Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

108. Kinh Gopaka Moggallàna

19/05/202011:27(Xem: 9276)
108. Kinh Gopaka Moggallàna

TAM TẠNG THÁNH KINH PHẬT GIÁO

TẠNG KINH (NIKÀYA)
Thi Hóa
TRUNG BỘ KINH

( Majhima  Nikàya )


Tập IV
Hòa Thượng THÍCH MINH CHÂU
Dịch sang tiếng Việt từ Tam Tạng Pàli

Chuyển thể Thơ :

Giới Lạc  MAI LẠC HỒNG  tự TUỆ NGHIÊM

 ( Huynh Trưởng Cấp Tấn  - GĐPTVN tại Hoa Kỳ )

Email : [email protected]


108. Kinh  GOPAKA MOGGALLÀNA

( Gopakamoggallàna sutta )

 

Như vậy, tôi nghe :

 

          Một thời, A-Nan-Đa Tôn-giả  (1)

          Trú Vương Xá – Rá-Chá-Ga-Ha  (2)

              Ở tại Vê-Lú-Va-Na (2)

       Trúc Lâm Tinh Xá cũng là nơi đây

          Chỗ hằng ngày nuôi dưỡng loài sóc

          Khi Phật đã nhập diệt không xa.

 

              Bấy giờ vua Ma-Kiệt-Đà  (3)

       A-Chá-Sát-Tú (3) nghi Pa-Chô-Tà  (4)

        (Đăng Quang Vương) tràn qua quốc độ

          Nên cho xây kiên cố thành trì

              Ra-Cha-Ga-Ha tức thì.

 

       Buổi sáng, Tôn-giả đắp y chỉnh tề

     __________________________

 

(1) : ANANDA  hay A-Nan  là con Hộc-Phạn Vương ( Sukodana – 

em Vua Tịnh Phạn - Suddhodana ), tức là em chú bác với ĐứcPhật 

  Xuất gia cùng với 6 vị vương-tử giòng Thích Ca khi đức Phật về 

  thăm lại Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavatthu ) lần đầu tiên sau khi thành

  đạo . Tôn-giả là vị Thị giả hầu cận trung tín của ĐứcPhật suốt 30

  năm trung-giác-thời và hậu-giác-thời của Phật .    ( 15 năm tiền-

  giác-thời, đức Phật chưa có vị  thị giả nào nhất  định và chính

  thức ) .

 

(2) : Trúc Lâm Tinh Xá ( Veluvanavihàra ) tại Thành Vương Xá

  ( Rajagaha ) của vương quốc Magadha ( Ma-Kiệt-Đà ).

 

(3) : Vua nước Ma-Kiệt-Đà lúc này là Ajatasattu ( A-Xà-Thế ).

 

(4) : Vua láng giềng Magadha là  Pajjota  (Đăng Quang Vương).

 

          Mang bát, đi hướng về Vương Xá

          Để khất thực. Tôn-giả bỗng nhiên

              Suy nghĩ trong sự tương liên :

    “ Còn quá sớm để hóa duyên như vầy

          Tại Vương Xá. Ta nay trực chỉ

          Đến Phạm-Chí tên Gô-Pá-Ka

              Thuộc họ Mốc-Gá-La-Na

       Thăm chỗ làm việc ông ta gần nhà ”.

 

          Rồi ngài A-Nan-Đa đến chỗ

          Phạm-chí Gố-Pa-Ká không xa.

              Bà-la-môn Gô-Pá-Ka

       Thấy Tôn-giả A-Nan-Đà từ xa

          Đang đến nhà mình, liền hoan hỷ

          Nói với vị Tôn-giả Đa Văn : 

 

        – “ Hãy đến, Tôn-giả A-Nan !

       Thiện lai. Tôn-giả A-Nan ! Lâu rồi

          Ngài mới đến tại nơi này đó !

          Một cơ hội hiếm có như vầy.

              Tôn-giả xin hãy ngồi đây

       Chỗ đã soạn sẵn để ngài ngồi an ”.

 

          Vị Tôn-giả A-Nan đi thẳng 

          Ngồi xuống chỗ đã sẵn soạn ra,

              Còn Bàn-môn Gô-Pa-Ka

       Lấy một ghế thấp ngồi qua gần ngài.

          Bàn-môn liền thưa ngay tự sự :

 

    – “ Có thể chăng, Phích-Khú thực hành 

              Một cách trọn vẹn tựu thành

       Một cách đầy đủ pháp lành sâu xa

          Mà Ngài Gô-Ta-Ma thuở trước

          Đã đạt được, thành bậc Thế Tôn ?

        – “ Không như thế, này Bàn-môn !

       Không thể có một Sa-môn nào mà

          Thành tựu qua một cách hoàn hảo,

          Đầy đủ, thấu tất cả pháp môn

              Mà bậc La-Hán, Thế Tôn,

       Chánh Đẳng Chánh Giác viên thông tựu thành.

          Thế Tôn, bậc tịnh thanh từ ái,

          Làm khởi dậy con đường trước đây

              Chưa hề được hiện khởi, hay

       Làm cho biết con đường này, từ xưa

          Vốn dĩ chưa ai từng được biết.

          Nói chi tiết về con đường này,

              Là bậc hiểu đạo, biết ngay,

       Thiện xảo về đạo, đức tài lành thay !

          Các đệ tử do Ngài dạy bảo

          Những vị sống hành đạo, tùy hành

              Các pháp ấy sẽ tựu thành ”.

 

       Nhưng cuộc nói chuyện thình lình cắt ngang 

          Giữa Tôn-giả A-Nan với gã

          Gô-Pa-Ká Mốc-Gá-La-Na.

              Bởi vì Vát-Sá-Ka-Ra

       Đại thần của Ma-Ga-Tha nước này

          Đi thị sát nơi đây tuần tự

          Các công sự Ra-Chá-Ga-Ha,

              Ghé công trường Gô-Pa-Ka

       Gặp Tôn-giả A-Nan-Đa nơi này.

 

          Nói với ngài những lời chào hỏi

          Sau khi nói lời xã giao trên,

              Ông liền ngồi xuống một bên  

       Hướng đến Tôn-giả, thưa lên rõ ràng :

    – “ Thưa Tôn-giả A-Nan ! Câu chuyện

          Tôn-giả hiện đàm luận là gì ?

              Bị gián đoạn câu chuyện chi ? ”.

 

 – “ Này ông Phạm-Chí ! Hiện thì xảy ra

          Do ông Gô-Pa-Ka Phạm-chí

          Tức là vị Mốc-Gá-La-Na

              Đã hỏi tôi về chuyện là :

       Một Tỷ Kheo có trải qua tựu thành

          Thật trọn vẹn, tựu thành đầy đủ

          Các pháp tự Tôn Giả Kiều Đàm

              Bậc Chánh Đẳng Giác hoàn toàn

       Đã được thành tựu nghiêm trang sâu dày ”.

          Rồi Tôn-giả trình bày căn bản

          Những điều mình đã giảng giải ra.

 

              Đại thần Vát-Sá-Ka-Ra

       Hỏi Tôn-giả A-Nan-Đa như vầy :

 

    – “ Thưa Tôn-giả ! Khi ngài Thiện Thệ  

          Gô-Ta-Ma tại thế, có chăng

              Một vị trong Tỷ Kheo Tăng

       Được Ngài sắp đặt truyền đăng như vầy :

         ‘Chính vị này, khi Ta diệt độ

          Sẽ là chỗ nương tựa của Tăng,

              Cho nên các ông phải hằng

       Y chỉ nơi vị này bằng lòng tin ? ”.

 

    – “ Này Bàn-môn ! Sự tình như vậy

          Đã không xảy ra với Tăng-Già

              Không một Tỷ Kheo nào, mà

       Được đức Chánh Giác, Phật Đà, Thế Tôn,

          Bậc Tri-giả, viên thông Kiến-giả

          A-La-Hán đạo quả sâu xa

              Chỉ định thay đấng Phật Đà

       Khi Ngài tịch diệt, sẽ là người thay

          Và vị này là chỗ y chỉ

          Của toàn thể Tăng Sĩ Tỷ Kheo ”.

 

        – “ Thưa Ngài ! Có một Tỷ Kheo

       Được Chúng Tăng thỏa thuận theo họp bàn,

          Được các hàng Tỷ Kheo Trưởng Lão     

          Sắp đặt, bảo : “ Chính là vị này

              Sau diệt độ của Như Lai

       Sẽ là chỗ nương dựa, thay Phật-Đà

          Và chúng ta y chỉ vị ấy ? ”.

 

    – “ Này Phạm-Chí Vát-Sá-Ka-Ra !

              Không có việc ấy xảy ra ”.

 

 – “ Thưa Tôn-giả A-Nan-Đa ! Như vầy

          Không có ngay chỗ để y chỉ.

          Vậy Quý vị do có nhân gì

              Có thể hòa hợp mọi thì ? ”.

 

 – “ Này Phạm-Chí ! Không phải vì thế nên

          Chúng Tỷ Kheo dưới trên từ đó

          Đã không có chỗ để dựa nương.

              Chính Pháp vô thượng vô lường

       Là chỗ Tăng Chúng dựa nương, hợp hòa ”.

 

     – “ Tôn-giả A-Nan-Đa ! Trước đó

          Tôi hỏi có Tỷ Kheo nào mà

              Được Tôn Giả Gô-Ta-Ma

       Chỉ định thay lúc Phật qua Niết Bàn.

          Hay vị nào được hàng Trưởng Lão

          Cùng Chúng Tăng vị đạo cử ra

              Một vị Tỷ Kheo tài ba

 

       Làm chỗ y chỉ, Tăng-Già dựa nương.

          Tôi lại hỏi với phương thức đó

          Sao Quý vị lại có hợp hòa ?

              Tôn-giả lại trả lời là

       Pháp Bảo là chỗ Tăng-Già dựa nương ?

          Xin Tôn-giả tận tường giảng giải

          Ý nghĩa lời nói ấy thế nào ? ”.

 

        – “ Này Bàn-môn ! Căn cứ vào

       Những gì mà Phật trước sau chỉ bày

          Bởi vì Ngài, bậc Chánh Đẳng Giác

          Tri & Kiến-giả, là bậc Thế Tôn

              Thiết lập học-pháp viên thông

       Tuyên bố nên chúng tôi tôn quý vào.

          Giữa chúng tôi, vị nào có đủ

          Mười Pháp, mà căn cứ điều này

              Thời chúng tôi cung kính ngay,

       Tôn trọng, lễ bái vị đây, kính nhường

          Và cúng dường, an trú, nương cậy

          Nơi vị ấy. Sao gọi là Mười ?

              Bàn-Môn ! Vị ấy là người

  *  Tỷ Kheo giới hạnh mọi nơi, sớm chiều,

      *  Sống chế ngự với điều chế ngự    

          Của giới bổn Pa-Tí-Mốc-Kha  (1)     

          *  Đầy đủ oai nghi, cùng là

       Chánh hạnh nghiêm túc. Thấy là hiểm nguy

          Trong những lỗi tế vi, nhỏ nhặt

          Khi thọ trì, học tập pháp phần.

          *  Vị ấy là bậc Đa văn  

   ________________________

 

(1) : Giới bổn Patimokkhasamvarasìla :

                                                Biệt biệt giải thoát thu thúc giới. 

       Nghe nhiều học rộng, chánh chân thọ trì

          Những điều gì đã nghe, cất giữ

          Những điều tự mình đã nghe qua.

              Những pháp Sơ thiện, cùng là

       Trung thiện, Hậu thiện, văn và nghĩa đây.

      *  Nêu Phạm hạnh đủ đầy, thanh tịnh.

      *  Những pháp chính mình đã nghe nhiều

              Được thọ trì, lời nói đều

       Làm cho quen thuộc, ý đều nghĩ sâu.

      *  Được chánh kiến khéo mau ngộ nhập

      *  Vị ấy thật ‘biết đủ’ khi dùng

              Về Tứ-vật-dụng nói chung 

       Y phục, vật thực, thuốc dùng khi đau,

          Và sàng tọa nơi nào bất luận.

      *  Là người tùy ý muốn số đông 

              Không có khó khăn, bực lòng,

       Không có mệt nhọc.  * Chứng trong bốn Thiền

      *  Tăng-thượng-tâm hiện tiền lạc trú

          Thực hiện đủ thần thông các phần :

             Một thân hiện ra nhiều thân

       Nhiều thân thu lại một thân dễ dàng

          Hiện, biến hình, đi ngang qua vách

          Xuyên qua núi như cách hư không

             Độn thổ, trồi lên đất giồng

       Đi được trên nước cũng không chìm nào

          Ngồi kiết già trên cao vòi vọi

          Bay trên không như loại chim bằng

             Với tay, chạm mặt trời, trăng

       Có đại oai lực, oai thần uy linh

          Hoặc có thể tự mình bay tới

          Cõi Phạm Thiên vời vợi nơi này,

             Thần thông nhiều loại thật hay

       Tỷ Kheo vị ấy trình bày được ngay

          Tai vị này siêu nhân thuần tịnh,

          Nghe được chính âm thanh Chư Thiên

              Và loài Người khắp mọi miền

       Dù xa muôn dặm như liền bên tai.

 

          Khi vị này quán tâm biết đúng     

          Tâm loài người, tâm chúng sanh đây    

              Tâm của người khác hằng ngày. 

       Tâm tham cũng biết, không tham biết liền

          Tâm nổi sân, biết liền sân hận

          Tâm không sân không hận cũng tường

             Tâm Si hay không Si  thường

       Chuyên chú, tán loạn biết dường tự tâm

          Đại hành tâm, biết là như vậy

          Hoặc không phải là đại hành tâm

             Tâm vô thượng, biết rõ ràng

       Tâm chưa vô thượng lại càng biết thông

          Tâm thiền định hay không thiền định

          Tâm giải thoát hay dính buộc ràng

             Vị ấy đều biết rõ ràng

       Tâm của người khác ; cả hàng trí, ngu.

 

          Vị Phích-Khu hướng tâm như vậy

          Và vị ấy nhớ tới nhiều đời

             Quá khứ với một, hai đời

       Năm chục, ba bốn trăm đời đã qua

          Một ngàn đời hay là hơn nữa

          Một trăm ngàn đời thuở lâu xa

             Hoại kiếp, thành kiếp trải qua

       Vị ấy nhớ lại như là mới đây.

          Tại nơi ấy, tên này ta có

          Thuộc giai cấp, giòng họ thế này

             Uống, ăn, thọ khổ, lạc  rày

       Tuổi thọ như thế, chết ngày ra sao

          Ta tái sinh, nhằm vào làng đó

          Có tên tuổi, giòng họ thế nào…

             Cứ thế, nhớ lại biết bao

       Tiền kiếp, tái kiếp không sao đếm vầy.

 

          Tâm vị ấy thẳng ngay, thuần tịnh

          Do giới, định dẫn tới tuệ minh

             Xét về sinh tử chúng sinh

       Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy liền

          Vị ấy biết mối giềng Nghiệp quả

          Người hạ liệt, kẻ cả giàu sang

             Người đẹp đẽ, kẻ thô hèn

       Đều do hạnh nghiệp trắng đen họ làm.

          Gieo ác hạnh về thân, khẩu, ý

          Hoặc phỉ báng các vị Thánh Hiền

             Người này thân hoại, tận duyên     

       Do nghiệp tà kiến, đọa liền súc sinh

          Các cõi dữ, như sinh địa ngục

          Hoặc đọa xứ, thằng thúc nạn tai.

 

          * Còn bậc hiền giả, những ai

       Làm những thiện hạnh  ý và lời, thân

          Không phỉ báng Hiền nhân, Thánh hiển

          Tạo nghiệp lành, chánh kiến vô cùng

             Sau khi thân hoại mạng chung 

       Được sinh thiện thú, nhân trung, cõi trời

          Do thiên nhãn, biết đời sống chết

          Người hạ liệt hay kẻ giàu sang

             Người đẹp đẽ, kẻ thô hèn

       Người này bất hạnh, kẻ bèn gặp may

          Do hạnh nghiệp kẻ này hành động

          Có kết quả chẳng giống nhau này.

             Luân hồi tùy nghiệp chuyển xoay

       Không ai tránh khỏi trả vay nghiệp này.

 

          Rồi vị đây hướng tâm đến với

          Lậu-tận-trí, dẫn tới biết rành

              Về chúng sanh biết ngọn ngành

       Đây là sự Khổ, nguyên nhân đưa vào

          Đây Khổ Diệt, đường nào diệt khổ

          Biết như thật lậu-hoặc loại này

             Nguyên nhân lậu-hoặc là đây

       Diệt trừ lậu-hoặc, biết ngay con đường.

          Nhờ hiểu biết, tận tường nhận thức

          Tâm vị ấy rất mực sáng trong

             Dục-lậu, hữu-lậu  thoát xong

       Thoát vô-minh-lậu, khỏi vòng trói trăn.

 

          Này Vũ-Thế  Đại thần ! Như vậy

           Mười khả-hỷ-pháp ấy thuyết ra

               Do đấng Thế Tôn, Phật Đà

       Tri-giả, Kiến-giả, A-La-Hán này,

          Bậc Chánh Giác giảng bày như thế,

          Giữa chúng tôi cặn kẽ thuyết ra.

              Vị có Mười Pháp sâu xa

       Chúng tôi cung kính, thiết tha cúng dường,

          Chúng tôi thường nương tựa, an trú

          Vị đầy đủ Mười Pháp trải qua ”.

 

              Nghe xong, Vũ-Thế  tức là  

       Bàn-môn Vát-Sá-Ka-Ra Đại thần         

          Nói với vị Tướng-quân tùng giả

          Là U-Pa-Nan-Đá đứng sau :  

 

        – “ Này Tướng-quân ! Nghĩ thế nào ?

       Nếu là như vậy, nghĩ sâu xa thì

          Những Tôn-giả trọng vì, cung kính

          Những ai đáng cung kính, trọng vì,

              Lễ bái ai đáng lễ quy,

       Cúng dường ai đáng uy nghi cúng dường.

          Chắc chắn thường những Tôn-giả ấy

          Sẽ cung kính, lễ lạy bậc này.

 

              Và nếu những Tôn-giả đây

       Không cung kính, lễ,hay cúng dường

          Tỷ Kheo này, thời thường vị ấy

          Sẽ cung kính, lễ lạy ai đây ? ”.   

 

              Rồi vị Bà-la-môn này   

       Hướng đến Tôn-giả, như vầy thưa qua :

 

    – “ Thưa Tôn-giả ! Hiện ngài đang ngụ

          Tại trú xứ nào đó gần xa ? ”.

 

        – “ Bàn-môn ! Trú xứ của ta

       Vê-Lu-Vá-Ná tức là Trúc Lâm ”.

 

    – “ Thưa Tôn-giả ! Trúc Lâm có phải

          Là một chỗ khả ái, tịnh an,

              Ít tiếng ồn, xa cư dân,

       Được che gió, thích hợp phần Thiền-na ? ”.

 

     – “ Tinh Xá này đúng là như vậy

          Rất khả ái, an tịnh, ít ồn,

              Xa cách dân cư quá đông ,

       Thích hợp Thiền tịnh, xứng trong mọi thời

          Với những người hộ trì, thủ hộ

          Như ngài đây, là chỗ đàn-na ”.

 

        – “ Thưa Tôn-giả A-Nan-Đa !

       Thật vậy, Vê-Lú-Va-Na chính là

          Nơi thích hợp trải qua Thiền tịnh,

          Xứng với người chân chính tu Thiền,

              Thiên về nhập định tham thiền.

 

       Thưa Tôn-giả ! Tôi nhớ liền trước đây   

          Khi mà Ngài Kiều-Đàm Tôn Giả

          Vê-Sa-Li Ngài đã trú qua

              Ku-Ta-Gá-Rá-Sa-La              ( Kutagarasala )

     ( Giảng đường Trùng Các cũng là nơi đây ).

          Rồi thưa ngài A-Nan Tôn-giả !

          Tại Ma-Ha-Vá-Ná (Đại Lâm ),

              Tôi đã có dịp đến thăm

       Kiều-Đàm Tôn Giả với tâm kính Ngài

          Ở nơi đây, Kiều-Đàm Tôn Giả

          Nhiều phương tiện Ngài đã thuyết ra

              Về Thiền-định-luận sâu xa.

       Ngài Tôn Giả Gô-Ta-Ma thuộc về

          Vị tu thiền, thiên về Thiền-định,

          Tán thán mọi Thiền-định ở đời ”.    

 

        – “ Này Bàn-môn ! Chớ quá lời !

       Thế Tôn không tán thán nơi vấn đề

          Tất cả về Thiền-định, khi giảng

          Cũng không không tán thán mọi Thiền.

              Này Bà-la-môn ! Trước tiên

       Loại nào Thiền-định Ngài liền nói ra

          Không tán thán Thiền-na như thế ?

          Này Bàn-môn ! Được kể đến là

              Một số vị đã sống qua

       Tâm thấm nhuần dục-tham và mê đam

          Bị dục tham chi phối mọi mặt,

          Không như thật biết giải thoát điều

              Dục tham đã khởi lên nhiều

       Dục là đối tượng tối siêu vị này,

          Thiền tu, thiền tư hay thiền định

          Và thiền nhập. Cũng chính vị này

              Tâm thấm nhuần sân hận đầy,

       Sân hận chi phối vị đây mọi thời,

          Không như thật biết nơi giải thoát

          Khỏi sân hận đã phát khởi ra,

              Vị ấy lấy sân hận là

       Đối tượng tối hậu để mà thiền tu

          Hay thiền tư, thiền định, thiền nhập.

 

          Vị ấy sống đầy ắp với tâm

              Thấm nhuần thụy miên hôn trầm,

       Thấm nhuần trạo hối, thấm nhuần lòng nghi

          Bị những gì vừa kể chi phối

          Không như thật biết lối thoát ra

              Khỏi năm Triền Cái xấu xa

       Đã được phát khởi thông qua vị này.

          Lại chọn ngay năm triền-cái xấu

          Làm đối tượng tối hậu đồng cư

              Thiền định, thiền tu, thiền tư

       Bàn-môn ! Những Thiền-định như thế thì

          Đấng Toàn Tri không hề tán thán.

 

          Loại nào được tán thán ở đây ?

              Vi Tỷ Kheo ly dục này,

       Ly bất thiện pháp, chứng ngay trú liền

          Đệ Nhất Thiền, trạng thái hỷ lạc,

          Do ly dục nên phát sanh ra

              Với tầm, với tứ chan hòa.

       Rồi diệt tầm, tứ  – chứng qua Nhị Thiền

          Hỷ lạc liền được sanh bởi định,

          Không tầm, tứ  – nội tĩnh nhất tâm.

              Ly hỷ trú xả âm thầm

       Chánh niệm tỉnh giác thì thân cảm liền

          Sự lạc thọ, Thánh hiền gọi đủ

          Là ‘xả niệm lạc trú’ trải qua,

              Chứng, trú vào Thiền thứ Ba

       Xả lạc, xả khổ, diệt mà hỷ ưu

          Đã cảm thọ, Tỷ Khưu chứng, trú

          Thiền Đệ Tứ, không khổ, lạc chi

              Xả niệm thanh tịnh tức thì.

       Loại Thiền-định ấy được vì Thế Tôn

          Luôn tán thán pháp môn Thiền ấy ”.

 

    – “ Quả thật vậy, ngài A-Nan-Đa ! 

              Chính Tôn Giả Gô-Ta-Ma

       Khiển trách Thiền-định đáng là trách la,

          Tán thán Thiền đáng mà tán thán.

 

          Thưa Tôn-giả ! Đến hạn phải đi 

              Chúng tôi có việc cần đi

       Có nhiều phận sự, nên chi kiếu ngài ”.

 

    – “ Bàn-môn này ! Hãy làm  những việc

          Ông nghĩ, biết hợp thời, phải cần ”.

 

              Rồi Bà-la-môn Đại thần 

       Vát-Sa-Ka-Rá khởi thân tức thì

          Đứng dậy, từ giả đi khỏi đó.

          Khi vị nọ đi chẳng bao xa

              Bà-la-môn Gô-Pa-Ka          

       Mốc-Ga-La-Ná thưa qua lời này :

 

    – “ Thưa Tôn-giả ! Ta nay tiếp tục

          Về kết cục câu chuyện vừa qua

              Nếu chúng tôi không hỏi ra

       Thời Tôn-giả A-Nan-Đa vừa rồi

          Đã không phải trả lời như vậy ? ”.

 

    – “ Này Bàn-môn ! Có phải tôi đây  

              Đã nói với ông như vầy :

     ‘Không một Phích-Khú nào hay thực hành

          Để tựu thành Mười Pháp như thế

          Thật triệt đề, trọn vẹn, đủ đầy.

              Những pháp mà Thế Tôn Ngài

      Chánh Đẳng Chánh Giác, Như Lai tựu thành.

         Này Bàn-môn ! Tịnh thanh Đại Giác

         Bậc làm cho khởi phát con đường

             Chưa từng có, chẳng ai tường.

       Làm cho biết đến con đường minh quang.

          Nói lên một con đàng từ trước

          Đã chưa được nói đến, trình bày.

              Là bậc hiểu đạo sâu dày,

       Thiện xảo về đạo, khứ lai hoàn toàn.

 

          Và đến nay, các hàng đệ tử    

          Vẫn tuần tự như pháp thực hành

              Hành đạo, tùy hành tịnh thanh

       Và sẽ thành tựu pháp lành về sau  ./-   

 

        Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  ( 3 L )

 

*  *  *

 

(  Chấm dứt Kinh 108 :  GOPAKA MOGGALÀNA –

            GOPAKA MOGGALLÀNA  Sutta  )
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/12/2020(Xem: 3477)
Ai cũng tin rằng tương lai sẽ như vầy, như vầy, đúng như hôm qua và hôm nay đã trù liệu, hoạch định và tiến hành; bởi vì cái nhân gieo xuống với sự trợ duyên của các yếu tố phụ thuộc chung quanh, một cách khoa học và kinh nghiệm, cùng với thời gian vừa đủ để một tiến trình được khai mở, phát triển, chắc hẳn có nhiều phần mang lại kết quả tương xứng, hoặc bội phần, hoặc bội bội phần. Tuy vậy, kinh nghiệm, với những kết quả thực tế của một số sự việc, công trình, cũng cho thấy rằng, không phải lúc nào quả phải theo nhân. Bài học vỡ lòng của nhân-quả dạy chúng ta rằng các yếu tố ngoại tại có khi cũng rất quan trọng để dẫn đến kết quả như ý hay bất xứng ý. Tất nhiên khi nông gia cấy lúa xuống ruộng, đã theo kinh nghiệm lâu năm của cha-ông và nghề nghiệp: biết chọn giống tốt, biết lúc nào gieo mạ, cấy mạ, đưa nước vào ruộng, xả nước khỏi ruộng, xịt thuốc trừ sâu, v.v… Nhưng cũng nông vụ nầy, năm ngoái trúng mùa, năm nay bão giông lũ lụt lại thêm các đập thủy điện xả nước, lúa sẽ bị
10/12/2020(Xem: 5873)
Dạo này đang mùa bầu cử Tổng Thống tại xứ Cờ Hoa, có nhiều tuồng diễn rất ư là ngoạn mục, lấy mất của tôi rất nhiều thời gian. Tôi không còn thì giờ để à ơi mưa nắng với một số các bạn xưa. Muốn nói chuyện cũng phải cân nhắc, lựa lời dò la xem đối phương thuộc về bên nào, có cùng chung một chiến tuyến với mình không? Nhỡ cùng một lũ cuồng hết có mà vỡ nợ! Chẳng những thế tôi còn phải xem sắc mặt của từng ông Chủ Bút của từng tờ báo, giấy cũng như điện tử mà lựa bài để gửi. Gửi sai, chẳng những bài bị vất vào sọt rác mà tình văn nghệ cũng sứt mẻ dài lâu. Tại sao lại ra cớ sự như vậy? Trong lịch sử bầu bán chưa bao giờ có hiện tượng kỳ lạ đến như thế. Đây không phải là trận chiến giữa hai đối thủ, giữa hai đảng phái cùng yêu nước, mà là hai phe từ lúc con người mới khai thiên lập địa đến nay, đã có sẵn trong bầu máu nóng những hạt giống của tham lam, sân hận, si tình đủ kiểu. Đã ẩn hiện trong từng một con người với hai mặt tốt và xấu, chánh và tà, như ngày với đêm, như thiên thần
04/12/2020(Xem: 12753)
Lớn lao thay Bài Ca Chứng Đạo! Ngài Huyền Giác đã nói lên được những gì ngài thật tu thật chứng trong bài ca này. Nói là bài ca là vì mỗi lời mỗi chữ đều là Trí Tuệ Bát Nhã xuất phát từ Chân Tâm của ngài, nên thông suốt vô ngại và an vui tự tại. Vui trong cảnh giải thoát, vui trong cảnh Niết Bàn, hân hoan mà thốt lên những lời này, không biết gọi nó là gì, nên tạm gọi nó là Bài Ca Chứng Đạo vậy! Ngài Huyền Giác đã bài trừ tất cả sự chấp có, không, cũng có cũng không, không có không không (tứ cú), để nêu ra cái Bản Thể Tuyệt Đối Chân Tâm. Người giác ngộ được Bản Thể Chân Tâm này là người “tuyệt học, vô vi, an nhàn vô sự”. Xưa nay nó vốn không một vật mà lại thường đầy đủ muôn pháp không thiếu sót. Khi chưa giác ngộ thì thấy biết bằng vọng thức nên mới có muôn ngàn sai biệt. Khi giác ngộ được Bản Tâm thì thấy biết bằng trí tuệ Bát Nhã nên tất cả là Bất Nhị, Như Thị, và Không.
02/12/2020(Xem: 9776)
Làm thinh không phải mình sai Làm thinh là để tương lai cuộc đời Làm thinh không phải dại khờ Làm thinh là để lu mờ thị phi Làm thinh không phải khinh khi Làm thinh là để biết đi biết về Làm thinh không phải u mê Làm thinh là để nghĩ về đường tu Làm thinh không phải gật gù Làm thinh là để Văn Thù hiện ra Làm thinh không phải thứ tha Làm thinh là để biết ta làm gì Làm thinh không phải nhu mì Làm thinh là để mỗi khi thực hành Làm thinh không phải tranh giành Làm thinh là để trung thành hạnh tu
02/12/2020(Xem: 11011)
¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ LŨ LỤT MIỀN TRUNG VIỆT NAM (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 8 ¨ BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN TỤNG THÍCH, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9 ¨ QUÊ HƯƠNG MÙA BÃO LŨ (thơ Mặc Phương Tử), trang 11 ¨ QUẢ BÁO VỀ VIỆC GÂY TẠO CHIẾN TRANH (Quảng Tánh), trang 12 ¨ CÁI THIỆN VÀ HẠNH PHÚC (Quảng Tánh), trang 13 ¨ CHỈ LÀ LỜI HỎI THĂM (thơ Thy An), trang 15 ¨ KHỔ THÁNH ĐẾ (Chân Hiền Tâm), trang 16 ¨ SAU LỤT LÀM BÀI THƠ VỀ CỎ (thơ Lê Vĩnh Tài), trang 20 ¨ ĐẠO ĐỨC VƯỢT KHỎI TÔN GIÁO (Tuệ Uyển dịch), trang 21 ¨ MÙA LŨ (thơ Tiểu Lục Thần Phong), trang 25 ¨ LÀM THẾ NÀO ĐOẠN TRỪ CÁC LẬU HOẶC? (TN Hằng Như), trang 27 ¨ AI ƠI, MAU DỪNG LẠI (thơ Huệ Trân), trang 32 ¨ CHÙA LINH QUANG VÀ CHÙA TỪ ĐÀM Ở TRUNG VIỆT, VNPG Sử Luận, Chương 33 (Nguyễn Lang), trang 33 ¨ LOAY HOAY GIỮA CON ĐƯỜNG (thơ Du Tâm Lãng Tử), trang 36 ¨ CHẤP THỦ LÀ ĐÁNG SỢ (Lâm Thanh Huyền), trang 37 ¨ TRUYỀN THỐNG GĐPT
01/12/2020(Xem: 9613)
Từ Nguyễn Du đến Bùi Giáng, lục bát Việt Nam đã tạo nên một bước đi tân kỳ, một bước nhảy ngoạn mục, rung lên những tiếng thơ tự tình giữa trường mộng nhân sinh, nỗi ngậm ngùi nhân thế với niềm xao xuyến, bồi hồi. Rồi tiếp nối trên những bước đi song hành cùng lục bát, rạt rào bao sóng vỗ ngân nga, hòa âm thâm thiết với những tâm hồn quá đỗi tiêu sái như Hoài Khanh, Nguyễn Đức Sơn, Hồ Dzếnh, Phạm Thiên Thư, Huy Cận, Trần Xuân Kiêm, Huy Tưởng, Vũ Hoàng Chương… Đặc biệt Huy Tưởng, riêng một cõi trời thơ Mười Phương Tố Vọng phiêu diêu giữa Phương Chiều: Trũng hai mắt vọng bia đời Cổng tồn sinh mở mù khơi nắng tà Lòng tay nát mộng châu sa Phương chiều bãi quạnh mưa qua bến mình Nghiêng tầm con mắt soi kinh Vẳng nghe tâm lặng hồn chênh chếch về Phôi thu rụng lá mây đè Phiền ban sơ dậy đất se sắt lòng Im nghe thác máu loạn dòng Trôi phiêu lạc giữa vô cùng mộ Không
23/11/2020(Xem: 6728)
Phước duyên cho tôi khi được Me Tâm Tấn truyền trao gìn giữ một số thư từ còn lưu thủ bút & chữ ký của Chư tôn Thiền đức Tăng Ni vào những năm xưa xửa của thế kỷ trước. Trước, tôi đã có đôi lần giới thiệu thư từ bút tích của quý Ngài danh tăng Phật Giáo nước nhà như Ôn Trí Quang, Ôn Trí Thủ, Ôn Đỗng Minh, Ôn Đức Chơn, Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Thể Quán... Hôm nay, tôi xin cung kính giới thiệu đến chư vị thủ bút và chữ ký của một bậc tôn quý vốn là cột trụ quan trọng trong ngôi nhà Phật pháp, một vị hộ pháp đắc lực của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong những ngày đầu của phong trào phục hưng, một thành viên cơ yếu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất:
11/11/2020(Xem: 6544)
Mấy ngày mưa bão, rãnh rỗi ngồi soạn thư từ và hình ảnh, những kỷ vật mà Me Tâm Tấn luôn trân quý gìn giữ bao năm trời đã truyền trao lại cho tôi bảo quản làm tư liệu để tham khảo viết bài góp bút vào công tác hoằng pháp, tôi đã tìm thấy được những bức thư viết tay của một vị danh tăng Phật Giáo nước nhà: Cố Hòa thượng Thích Đức Tâm.
11/11/2020(Xem: 9503)
Trong quyển Yếu giải kinh A Di Đà lần đầu tiên xuất bản ở Việt Nam cũng như trên thế giới được in cả nguyên tác bằng chử Hán của Đại sư Linh Phong Ngẩu Ích cùng bản dịch Anh ngữ của Tiến sỉ J.C. Cleary và phần dịch sang Việt ngữ có chú giải của chính mình, học giả Lý Việt Dũng đã… “tự bạch” về “tiểu sử dài lòng thòng đáng chán của Song Hào Lý Việt Dũng”. Trong đó ông thẳng thắng nhận rằng: “Về quan điểm cuộc sống, tôi là người lạc quan tếu… Tôi cũng chay mặn tùy duyên, không bó thân trong những giới luật xa rời cuộc sống, chẳng có bổn sư vì chẳng quy y ai, chẳng có giới xơ cứng để giữ, sống đa cảm tự tại, có hơi “quậy” một chút!”.
25/10/2020(Xem: 2633)
Nước. Nước từ đâu cứ dâng lên; lên rồi rút, rút rồi lại lên, ngập tràn đồng ruộng, ao hồ, vườn tược, làng quê, và phố thị của nhiều tỉnh thành miền Trung. Cuồng phong bão tố từ đại dương cuộn xoáy vào đất liền, kéo theo những cơn mưa xối xả ngày đêm. Nước lũ ngầu đục từ non cao đổ về, từ các đập thủy điện xả xuống, đẩy những dòng cuồng lưu ồ ạt đi về nơi trũng thấp, theo những nhánh sông hướng ra biển, chựng lại khi gặp mực biển dâng cao với cường triều gầm thét, sông nối biển biến vùng duyên hải thành một biển nước mênh mông.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]