Đại Học VạnHạnh 1975 - trang 43. Lê Mạnh Thát)

Người Tù đã bước theo những bước chân đầutiên của thời đó cho đến hôm nay còn in rõ, dấu vết, hình hài của những ngườitù Cha - Hòa Thượng Thiện Minh chết trong tù năm 1978, Hòa Thượng Trí Thủ bịchích thuốc độc năm 1984... Hòa ThượngHuyền Quang tù treo lơ lửng mấy mươi năm ròng rã cho đến nay, Hòa Thượng Quảng Độcấm cố, biệt giam và giam lỏng cho đến bây giờ. Ngang qua những chứng tích hoang tàn, đổ nát, Người Tù chợt mơ giấc mơkinh dị:

“Đêm qua chiêm bao ta thấy máu

Từ sông Ngân đổ xuống cõi người

Bà mẹ xoi tim con thành lỗ

Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời.”

Bước vào cõi thơ Người Tù, mông lunghuyền diệu quá, cả một trời tâm sự được gửi gấm qua những ngôn từ sâu thẳm. Tâm sự đó được ký thác từ thuở còn măng sữa,cưu mang thân phận làm người, đã u hoài một kiếp nhân sinh, nhiều mộng mị. Càng thấy rõ sự mộng mị đó từ thập niên 75 vềsau ở miền Nam và 45 ở miền Bắc. NgườiTù đã đi lên đỉnh núi nhìn xuống đồng bằng, sự đời trôi qua nhiều nước mắt. Người lầm than, kẻ cơ cực. Kẻ chiến thắng hung hăng, tàn bạo, với guồngmáy thống trị hà khắc, coi dân như rơm rác, mặc sức đàn áp đày ải. Xã hội băng hoại, từ đạo đức tâm linh. Một xã hội loạn tưởng suy đồi, vì lãnh đạo chỉbiết nghĩ đến đời sống vật chất cá nhân, đất nước nghèo nàn vì những chủ thuyếtngoại lai.

“... Hoàn cảnh đất nước Việt Nam như thế cho nên dân ta phải chịu quá nhiều đauthương và tủi nhục. Đối với giới trí thứcnói riêng, mà xã hội Việt Nam truyền thống rất tôn trọng. Điều tủi nhục lớn nhất là họ không thể nóithay những người dân thấp cổ bé miệng, nói lên một cách trung thực tất cả nhữnguất ức, những khổ nhục mà họ phải chịu. Bởi vì tại Việt Nam ngày nay những người có thể nói thì ngòi bút đã bịcong; những người muốn nói thì ngòi bút đã bị bẻ gẫy.

Nhưng tôi rõ một điều, và điều đó đã đượcghi chép trong lịch sử: Trí thức chânchánh của Việt Nam không bao giờ khiếp nhược.”

Đó là một chút lương tri, tự tình quê hương,dân tộc không thể phôi pha trong người con dân nước Việt:

“Ơ kìa, nắng đỏ hiên chùa

Trăng non rỏ máu qua mùa mãn tang

Áo Thầy bạc phếch bụi đường

Khói rêu ố nhạt vách tường dựng kinh.”

Lời Kinh khuya nơi chánh điện chùa GiàLam trầm hùng thanh thoát. Bài kệ trongKinh Lăng Già được Ôn Già Lam xướng tụng 108 danh hiệu Đức Phật A Di Đà mỗi thờicông phu sáng mà thấy lòng mình bình an tĩnh lạc, rải Tâm Đại Bi đều khắp chúngsanh:

- Thế gian ly sanh diệt

Do như hư không hoa

Trí bất đắc hữu vô

Nhi hưng Đại Bi Tâm

Nguyện cầu cho quê hương Việt Nam ngờisáng Tâm Đại Từ Bi.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn