Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 08: Hành trang giác ngộ

14/03/201200:44(Xem: 4831)
Chương 08: Hành trang giác ngộ

HUYỀNTHOẠI DUY-MA-CẬT

TuệSỹ

CHƯƠNGVIII: HÀNH TRANG GIÁC NGỘ

I. CHỦNG LOẠI BỒ ĐỀ

Phát bồ-đề tâm, hànhBồ-tát đạo, tu Bồ tát hành, thành tựu Bồ-đề quả: đó là chuỗi đời vô tận củanhững con người, hạng chúng sinh mà Đại Tỳ-bà-sa nói đó không phải là hạng ngusi mà là hạng chúng sinh thông minh. Thông minh theo nghĩa đó là biết địnhhướng cho dòng đời vô tận của mình. Để không thể nhầm lẫn với bất cứ ý nghĩathông minh nào khác, kinh Phật gọi nó là “bồ-đề.” Hạng chúng sinh thông minh ấyđược gọi là “bồ-đề-tát-đỏa.” Những con người như vậy rất khó tìm thấy trong đờithường, trong giao tiếp đời thường. Cho nên, Phật nói: “Rất it người đi qua đếnbờ bên kia. Số đông ở lại bên này, lẩn quẩn bên bờ.”[1]

Cũng ý nghĩa như vậy,khi Thiện Tài đồng tử thưa với Thánh giả Văn-thù, mình đã phát tâm mong cầu qủavị Vô thượng Bồ-đề, bấy giờ Văn-thù cao hứng tán dương: “Lành thay! Lành thay!Nếu có chúng sinh nào mà phát tâm bồ-đề vô thượng; sự việc ấy thật là khó. Đãphát tâm rồi, lại cần cầu hành Bồ-tát đạo, càng khó gấp bội.”[2]

Khát vọng hiểu biết, tựbản chất, là nhu cầu mà sự thỏa mãn nó tác thành định mệnh mỗi con người, vàcũng đồng thời định hướng cho những bước tiến của cộng đồng, và nói rộng hơn,là bước tiến của văn minh nhân loại. Điều đó đã được xác nhận từ nghìn xưatrong hầu hết các nguồn tư duy tôn giáo và triết học lớn của nhân loại; tuy sựphát biểu có khác nhau, tùy theo phong cách tư duy của mỗi hiền triết. Các nhàđạo sỹ Vedānta nói: athāto brahmajijñāsā, “Rồi thì, ước nguyện muốn biếtBrahman.”[3] Ước nguyện đi tìm căn nguyên của cái gì đang tồn tại đó, dướichuỗi vận hành sinh, trụ, dị diệt. Không phải chỉ một cái này hay cái kia đangđược nhìn thấy, mà tất cả cái đang được nhìn thấy, tất cả như là một toàn thể.Cái đó, và tất cả những cái đó, là gì? Căn nguyên từ đâu?

Nhưng, thoạt kỳ thủy,con người người không săn đuổi và tích lũy tri thức vì ước nguyện ấy, mà vìnhững mục đích thực tiễn hơn. Tri thưc chỉ được cần đến để làm tăng gia khảnăng thâu thập sự vật ngoại giới hầu thỏa mãn nhu cầu căn bản cho sinh tồn. Nhucầu ấy, nguyên thủy không nhiều lắm. Bởi vì, như kinh nói, thời ấy con ngườichỉ có ba chứng bịnh là ước muốn, đói và già. Cho nên, vào thời kiếp sơ, trongcác cộng đồng nguyên thủy của loài người, khát vọng tri thức chỉ như động lựctiềm ẩn. Rồi khi con người bắt đầu phát khởi ý niệm tư hữu, mà hệ quả của nó làtích lũy tư hữu, để dẫn đến xã hội cạnh tranh tích lũy. Khi ấy, khi mà mức cạnhtranh càng khốc liệt, tri thức thở thành một phương tiện tích lũy ưu thắngnhất. Kinh nói,[4] thủa xưa, vào một lúc, một số chúng sinh vào rừng, dựng amcốc, tư duy, chiêm nghiệm, thiền tứ. Sau đó, họ lại từ bỏ núi rừng, xuống cácđô thị, rao truyền kiến thức của mình,[5] và dàn dần, họ được xem là cao thượngnhất trong xã hội.[6] Một giai cấp mới hình thành. Kho tàng tri thức được tíchlũy bấy giờ trở thành công cụ áp chế của giai cấp. Cho nên, Phật nói, “Ngườingu chinh phục tri thức cho sự sụp đổ của mình. Thật vậy, hạnh vận của ngườingu diệt vong nó, làm vỡ đầu nó.” [7]

Đó là một hướng mà trithức được tích lũy. Tri thức ấy, ngày nay, đã đem lại cho nhân loại nhiều thứtốt đẹp, đồng thời cũng không ít thống khổ. Cái đầu cho một số ít. Cái sau chosố đông. Như giọt mật trên đầu lưỡi dao bén, bé con đang thưởng thức.

Còn một hướng khác, đượcnhân cách hóa lý tưởng nơi thanh niên trí thức, Thiện Tài đồng tử, mà Bồ-tátDi-lặc giới thiệu với đại chúng:

“Các Nhân giả hãy xemcon người trẻ tuổi này, đến đây tìm tôi, để hỏi Bồ tát hạnh... Thưa các Nhângiả, thiện nam tử này rất là khó có. Người ấy hướng đến cỗ xe Đại thừa,an trụ cảnh giới Phật, nương đi trên đại nguyện, tu đồng loại hạnh, phát đạidũng mãnh, khóac áo giáp đại bi, bằng tâm đại từ cứu hộ chúng sinh... Thưa cácNhân giả, đây là con người vĩ đại, tạo dựng pháp thuyền vớt những kẻ đang bịnhận trong bốn dòng nước xoáy, lập cầu pháp cho kẻ bị ngập trong sình lầy, đốtngọn đèn trí tuệ cho người bị rơi vào chốn tăm tối ngu si... Thưa các Nhân giả,con người vĩ đại này, như vậy cần cầu đủ mọi phương tiện thề sẽ cứu hộ hết thảychúng sinh; phát tâm Bồ-đề liên tục không gián đoạn; trong thanh tịnh hạnh chưahề ngưng nghỉ; cầu Đại thừa đạo chưa hề mệt mỏi; thâu nhận hết thảy con mưa lớncủa đại pháp; hằng mong tích lũy các pháp trợ đạo; viên mãn tất cả mà không xảbỏ gánh nặng thiện pháp...”[8]

Đó là hướng tích lũy đểthành tựu bồ-đề; là loại trí năng mà bản chất không ô nhiễm, được rèn luyện,được tài bồi, được tích lũy bằng nhận thức thực chất cái gì là không thườnghằng, không tự thể, nguyên nhân của khổ đau; nhận thức cái gì “không phải làcủa ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta.” Trí năng ấy, trước hết,ở nơi một vị A-la-hán, được gọi là tận trí vô sanh trí.[9]

Tùy theo quá trình tíchlũy, thời gian tích lũy, và trình độ sai biệt, mà trí năng ấy, tức bồ-đề, đượcchia làm ba bậc: Bồ-đề của Thanh văn, của Độc giác, và của Phật Chánh giác.[10]

Bồ-đề, hay trí năng, tựbản chất, là quan năng nhận thức; nhưng là quan năng siêu việt giới hạn vậtchất của các quan năng nhận thức của thức, tức các nhận thức bởi mắt, tai, mũi,lưỡi, thân và ý. Sáu thứ này y trên thân nên được gọi sáu thức thân. Hoạt độngcủa chúng bị giới hạn trong một không gian ba chiều tức phương phần và thờigian tuyến tính hay tương tục tính.[11] Ngoài giới hạn ấy, chúng không nhậnthức được gì cả. Ngay dù ý thức có phạm vi hoạt động rất lớn, từ phạm vi củacái được thấy hữu hạn có thể diễn dịch thành cái vô hạn và những thứ diễn ratrong thoáng chốc được kéo dài thành vô tận; nhưng ý thức ấy khi suy diễn về sựtồn tại của “lông rùa, sừng thỏ” thì cũng không thể không y trên ấn tượng đượctích lũy từ những thứ sừng đã được thấy như lông gà, long vịt hay sừng bò, sừngnai các thứ. Ngay cả khi nó tư duy về một Thượng đế tuyệt đối, thì hình ảnh ấyphải giống một cái gì đó, như nói, “Thượng đế sáng tạo loài người theo hình ảnhcủa Ngài,” nhưng trong hoạt dụng của ý thức, thì hình ảnh Thượng đế được dựnglên từ con người, từ những gì mà ý thức cho rằng vi diệu nhất, hoàn hảo nhất.Những gì được thâu nhận và tích lũy tạo thành ảo ảnh một tự thể tồn tại thườnghằng, đó là sự tồn tại của một cá ngã hay bản ngã tâm lý.[12] Cá ngã ấy phâncách ta và tha nhân và thế giới thành những cá thể biệt lập, thành những ốc đảotrong sa mạc. Với nhận thức của trí năng hạn chế như vậy, tự tính chân thật củatồn tại và thực thể thường hằng của một chân ngã, có hay không có, vượt ngoàikhả năng nhận biết của ý thức.

Hiển nhiên, trừ nhữnghạng người buông trôi theo dòng nước xoáy, mặc cho “biển trần chìm nổi lênhđênh,” còn lại, dù trong giới hạn hắc ám của trí năng, vẫn cảm nghịêm một thựctại siêu việt ý thức thường nghiệm, tương ứng với một tự ngã hay chân ngã vượtlên trên bản ngã tâm lý thường nghiệm. Điều đó có thể thấy nới Số luận (Saṃkhyā), một trong sáu phái triết học chính thốngcủa Veda. Có một quan năng nhận thức siêu việt để cảm nghiệm được sự tồn tạicủa một chân ngã không biến dị đằng sau tất cả mọi biên dị được thấy trong thếgian; quan năng ấy được gọi là đại hay giác.[13] Khả năng của nó là phán đoánsuy lý dẫn đến quyết định, nên cũng được gọi là quyết trí.[14] Chủ thể của cácnhận thức thu nhận ngoại giới là một bản ngã tâm lý được gọi là ngã mạn.[15]Siêu việt chủ thể thường nghiệm đó là trí năng siêu nghiệm, tức giác hay quyếttrí. Tự thể của quyết trí có hai phần: phần hỷ hướng đến giải thoát, và phần siám dẫn đến đọa lạc.[16]

Trong kinh điển nguyênthủy, ngoài sáu thức thân với ảo giác về một tự ngã thường hằng của kinh nghiệm“cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi,” không tồn tạimột quan năng nhận thức siêu nghiệm nào nữa. Nhưng, trong các nhà Đại thừa Duythức về sau thêm vào hai thức thể nữa: thức mạt-na hay ý và kho chứaA-lại-da.[17] Mạt-na hoạt động với bốn chức năng tâm lý là ngã si, ngã mạn, ngãái, để dựng thành một tự ngã ảo. A-lại-da là kho chứa các chủng tử, tức cáccông năng được tích lũy từ kinh nghiệm nhận thức quá khứ. Các chủng tử hay côngnăng này do yếu tính hữu vi của chúng nên tồn tại dưới dạng hợp thể tích tập,tùy theo chủng loại. Chúng được tượng hình như những hạt thóc giống chờ hội đủcác yếu tố dị loại như đất, nước, phân bón, để nảy mầm hiện hành. Các công năngchủng tử đó là các gói năng lượng sinh diệt trong từng sát na; tạo thành hìnhảnh một dòng chảy liên tục.[18] Thế lực này sinh rồi diệt tác động cho thế lựckhác sinh khởi. Vì là dòng chảy của hai pha sinh diệt liên tục nên cho ta hìnhảnh sự liên tục của những con sóng ngang trong nhận thức bằng giác quan. Nhưngtrong lý luận, người ta nói nó là những con sóng đứng, vì dao động thẳng gócvới lực truyền sóng. Nói là sóng đứng, bởi vì, theo lý luận của các nhàHưu bộ,[19] không có tồn tại nào kéo dài trong hai sát na. Nghĩa là, không cótrường hợp một tồn tại sinh ở điểm này và diệt ở điểm khác.

Tồn tại như vây, mộtcách nào đó, được giản lược cuối cùng thành một chất điểm, tồn tại trong mộtkhông-thời gian vừa tuyến, vừa phi tuyến. Nhưng với các nhà Duy thức, đây chỉlà chân lý ước lệ, được diễn dịch từ nhận thức thường nghiệm. Bởi vì nguồn tưliệu để diễn dịch duy nhất được cung cấp bởi sáu thức thân rồi qua màng lọc củathức thứ bảy là mạt-na. Tuy nhiên, để nhận thức được thực tại tối hậu, các nhàDuy thức đề nghị dựng lên một hình ảnh giả thiết là Chân Như như là thực tạitối hậu.[20] Cũng như với người không biết con cọp là gì, người ta phải mượnhình dạng con mèo để mô tả, nếu người ấy đã từng thấy mèo. Ngoài hình dạng conmèo, còn mượn thêm nhiều thứ khác để mô tả những đặc tính có nơi cọp mà khôngcó nơi mèo. Như sức mạnh của con trâu, sự nhanh nhẹn hay khôn ngoan của con thỏhay con chó, cac thứ vân vân. Tất cả những thứ đều đã được thấy, được biết bởingười nghe, không thể thiếu, và cũng không được phép lẫn lộn. Người nghe táicấu trúc tất cả những thứ đó để nhận thức về tồn tại của một con cọp, trong mộtthời gian và không gian nhất định nào đó, để cho người ấy có thể đi tìm haytránh né. Nhưng người nghe thiếu khả năng tái cấu trúc, hay cấu trúc không mạchlạc để dựng thành một con cọp dị dạng, thì hậu quả thật nguy hiểm cho người đó.

II. QUÁ TRÌNH TÍCHLŨY

Để có khả năng cấu trúcchính xác, cần phải qua một quá trình huấn luyện hay tu dưỡng. Quá trình tudưỡng ấy, các nhà Duy thức gọi là “tiệm thứ ngộ nhập duy thức tánh,” qua nămgiai đoạn:[21] 1. Tư lương vị, chuẩn bị hành trang, những tư liệu cần thiết,gồm phước và trí hữu lậu. 2. Gia hành vị, phân tích và gạn lọc những gì đã tíchlũy trong hành trang. 3. Thông đạt vị, tổng hợp để có một nhận thức tổng quátvề thực tại tối hậu giả định. 4. Tu tập vị, thực nghiệm từng phần hình ảnh đãtổng hợp. 5. Cứu cánh vị, thực nghiệm toàn diện. Đó là Vô thượng Bồ-đề.

Quá trình tu tập ấy cũngtương đương với năm lớp năm hình thái sai biệt của bồ-đề, mà Đại trí độ phântích.[22] Theo đó, thứ nhất, phát tâm Bồ-đề, tâm Bồ-đề được phát khởi của chungsanh đang trôi lăn trong vô lượng sanh tử. Đây chỉ là bồ-đề trong ước nguyện;tâm ấy theo kết quả mong cầu mà gọi, chứ không phải là bồ-đề chân thật. Thứhai, phục tâm bồ-đề, tâm được gọi là Bồ-đề khi các phiền não ô nhiễm bị trấnáp, và thực hành các ba-la-mật; cũng chưa phải là Bồ-đề chân thật. Thứ ba, minhbồ-đề, đó là trí năng sáng suốt quán sát và phân tích tổng tướng và biệt tướngcủa các pháp, nhận thức được thể tánh thanh tịnh rốt ráo và yếu tính chân thậtcủa tồn tại; đây là một phần Bồ-đề. Thứ tư, xuất đáo bồ-đề, do thành tựubát-nhã ba-la-mật, diệt trừ toàn diện các phiền não; trí năng không còn ônhiễm. Thứ năm, Vô thượng bồ-đề, khi đã thành Phật.

Trong kinh điển nguyênthủy, một cách cụ thể, có một loạt yếu tố dẫn đến bồ-đề gọi là 37 thành phầncủa bồ-đề, được chia thành 7 lớp: 4 niệm xứ, 4 chánh cần (đoạn), 4 như ý túc, 5căn, 5 lực, 7 giác chi và 8 chi của Thánh đạo.

Trong Luận tạng, 7 lớpnày đợc hệ thống thành quá trình tu tập trong năm giai đoạn như sau:[23]

1. Sơ nghiệp, trongthuận giải thoát phần, giai đoạn chuẩn bị xuất phát, tức đã chuẩn bị đủ hànhtrang phước và trí hữu lậu. Do đầy đủ phước, nên không thiếu thốn những nhu cầusinh hoạt để có thể chuyên tâm tu tập. Do đầy đủ trí, nên có khả năng tư duyquán chiếu. Căn bản cho mọi thực hành trong giai đoạn này là bốn niệm xứ; vìđối tượng chính để tập trung quán sát là thân và tâm, chiêm nghiệm và kinhnghiêm tính chất vận hành sinh diệt của chúng trong từng sát na do đó mà giácngộ được bản chất của tồn tại.

2. Già hành vị, trongthuận quyết trạch phàn, giai đoạn thực sự quyết định khởi hành, như mũi tên đãđược cắm chặt vào đối tượng, tức đã đủ khả năng tập trung trên bốn Thánh đế,phân tích thành 16 hành tướng hay hình thái hoạt dụng để nhận thức. Giai đoạnnày có 4 lớp:[24]

a. Noãn, năng lực tậptrung quán sát 16 hành tướng của bốn Thánh đế phát sanh tác dụng, tức hơi nóng.Cụ thể như nhà luyện khí công đã có thể tụ khí ở đan điền. Những các nhà Luậnbộ coi đây là sức nóng của trí tuệ do quán chiếu Thánh đế có khả năng làm rủxuống các thứ cây lá mềm yếu trước khi khô và bôc cháy để bị huỷ diệt. Cácphiền não cũng vậy. Ở đây sự tu tập được tăng cường bằng bốn chánh cần.

b. Đảnh, tức đỉnh đầu.Như người luyện khí công, hơi nóng xông lên đỉnh đầu. Đây là năng lực pháttriển cao hơn, tác dụng mạnh hơn của noãn pháp. Ở đây sự tu tập được tăng cườngbằng bốn như ý túc.

c. Nhẫn, giai đoạn pháttriển cao nhất của hơi nóng, là cho cây cối khô héo và ngã rạp xuống hết. Cácphiền não cũng vậy, do năng lực quán chiếu Thánh đế mà bị trấn áp. Ở đây sự tutập được tăng cường bằng năm căn.

d. Thế đệ nhất, một sátna duy nhất tập trung trên một hành tướng khổ duy nhất của Khổ Thánh đế. Sau đóngọn lửa trí tuệ sẽ bùng cháy để đốt cháy những cây cối đã được sấy khô từtrước. Ở đây sự tu tập được tăng tu tập bằng năm lực.

3. Giai đoạn kiến đạo,nhận thức được bốn Thánh đế. Giai đoạn này diễn ra trong 16 sát na, gồm 4 nhẫnvà 4 trí của hạ giới (Dục giới),[25] và tiếp theo là 4 nhẫn và 4 trí do quánsát 4 Thánh đế trên thượng giới (Sắc và Vô sắc giới),[26] loại suy từ bốn Thánhđế hạ giới mà bản thân hành giả đã thực nghiệm. Toàn bộ nhẫn và trí này được hỗtrợ bởi 8 chi của Thánh đạo.

4. Giai đoạn tu đạo,trong Thanh văn thừa, trải ra từ Dự lưu quả cho đến A-la-hán hướng, gồm sáuhạng Thánh giả hữu học. Trong Bồ tát thừa, giai đoạn này bao gồm từ Bồ tát sơđịa, gọi là Hoan hỷ địa, cho đến địa thứ sáu gọi là Hiện tiền địa. Giai đoạnnày được hỗ trợ bằng bảy giác chi. Nhưng trong Thanh văn thừa, cho rằng đãchứng quả A-la-hán, diệt tận phiền não, không còn tái sinh nữa, nên khi nhậpNiết-bàn, không còn thêm đời sống nào nữa. Nhưng các nhà Đại thừa cho rằngNiết-bàn của A-la-hán chỉ là chấm dứt phần đoạn sinh tử chứ chưa phải là biếndịch sinh tử. Cho nên, sau A-la-hán quả, tất yếu, sẽ còn tu tập nữa cho đến khinào thành Phật và nhập Niết-bàn, bấy giời mới là Niết-bàn chân thật. Vì vậy,A-la-hán quả, mà Thanh văn thừa xem là vô học và cứu cánh, các nhà Đại thừa xemchưa phải là cứu cánh và do đó vẫn ở địa vị hữu học. Các nhà Đại thừa bèn xácđịnh lại vị trí của A-la-hán quả. A-la-hán quả có hai bậc, động và bấtđộng.[27] Bậc thấp, tương đương Bồ tát địa thứ bảy: Viễn hành địa. A-la-hán bậcthượng tương đương Bồ tát địa thứ tám: Bất động địa. Từ địa thứ chín trở lên,A-la-hán thuộc hàng “hồi Tiểu hướng Đại” tức trong quá trình chuyển hướng sangĐại thừa.

5. Cứu cánh vị, trongThanh văn thừa, là giai đoạn đắc A-la-hán quả. Trong Bồ tát thừa, là khi đãthành Phật. Đây mới là Bồ-đề chân thật, gọi là Vô thượng Bồ-đề.[28]

III. PHIỀN NÃO TỨC BỒĐỀ

Như trong bước khởi đầu màDuy-ma-cật đã thể hiện, hay thị hiện, trong phẩm “Phương tiện” thứ hai, nhậnthức trước hết được tập trung trên bản chất tồn tại của thân. Bước khởi đầu ấykhông khác với Thanh văn tu tập bốn niệm xứ trong quá trình thành tựu Bồ-đề.Nhưng ở đây khi được Văn-thù hỏi, “Bồ tát làm thế nào để thông đạt Phật đạo;”nghĩa là, làm thế nào để tiến tới thành tựu cứu cánh Vô thượng Bồ-đề, thì trảlời của Duy-ma-cật cho thấy, đó là một quá trình không định hướng. Nói theocách nói thông thường được tìm thấy đa phần trong các kinh điển Đại thừa, Bồtát hành đạo không hướng đến sinh tử, cũng không hướng đến Niết-bàn. Đây chỉ làcách nói để hình dung một thực tại cứu cánh siêu việt tư duy và ngôn ngữ. Trongthực tế hành đạo, nghĩa là trong sinh hoạt đời thường, Bồ tát không tách rờibản thân ra khỏi cộng đồng nhân loại để tự tu tự giác.

Cho nên, khi Thiện Tàithỉnh cầu Bồ tát Văn-thù chỉ dẫn con đường hành Bồ tát đạo, Bồ tátVăn-thù đã không hướng dẫn mơ hồ bằng những ngôn ngữ và khái niệm siêu thực, màvẽ ngay con đường đi cụ thể trong khoảng không gian hữu hạn; đi từ đỉnh Diệucao, dọc theo bờ Nam hải, để cuối cùng đến lâu các của Di-lặc. Đó là cuộc hànhhương trải qua nhiều thiện tri thức, từ không gian hữu hạn đi vào thế giới vôhạn; từ cõi sống đơn độc của Đức Vân trong núi rừng u tịch cho đến cảnh giớitrùng trùng hỗ tương quan hệ của Di-lặc.

Hành trình của Thiện Tàilà đoạn đường của lớp thanh niên trong quá trình tích lũy tri thức. Cuộc sốngcủa Duy-ma-cật là sự thể hiện của nhân cách nghệ sỹ lão thành. Chất liệu đểthành tựu Vô thường Bồ-đề là những nhận thức mỹ cảm được tích lũy. Cho nên, khiVăn-thù và Duy-ma-cật thảo luận về con người, về những giá trị hiện thực củacon người, thì Thiên nữ xuất hiện với những bông hoa thiên giới. Người nghệ sỹnắm bắt thực tại bằng nhận thức mỹ cảm, nhặt vô biên trong một hạt cát, đónvĩnh cửu trong từng khoảnh khắc sát na. Chất liệu để ông làm rung động âm thanhtịnh lạc bằng chính những tiếng khóc, tiếng cười của mọi chúng sinh trong đaukhổ hay hoan lạc, từ trên các tầng trời cao nhất của Vô sắc giới, cho đến cõiđọa đày thống khổ nhất trong địa ngục A-tỳ. Nói cách khác, phiền não tứcBồ-đề.

Đó là ý nghĩa câu trảlời của Duy-ma-cật: “Bồ tát hành phi đạo để thông đạt Phật đạo.”

Nội dung thực tiễn củaphi đạo này được quảng diền thành bảy lớp, tương tự như bảy lớp tu tập trongThanh văn thừa đã thấy trên. Nhưng bảy lớp của Thanh văn là quá trình trìnhtiệm tiếm hướng đến một đích điểm. Bảy lớp trong đây của Duy-ma-cật là nhữngquá trình vừa định hướng vừa không định hướng. Tức là, như một người trong tămtối kinh sợ nỗ lực tìm về ánh sáng; cho đến cuối cùng đạt đến không gian khôngtrụ xứ, như người khi phát hiện ra ánh sáng để thoát ly cõi tăm tối thì cũngđồng thời phát hiện ra rằng thủy chung từ sơ phát cho đến thành tựu vẫn ynguyên trên một điểm. Nói cách khác, về hình tướng thì có đi và có đến, nhưngtrong cứu cánh thì không hề có định hướng sai biệt.

Bảy lớp được trình bàytiệm thứ theo kinh văn như sau:

1. Sáu cõi luân hồi, làmôi trường hay không gian để Bồ tát thâu thập chất liệu tích lũy cho thành tựuBồ-đề. Chỗ này chính là điểm xuất phát của Bồ tát đạo, được nhìn theo quá trìnhtiệm thứ. Kinh nói, “Bồ tát hành vô gián nghiệp mà không sân nhuế.” Giết cha,giết mẹ, giết Thánh nhân, hành động điên cuồng cực kỳ tàn ác ấy hiển nhiên làsự dồn nén quá mức của tâm tư thù hận, oán cừu. Không thể tưởng tượng còn có sựdồn nén khổ đau nào tàn khốc hơn thế nữa. Ngay trong thống khổ cùng cực ấy, tâmBồ-đề bỗng chợt loé lên. Chính lúc ấy nghiệp vô gián là chất liệu của bồ-đề.Tâm Bồ-đề là tâm nguyện mong cầu vô thượng Bồ-đề, để giải thoát cho mình và chovô lượng chúng sinh khác cũng đang chìm ngập trong thống khổng. Như một nghệsỹ, từ trong đọa đày khổ luỵ mà sáng tạo nên các hình tượng mỹ cảm không chỉcho mình cho cả người đời thưởng thức cái hương vị ngọt ngào từ khổ luỵ ấy.

Đó là hành phi đạo trongchốn khổ luỵ nhất. Bồ tát cũng hành phi đạo trên cõi cực kỳ hoan lạc, trên cáccõi trời Sắc và Vô sắc.

2. Ba bất thiện căn:tham, sân, si là phi đạo của Bồ tát. Đó là những gốc rễ của mọi thứ xấu xa, tộiác trong thế gian. Trong quá trình tiệm tiến, sau khi đã phát tâm Bồ-đề, Bồ táttu tập giới định tuệ, nỗ lực trong các phương tiện của Nhị thừa để đè bẹp cácgốc rễ bất thiện. Muốn thế, muốn nhanh chóng thành tựu trong một đời, Bồ tátphải tự bứt mình ra khỏi các thứ ràng buộc xã hội. Nếu một người đơn đọc màmuốn vượt bờ bên này nhiều hiểm nạn để sang bờ bên kia an toàn, người ấy có thểlàm như vậy không chút do dự. Nhưng nếu một người đang có những thân thích bêncạnh cần chăm sóc, cần bảo vệ, tất không thể tự mình vượt bờ như vậy. Nhận thứctừ trạng huống bên ngoài, người ấy đang ở trong tình trạng bất an. Nhưng trongquan hệ nội tâm, trong mối giây ràng buộc với những người mà mình yêu thương,người ấy cảm thấy an tâm. Đây chỉ là mượn hình ảnh quen thuộc nhất để hiểu mộtphần trong ý nghĩa của câu nói của Duy-ma-cật: “Thị hiện hành các tham dục vàlìa các nhiễm trước.” Thí dụ kể trên chỉ gợi ý một phần ngoại diện. Phần sâuthẳm hơn, cần mượn thí dụ khác: với người ngu thì ngọc bích chỉ là viên đácuội. Khi hiểu biết, viên đá cuội ấy có giá trị liên thành. Tự thể của các phápvốn không sanh, không diệt, không cấu, không tịnh, không tăng, không giảm. Chỉkhác nhau do mê và ngộ thôi.

3. Hành ba-la-mậtbằng phi đạo, nghĩa là, Bồ tát không hành bố thí để thành tựu ba-la-mật bằngcách phân phát của cải một cách hào phóng. Tự bộc lộ bản tính mình là con ngườitham lam keo kiệt, nhưng không hề tiếc nuối thân mạng. Trong quá trình tiệmtiến, Bồ tát vượt qua Thanh văn thừa bằng tu hành mười ba-la-mật, mỗi ba-la-mậtthành tựu một Bồ tát địa.

4. Phi đạo qua Nhịthừa: Bồ tát chứng các quả vị của Thanh văn và Độc giác nhưng vẫn không rờibỏ chúng sinh mà thành tựu đại bi.

5. Phi đạo qua giaitầng hạ liệt: Bồ tát xử thế trong thân phận của người thuộc giai tầng hạliệt nhất của xã hội để thể hiện phẩm chất cao thượng nhất.

6. Phi đạo qua giaitầng cao sang: xử thân trong chốn giàu sang quyền quý, có đủ phươngtiện hưởng thụ ngũ dục, để hiển thị bản chất vô thường, hư ảo cuộc cuộc sống.Bồ tát cũng thị hiện làm người nói lắp, trì độn, để thể hiện trí năng sắc bén,biện tài vô ngại.

7. Hiện thân khắpcùng sanh tửmà không rời Niết-bàn; thị hiện Niết-bàn mà không rời sanh tử.

Hành phi đạo như vậy cónghĩa không đi theo con đường chính thống. Đó là thuận theo nghịch duyên màtiến, như người thuyền trưởng tài ba cưỡi lên đầu ngọn sóng là lướt tới. Đócũng là trường hợp Huệ Năng sống chung với đám thợ săn, được phân công giữ lướibắt nai, trong một thời gian mà không bị phát hiện, tự thân cũng không gâynghiệp sát. Điều mà chúng ta nói “phiền não tức Bồ-đề,” khi đối chiếu với sựsống, hay khi sống thực với nó, tự thân hay tự tâm mỗi người phát hiện và thểnghiệm những ý nghĩa sâu thẳm trong những tầng sâu thẳm nhất của thực tại.

IV. CHỦNG TÁNH NHƯLAI

Luận Hiển dương Thánhgiáo[29] thuyết minh ý nghĩa bồ-đề dưới năm hạng mục: chủng tánh, phươngtiện, thời gian, chứng giác và giải thoát.

Về chủng tánh, bồ-đề cóba lớp. Y trên chủng tánh trì độn, tức chậm lụt, mà thiết lập bồ-đề của Thanhvăn. Y trên chủng tánh trung bình, thiết lập bồ-đề của Độc giác. Y trên lợi cănmà thành Vô thượng Bồ-đề.

Về phương tiện, Thanhvăn thành tựu Bồ-đề do phương tiện thiện xảo trong sáu xứ.[30] Độc giác dophương tiện thiện xảo về quán chiếu duyên khởi tánh. Vô thượng bồ-đề do phươngtiện thiện xảo về ngũ minh.[31]

Về thời gian, bồ-đềThanh văn được chứng đắc do tu tập ít nhất trải qua ba đời, tức ba lần táisanh. Bồ-đề của Độc giác do tu hành qua một trăm đại kiếp. Vô thượng Bồ-đề trảiqua ba đại a-tăng-kỳ kiếp.

Về chứng giác, Bồ-đề củaThanh văn do Thầy chỉ dẫn. Bồ-đề của Độc giác do phát thệ tự lợi, chứng giáckhông nhờ Thầy. Vô thượng chánh đẳng Bồ-đề, đủ tự lợi và lợi tha, chứng giácbằng vô sư trí.

Về giải thoát, Thanh vănBồ-đề và Độc giác Bồ-đề sở chứng chuyển y, giải thoát phiền não chướng, thuộcgiải thoát thân.[32] Vô thượng Bồ-đề sở chứng chuyển y là giải thoát cả phiềnnão chướng và sở tri chướng, gồm đủ cả giải thoát thân và pháp thân.

Chủng tánh tức tộchọ,[33] tập hợp của những người cùng chung một tổ phụ. Trong mỗi tộc họ cònphân thành nhiều nhánh dựa trên sự thuần chủng của huyết thống không lai tạptrong nhiều đời. Như Đức Thích tôn thuộc tộc họ tức chúng tánh Cù-đàm, nhánhhuyết thống họ Thích-ca.[34]

Trong xã hội tổ chức cógiai cấp, hoạt động chức nghiệp là căn cứ để phân chia thứ bậc trong xã hội, vàtừ thứ bậc đó mà phân chia quyền lợi. Nhưng sự kế thừa quyền lợi thì dựa trêntộc họ và huyết thống. Để bảo đảm quyền lợi và địa vị xã hội, nhiều quy ước đượcđặt ra làm rào cản ngăn cách giữa các thành phần xã hội, như rào cản phân chiabò thành từng đàn, và từng chuồng để tiện quản lý.

Cơ cấu tổ chức xã hội ấycũng được phản ánh trong các cộng đồng đệ tử Phật. Sự phản ánh này không phảiđể hình thành những tổ chức của Phật tử, mà chỉ được xử dụng để giải thích sựsai biệt trong cứu cánh chứng đắc của những người tu tập. Chẳng hạn, theo quyước xã hội, một người thuộc dòng họ Chiên-đà-la không thể làm vua được, cũngvậy, vì sao có người chỉ có thể chứng đến A-la-hán là cứu cánh, mà không thểchứng quả cao hơn nữa, như thành Phật? Đó là do sự sai biệt về chủng tánh.Trong kinh Lăng-già,[35] Phật y trên năm hạng chủng tánh mà thành lập năm thừa:chủng tánh Thanh văn thừa, Bích-chi-phật thừa, Như lai thừa, bất định thừa, vàvô tánh. Hạng chủng tánh bất định, là không nhất định sẽ chứng thừa nào, mà tùytheo điều kiện ban đầu; gặp nhân duyên với thừa nào thì phát tâm và thành tựucứu cánh trong thừa đó. Hạng vô chủng tánh, mà kinh gọi là nhất-xiển-đề,[36] làhạng không có chủng tánh Niết-bàn.

Cũng như trong một tộchọ còn phân thành nhiều nhánh huyết thống, cũng vậy, luận Du-gia sư địa[37]phân chủng tánh Bồ tát thành nhiều nhánh khác nhau, cơ bản y trên sự thực hànhsáu ba-la-mật. Với Bồ tát chuyên hành bố thí, lập thành chủng tánh tướng của Bồtát về bố thí ba-la-mật.[38]

Khi được Duy-ma-cật hỏivề chủng tánh của Như Lai, Văn-thù trả lời, mà trên tổng thể, hết thảy cácphiền não, ác, bất thiện, đều là chủng tánh Phật. Chủng tánh ở đây cũng đồngnghĩa với chủng tử, hay hạt giống.[39] Do đó, Văn-thù nêu thí dụ, như hoa senchỉ có thể mọc lên trong chốn bùn sình thấp trủng, chớ không thể trên các caonguyên được. Tất nhiên là Phật tánh tồn tại bình đẳng trong tất cả chúng sinhkhông phân biệt cao thấp, nhưng trong một mức độ nào đó, điều kiện thuận tiệnnhất để Phật tánh được phát hiện là trong những chốn tối tăm cùng khổ, nơinhững chúng sinh còn bị chất nặng bởi các thứ phiền não, bất thiện.

Nếu câu trả lời củaVăn-thù được hiểu trong ý nghĩa xã hội học, tức chủng tánh như là những tầnglớp xã hội, thì câu trả lời ấy hàm ngụ ý nghĩa cách mạng dân chủ hiện đại rấtbất ngờ. Bởi vì người ta không do theo dòng họ huyết thống mà đi tìm quốc chủ.Trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, các bậc nhân chủ thường xuất hiện từ đámngười cùng khổ. Đây không phải là điều chúng ta cưỡng gán ý nghĩa cho kinh. Từchương mở đầu, kinh đã nêu lên tông chỉ là tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúngsinh. Vậy thì, ý nghĩa chủng tánh như đã thấy cần được hiểu trong nội hàm xãhội học của nó.

Trong nhận thức như vậy,ý kiến của Ma-ha Ca-diếp có tính chất khích lệ đặc biệt. Ý kiến ấy cũng nêu lênmột tinh thần bảo thủ, mà kinh Pháp hoa gọi là tăng thượng mạn. Các bậc đã ởtrong hàng ngũ chánh vị, trong hàng Thánh giả của Thanh văn, các ngài không còncó ý tưởng tiến hướng đến cứu cánh cao hơn nữa.

V. QUYẾN THUỘC CỦA BỒTÁT

“Giết cha, giết mẹ, giếtcả hai vua, hủy diệt cả một vương quốc cùng với tất cả tùy thuộc của nó, Thánhnhân ra đi không tiếc nuối.” [40] Đó là sự môt tả một cách tượng hình về ý chívượt bỏ thế gian mà dưới một góc nhìn nó không kém phần khốc liệt, hoặc bitráng. Mấy nghìn năm sau, những người học Phật vẫn còn mường tượng lung linhhình ảnh bi tráng của một thanh niên vương giả, nữa đêm giựt cương tuấn mã vượtbỏ hoàng thành, bỏ lại đằng sau cả quãng đời niên thiếu, với mái tóc còn đennhánh, với khí huyết cường thịnh của thời thanh xuân, bỏ lại cha mẹ đầm đìanước mắt trong ưu tư sầu muộn, và bỏ lại tất cả thần dân của một vương quốc. Bồtát từ bỏ thế gian để đi tìm lẽ Chí thiện cho thế gian, tìm đạo lộ an ổn tốithượng cho thế gian. Khi bánh xe Chánh pháp bắt đầu được vận chuyển, thay vìbánh xe chinh phục và thống trị của Chuyển luân đại đế, thông điệp lịch sử đãđược ban truyền: “Cắc ngươi hãy lên đường... vì an lạc của chư thiên và nhânloại.”

Một hình tượng thânthiết khác, Thiện Tài Đông tử, hiện thân của ước nguyện học hỏi không cùng tận,một mình lữ hành cô độc đi tìm thiện tri thức, “như cánh nhạn lẻ loi giữaphương trời vạn dặm,” trong thế giới trùng trùng vô tận của Hoa nghiêm. Hành Bồtát đạo, lăn lóc trong sáu nẻo luân hồi, tự trong sâu thẳm, vẫn là hình ảnh côđộc như như một tỳ kheo ẩn mình trong núi rừng u tịch, lang thang với ba y vàbình bát như chim mang theo hai cánh.

Bồ tát ấy cô độc trênbước đi nhưng có rất nhiều quyến thuộc, thân hữu để mà đến. Khi mà tâm nguyệnmới chớm phát, gốc rễ chưa bền chắc, sư trưởng, thiện tri thức là nguồn cổ vũcần thiết cho sức mạnh làm hành trang chính yếu để lên đường. Trên bước đườngtâm cầu thiện tri thức, tuy chỉ một mình một bóng, nhưng chính sức mạnh đã đượctrang bị từ đầu ấy càng lúc càng mạnh, khiến cho nguồn cổ vũ, tức là nguyênnhân tác động để cho gốc rễ Bồ-đề, càng lúc càng bền chặt. Cho đến một lúc, Bồtát ấy, với sơ phát tâm đã được bền chặt, tự thấy mình luôn luôn đi giữa quyếnthuộc với những mối quan hệ thân thiết mà không dẫn đến hệ lụy, trói buộc. Đólà lúc Bồ tát phát hiện ra rằng mình thuộc về gia tộc Như lai. Gia tộc Như lailớn, nên quyến thuộc đông đảo.

Luận Du-già[41] nói: Bồtát thuộc hạng sơ phát tâm kiên cố có hai sự việc hiếm có mà thế gian không thểcó được: Thứ nhất, nhận hết thảy chúng sinh đều là quyến thuộc của mình.[42]Thứ hai, không bị tác động xấu bởi sự tăng ích hay tổn hại của chúng sinh dẫnđên tình trạng phục tùng hay bất mãn chống đối. Bấy giờ là lúc Bồ tát mà sơphát tâm đã bền chắc tự thấy có năng lực bảo bọc hết thảy chúng sinh, ôm trọnhết thảy chúng sinh trong vòng tay bảo bọc của mình, như trưởng đoàn tự thấy cótrách nhiệm ràng buộc với sự an nguy của cả thương đoàn trên đoạn đường vượtqua hoang mạc nguy hiểm.

Cho nên, như Kinh văncho thấy, sau khi Văn-thu và Duy-ma-cật trao đổi về ý nghĩa thế nào là chủngtánh của Như lai, tức gia tộc Như lai, và sau khi Đại Ca-diếp xác nhận nguồngốc của dòng hj lớn ấy, bấy giờ trong đại chúng có vị Bồ tát tỏ ý muốn biếtquyến thuộc của Duy-ma-cật, được đáp: “Bát-nhã ba-la-mật là mẹ của Bồ tát.Phương tiện thiện xảo là cha của Bồ tát. Pháp hỷ là vợ. Từ và bi là hai ngườicon gái. Chân lý, và pháp, là hai người con trai. Nhà, là tư duy với đối tượngtrống không....”

Trong ý nghĩa nghĩaquyến thuộc được đề cập ở đây, đời sống của Bồ tát trong quan hệ nhân sinh vànghĩa vụ của mình đối với nhân sinh, được nhìn từ trên hai mặt tương phản: trừutượng và cụ thể, tức lý và sự. Với Bồ tát tuy sơ phát tâm nhưng tâm bồ đề đãbền chặt, ý nghĩa đời sống duy nhất là huệ mạng, mà phụ mẫu sinh thành là trítuệ và phương tiện. Mặt khác, nhìn từ thế giới của sự, Bồ tát sinh vào thế giớinày có cha, có mẹ như tất cả chúng sinh khác. Cho đến khi tâm tư Bồ tát đượctrưởng thành bởi nuôi dưỡng bằng dưỡng chất Bồ đề, khi ấy Bồ tát nhìn thấy chamẹ phàm phu kia chính là hiện thân của phương tiện và trí tuệ. Đã đến lúc Bồtát có thể thăng hoa thực tại tầm thường ô nhiễm này lên thành thể tính thanhtịnh, do vậy mới phát hiện mình là thành viên của gia tộc Như lai.

* Các bản Hán, phẩmviii, Chi Khiêm: “Như lai chủng”; La-thập: “Phật đạo”; Huyền Trang: “Bồ-đềphần”; VKN: Tathāgatagotraparivartaṃ saptamaḥ (phẩm vii: “Chủng tộc Nha lai); Tạng: debzhin gshég paḥi rigs kyi leḥu ste bdun paḥo.

[1] Dhp. 85, appakā temanussesu, ye janā pāragāmino/ athāyaṃ itarā pajā tīram evānudhāvati.

[2] Hoa nghiêm 4 (bản40 quyển; T10n293, tr.679b6).

[3] Vedānta-sūtra i.1.

[4] Aggañña-sutta,D.ii. 94. Hấn, Trường A-hàm 6, kinh Tiểu duyên (T1n1, tr.38c4).

[5] Pali, jhāyaka,người dạy học, được kinh nêu nguyên gốc như sau: trước đó, họ vào rừng tư duythiền tứ nên họ được gọi là các thiền giả hay các nhà tư duy. Sau đó, họ bỏ rừng,không thiền tứ nữa, mà để giảng sách. Vì bỏ tư duy, nên họ được gọi la “Bấtthiền giả” (te...jhāyantīti kho vāseṭṭha jhāyakā... na dānime jhyantīti... ajhāyakā.Aggañña-sutta, D.i.94). Từ Pali jhāyaka là dạng hỗn chủng của Skt. adhyāyaka,do động từ căn adhi-I; quan sát, nhận thức, ghi nhớ; tụng đọc.

[6] Phật nhận xét,“Vào thời xưa ấy, họ được cho là thấp hèn. Nay họ được coi là cao thượng.”(hīnasammataṃ kho pân vāseṭṭha tena samayena hoti, tadetarahi seṭṭhasammataṃ, ibid.).

[7] Pháp cú, –yāvadeva anatthāya ñattaṃ bālassa jāyati/ hantibālassa sukkaṃsaṃ, nuddham assa vipātayaṃ. Dhp. 72.

[8] Hoa nghiêm 35 (40quyển; T1n293, tr.824a17).

[9] Cf. Kośa,vii k. 7: kṣayajñānaṃ hi satyeṣu parijñātādiniśrayaḥ/ na parijñeyam ity ādir anutpādamatir matā//Tập dị môn luận 3 (T26n1536, tr.376a18): “Tận trí là gì? Biết như thật rằng, Tađã biết Khổ, đã đoạn Tập, đã chứng Diệt, đã tu Đạo...Vô sanh trí là gì? Biếtnhư thật rằng, Ta đã biết Khổ rồi không còn gì để biết thêm nữa. Đã đoạn Tập, chứngDiệt, tu Đạo...Lại nữa, như thật biết Ta đoạn tận dục lậu, hữu lậu, vô minhlậu; đó là tận trí... Như thật biết chúng đã đoạn tận không còn sanh khởi trởlại nữa, đó là vô sanh trí...”

[10] Câu-xá 25(T29n1558, tr.132b4): “Tận trí (Skt. kṣaya-jñāna), vô sanh trí (Skt. anutpāda-jñāna),được gọi là giác (bodhi). Tùy theo giác giả mà biệt lập ba hạng bồ đề: Thanhvăn, Độc giác, Vô thượng bồ đề. Do vô minh tùy miên vĩnh viễn bị đoạn trừ, vànhư thật biết những gì cần làm đã làm xong, không còn gì cần phải làmnữa.” Xem Đại trí độ 53 (T25n1509, tr.436b5): “Bồ đề có ba bậc: A-la-hán,Bích-chi-phật, và Phật. Trí tuệ của bậc vô học thanh tịnh không cấu nhiễm, nênđược gọi là bồ-đề. Trí tuệ của Bồ tát tuy có vĩ đại nhưng tập khí của các phiềnnão chưa dứt trừ sạch nên (trí ấy) chưa được gọi là bồ đề.

[11] Skt. samanāntara:đẳng vô gián.

[12] Skt. ahaṅkāra, thường được dịch là ngã mạn, để phânbiệt với ātman.

[13] Skt. buddhi.

[14] Skt. mahat. Kimthất thập luận (T54n2137, tr.1250c16): “Đại, là quyết trí. Thế nào là quyết trí(adhyavasāya)? Tri giác rằng vật này là cái chướng ngại, vật này là con người;tri giác như vậy được gọi là quyết trí.”

[15] Skt. ahaṅkāra; ibid., từ tự tánh (prakṛti) sinh đại (mahat) hay giác (buddhi). Từ đạisinh ngã mạn (ahaṅkāra), Ngã mạn sinh 5quan năng nhận thức (pañca-jñānendriya), 5 quan năng hành động(pañca-karmendriya).

[16] ibid., 1250c19.

[17] Các nhà Duy thứcnói họ phát hiện Phật ngụ ý A-lại-da trong một đoạn kinh mà các nhà Tiểu thừakhông thấy. Nhiếp Đại thừa luận bản (T31n1594, tr.134a18): “Như trong Tăng nhấtA-cấp-ma của Tiểu thừa có nói: chúng sinh ái a-lại-da, hân a-lại-da, lạca-la-da, hỷ a-lại-da. Vì để đoạn trừ a-lại-da ấy (mà Phật diễn thuyết Chánhpháp).” Đoạn dẫn có thể tìm thấy Pali tương đương, Ariyapariyesana-sutta,M.i. 168: ālayarāmā kho panāyaṃpajā ālayaratā ālayasammuditā.

[18] Giải thâm mật 1(T16n676, tr.692c22): “A-đà-na (tên khác của A-lại-da) thậm thâm vi tế; trongđó chủng tử như dòng thác chảy xiết.”

[19] Câu-xá 13,T29n1558, tr. 67c10.

[20] Duy thức tam thậptụng, tụng 27: hành giả dựng lên trước mình một đối tượng nào đó và gọi nó làDuy thức tánh. Nhưng vì là có sở đắc cho nên hành giả không thật sự là an trụnơi Duy thức. Cf. Triṃśatikā, k. 27:vijñaptimātimātram evedam ity api hy upalambhataḥ/ sthāpayann agrataḥ kiṃ cit tanmātre nāvatiṣṭhate: tuy nói rằng đây là Duy thức tánh, nhưngdo bởi là đối tương được nắm bắt, nên dù đặt nó trước bất cứ cái gì, vẫn chưaphải là an trụ trong Duy thức tánh.

[21] Thành duy thức 9(T31n1585, tr.48b24).

[22] Đại trí độ 53(T25n1509, tr.438a3).

[23] Câu-xá 25(T29n1558, tr.132c20). Cf. Kośa vi. k. 70: ādikarmika-nirvedhabhāgīyeṣu prabhāvitāḥ/ bhāvane darśane caiva sapta vargayathākramam/ chúng được chia thành 9 phẩm the thứ tự hiển thị trong sơ nghiệp,trong thuận quyết trạch phần, trong tu đạo và kiến đạo.

[24] Câu-xá 23(T29n1558, tr.119b11).

[25] Bốn nhẫn: Khổpháp trí nhần (duḥkhe dharmajñānakṣānti): kinh nghiệm dẫn đến nhận thứ sự khổtrong hiện thực, cho đến Đạo pháp trí nhẫn. Bốn trí: Khổ pháp trí (duḥkhe dharmajñā): nhận thức hiện thực về sự khổ.

[26] Thượng giới, bốnnhẫn: Khổ loại trí nhẫn (duḥkheanvayajñānakṣānti): kinh nghiệm dẫnđến nhận thức sự khổ bằng loại suy; cho đến Đạo loại trí nhẫn. Bốn trí: Khổloại trí (duḥkhe anvayajñāna): nhậnthức sự khổ do loại suy; cho đến Đạo loại trí.

[27] Câu-xá 25(T29n1558, tr.129b3): “(A-la-hán thuộc hạng bất động: akopyadharma) Đây gọi làbất động tâm giải thoát; vì không bị thối động và tâm giải thoát. Cũng gọi làbất thời giải thoát (asamayavimukta), vì giải thoát và không đợi thời gian.Nghĩa là, bất cứ khi nào muốn, tam-muội liền hiện tiền, không chờ phải hội dủcác điều kiện hoàn cảnh.”

[28] Đại Tỳ-bà-sa 176(T27n1545, tr.886c9): “Có một số các hữu tình, chỉ bằng bố thí một nắm cơm, mộttấm áo, ..., mà đã bằng sư tử hống tuyên bố, ‘Ta nhân đây mà nhất định sẽ thànhPhật.’ Đó không phải là Bồ tát chân thất, mà là Bồ tát tăng thượng mạn. Tuy đãtrải qua ba vô số kiếp, tu đủ các khổ hạnh khó hành, nhưng nếu chưa tu tập diệutướng nghiệp thì vẫn chưa thể tuyên bố ‘Ta là Bồ tát (chân thật).’ Cho nên,Bồ-tát tuy đã qua tròn một vô số kiếp thứ nhất, tu tập đầy đủ các khổ hạnh khóhành nhưng vẫn chưa tự biết một cách xác định ‘Ta sẽ thành Phật.’ Qua vô sốkiếp thứ hai tuy đã có thể tự biết một cách xác định rằng sẽ thành Phật, nhưngchưa đủ can đảm, chưa đủ vô uý để phát ngôn rằng ‘Ta sẽ thành Phật.’ Cho đênhết vố số kiếp thứ ba, đã tu tập đầy đủ diệu tướng nghiệp, đã có thể tựbiết một cách xác quyết rằng ‘Ta sẽ thành Phật,’ và cũng đủ vô uý để phátsư tử hống mà tuyên bố rằng ‘Ta sẽ thành Phật;’ cho đến khi ấy mới được gọi làBồ tát (chân thật).” Tham chiếu Đại trí độ 4 (T25n1509, tr.86b11): “Bồ-đềtát-đỏa (bodhi-sattva) có hai hạng, Bệ-bạt-trí (vivartika, thoái chuyển) vàA-bệ-bạt-trí (avivartika, bất thoái chuyển)... A-bệ-bạt-trí bồ-đề-tát-đỏa, đómới là chân thật Bồ-tát.”

[29] Quyển 7(T31n1602, tr.516b17).

[30] Tức y trên sáucăn mà quán sát tu tập. Cf. Du-già sư địa 21 (T30n1579, tr.395c24): tự thể củachủng tánh Thanh văn y trên sáu xứ. Giải thích của Tuần Luân, Du-già luận ký 6(T42n1828, tr.431a12): “Chủng tử của Thanh văn không có hình thái nào khácngoài sáu xứ. Tức chính phần vị thù thắng của sáu xứ nơi chủng loại của thân màcó chủng tử.”

[31] Skt. pañcavidyāsthānāni, năm ngành học thuật: 1. thanh minh (śabda-vidyā), ngôn ngữ học;2. nhân minh (hetu-vidyā), luận lý học; 3. nội minh (adhyātma-vidyā), triếthọc; 4. y phương minh (cikitsā-vidyā), y học; 5. công xảo minh(śilpasthāna-vidyā), nghệ thuật.

[32] Một trong ba thântheo kinh Giải thâm mật. Bản thân mà Thanh văn và Độc giác thành tựu do chuyểny (parivṛttāśraya), gọi là giảithoát thân. Giải thâm mật 5 (T16n676, tr.708b23): “Do Giải thoát thân nên nóihết thảy Thanh văn và Độc giác cùng với các Như Lai bình đẳng bình đẳng không saibiệt; do Pháp thân mà nói có sai biệt.”

[33] Skt. gotra.

[34] Cf. Sn. 423:ādiccā nāma gottena, sākiyā nāma jātiyā, chủng tánh là Nhật thân, huyết thốnglà Thích-ca.

[35] Nhập Lăng già 2(bản 10 quyển; T16n0671, tr.526c8). Laṅkāvatāra, Nanjio tr. 64: pañca abhisamayagotrāṇi...śrāvakayānābhisamayagotraṃ, pratyekabuddha-, tathāgata,anitya-taikataragotraṃ agotram.

[36] Dẫn trên,tr.527a29: “Nhất-xiển-đề là hạng không có niết-bàn tánh. Hạng này không có tíntâm để tin rằng có sự giải thoất nên không hề có ý hướng về sự nhập niết-bàn.”Nhóm chủng tánh này cũng được chia thành hai nhánh: nhánh đoạn thiện căn dokhông có một chút gốc rễ thiện gì để có thể tin tưởng có giải thoất vàNiết-bàn. Nhánh thứ hai, Bồ tát do đại bi nên vĩnh viễn không hề có ýhướng Niết-bàn. Skt. ibid., tr. 66: icchantika.

[37] Quyển 35(T30n1579, tr.479a11).

[38] Ibid., tr.479a11, về chủng tánh tướng (Skt. gotra-liṅga: dấu hiệu chủng tánh) y theo sáu ba-la-mật.

[39] Dẫn thượng, tr.478c18 :”Chủng tánh (gotra) ở đây cũng hiểu là chủng tử (bīja), là giới(dhātu), là tánh (prakṛti).” Trong học thuyếtDuy thức, chủng tử là công năng tiềm thế, khi đủ duyên thì phát khởi hiện hành.

[40] Dhp. 294. Mātaraṃ pitaraṃ hantvā, rājāno dve ca khattiye; raṭṭhaṃ sānucaraṃ hantvā, anīgho yāti brhmaṇo.

[41] Du-già 35, tr.482a7.

[42] Bodhisattvabhūmi,p. 12. sarvasattvāṃśca kaḍatrabhāvena parigṛhṇāti.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn