Những hàng cây cao

16/04/201607:50(Xem: 8788)
Những hàng cây cao

 HT Nhu hue





NHỮNG  HÀNG  CÂY CAO
 
 Kính dâng Hòa Thượng Như Huệ

  

  

  Chúng ta thường thấy những dãy núi cao sừng sững chạy dài hàng ngàn cây số, hay những khu rừng bạt ngàn sâu thẳm, nơi ấy có những cây đã sống năm bảy trăm năm, hoặc hàng ngàn năm trên trái đất nầy mà nhiều người trông thấy thật hùng vĩ.

   Quê hương Việt Nam, miền Bắc có dãy Hoàng Liên Sơn, miền Trung có dãy Trường sơn, những núi đồi này có những cây cao bóng mát tỏa khắp một vùng, tụ lại khí vượng thiêng liêng, để rồi nơi ấy, chốn ấy, đã ra đời và cho đời những con người làm được nhiều lợi ích và điểm tô cho cõi hồng trần vài tia nắng ấm!

  Đứng trước những hàng cây cao chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái và yêu thích về cảnh vật thiên nhiên. Vạn vật đều do duyên sinh, cho nên người và cỏ cây hoa lá đều là một, hiểu được như vậy, nhìn được như vậy, thì chúng ta và tất cả vạn sự, vạn vật trên cuộc đời này không có sự phân chia .

  Về con người, chúng tôi biết Hòa Thượng Như Huệ vào những thập niên 1970-1971…, lúc bấy giờ Thầy là Đại Đức Như Huệ, Chánh đại diện Phật giáo tỉnh Quảng Nam. Thừa Thiên Huế và Quảng Nam cách nhau qua đường đèo Hải Vân.

Một thời vàng son của Phật giáo Việt Nam, ảnh hưởng cuộc chấn hưng của Phật giáo Trung Quốc do Đại Sư Thái Hư khởi xướng, mà sau đó Phật giáo Việt Nam đã được hồi sinh vào những năm:1920-1931 và đến 1935; những tháng năm này tại miền Trung có Phật Học Đường Tây Thiên tại Huế, nuôi dưỡng và đào tạo do công đức của Quốc Sư Phước Huệ. Từ Bình Định ra Huế giảng dạy, và tại Huế có Pháp Sư Phổ Huệ, Tịnh Khiết, Giác Tiên, Giác Nguyên và Giác Nhiên…Hòa Thượng Giác Nhiên ( Đức Đệ Nhị Tăng Thống) làm Giám đốc Phật Học Đường Tây Thiên, đã đào tạo những vị tài đức vẹn toàn như quý Ngài: Chánh Thống, Chánh Huy, Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Thiện Hòa, Thiện Hoa và nhiều bậc cao Tăng đã làm nên trang sử cho Phật giáo Việt Nam trong thời cận đại mà sau một quãng đường dài dưới thời Pháp thuộc và những triều đại sau này…

    Hòa Thượng Đôn Hậu, Mật Nguyện đã từng vào Quảng Nam để giảng dạy,  xây dựng và đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni Phật tử tại Quảng Nam và Hòa Thượng Như Huệ từ Quảng Nam ra Huế lưu trú tại chùa Linh Quang và thường đến văn phòng Giáo hội chùa Từ Đàm họp bàn những Phật sự. Bản thân tôi đã từng gặp Hòa Thượng Như Huệ tại văn phòng chùa Từ Đàm mà lúc bấy giờ Hòa Thượng Mật Nguyện làm Chánh đại diện Phật giáo Thừa Thiên Huế.

 Thời gian lững lờ trôi… biển đời duyên nghiệp vẫn còn rong ruổi trong mỗi kiếp người, những tháng năm yên tĩnh nơi chốn thiền môn không còn nữa… Tôi và mọi người dân nước Việt âm thầm lặng lẽ cất bước ra đi … Nhân duyên cơ mà, tôi đã gặp lại Hòa Thượng Như Huệ vào năm 1990 tại Úc châu, lúc này Thầy là Thượng Tọa Như Huệ làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan, và sau đó Hòa Thượng Như Huệ được Tăng Ni tín đồ Phật tử liên bang Úc châu – Tân Tây Lan cung cử lên ngôi Hội chủ cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, suốt thời gian bốn nhiệm kỳ mười sáu năm .

  Những tháng năm tôi đến Úc châu làm việc Giáo hội dưới quyền lãnh đạo của Hòa Thượng Như Huệ, mỗi lần gặp Hòa Thượng thường kể chuyện xưa: Chuyện Phật giáo thời 1963-1966-1975…;chuyện quý Ôn, quý Thầy tại Chùa Ấn Quang Sài Gòn, Việt Nam Quốc Tự, Phật Học Đường Nam Việt Ấn Quang, Phật Học Đường Tây Thiên, Phật Học Viện Bảo Quốc Huế; chuyện Phật Giáo Úc châu- Tân Tây Lan, Phật Giáo Liên Châu và chuyện hành điệu thời kỳ còn nhỏ, và nhiều khi hứng khẩu tôi và Hòa Thượng tán tụng bài Nhất Điện- Nhị Điện trong các khoa nghi .

  Và hôm nay được biết Hòa Thượng Như Huệ, Chứng minh Đạo sư của Giáo hội pháp thể khiếm an…! Tôi thật đáng ưu tư cho Ngài, trong mỗi chúng ta ai cũng có những kỷ niệm....Hoài niệm về kỷ niệm của một thời mà mỗi khi nhớ đến mấy ai không khỏi chạnh lòng .

   Những hàng cây cao sừng sững giữa biển trời tự bao giờ?- Chúng ta yên lặng đứng nhìn những hàng cây cao vút mà trong đó có những loại cây gỗ quý, là những bảo vật để lại cho đời…

    Người cầm bút viết bài này qua sự giới thiệu từ Thượng Tọa Nguyên Tạng đương kim Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức; Người viết lấy tiêu đề: NHỮNG HÀNG CÂY CAO, để nói lên những gì mà tự chính mình đã cảm nhận.

 

    Từ nguyên thủy rừng già dòng suối chảy

    Bưởi hoa vườn mưa tạnh ửng phù dung

    Tình đá tượng vẫn còn nguyên vẹn lắm

    Gióng hồi chuông xứ Quảng mộng hồi sinh

   

                                                           

   

Nam Mô A Di Đà Phật

Viết tại liêu phòng trong buổi chiều đông 

Tân Tây Lan-Giác Nhiên Tự, 13-4-2016-Bính Thân

 

Thích Trường sanh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11422)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12650)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24040)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10047)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8592)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8482)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8359)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9507)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9775)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14956)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: