Bậc Long Tượng của PGVN

20/03/201608:36(Xem: 10999)
Bậc Long Tượng của PGVN


HT Nhu Hue
Bậc Long Tượng của Phật Giáo Việt Nam



  Thành kính cảm tạ tri ân
Trưởng Lão Hòa Thượng Chứng Minh Đạo Sư

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Việt Nam Trung phần

Địa linh nhơn kiệt

 

Miền quê hương Cẩm Phổ Điện Bàn tỉnh Quảng Nam

Phố Cổ Hội An danh lam thắng tích

Từ ngàn xưa thanh lịch cảnh thiên nhiên

Kiến trúc nay Chùa Cầu bắc ngang sông nước

Hùng khí thiêng liêng, đất Phật người hiền

Trổ sanh hàng Long Tượng

Bậc xuất trần ứng thân độ chúng

Chọn vào dòng thế phiệt Nho gia

Song thân đồng thâm tín Phật Đà

Gìn Chánh Mạng nghiệp nhà Đông Y Sĩ

 

Hậu sanh khả úy

Tuổi còn thơ phước lành căn trí sáng thông

Được cha mẹ sớm đưa vào chùa học đạo

Mười hai tuổi tròn thế phát xuất gia

Nhập chúng học tu vui nếp sống Lục Hòa

Chùa Ấn Quang Phật Học Đường Nam Việt

Giới phẩm tròn đầy sớm hoàn thành tốt nghiệp

Phổ hóa đời hàng Sứ Giả Như Lai

Bậc Giảng Sư đào tạo lớp nhơn tài

Sáng lập viên các trường trung tiểu học

Kiêm nhiệm Trụ Trì Giáo Sư Giám Đốc

Gánh gồng trọng trách đưa Đạo vào đời

Được công cử phục vụ Phật Giáo các nơi

Quảng Nam, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt

Tỉnh Hội Phật Giáo Kontum

Thành lập hai chi hội Tri Đạo, Diên Bình

Mở trường trung tiểu học giáo dục học sinh

Ươm hạt giống Bồ Đề vun bồi trí đức

Dắt dìu lớp trẻ mở mang tầm tri thức

Phục vụ quê hương giàu tâm lực từ bi

 

Ánh Đạo Vàng soi rạng rỡ bước chân đi

Hướng thẳng tiến trên lộ trình Giác Ngộ

Chẳng quản nhọc mỗi nơi lợi hành tế độ

Gầy dựng nên cơ sở Phật Giáo học đường

Tài lãnh đạo đức kham nhẫn kiên cường

Lừng danh tiếng một thời "Quảng Nam tứ trụ"

 

 

Bỗng tình thế đổi thay

Đất nước nổi cơn cuồng phong bạo vũ

Kẻ cầm quyền chủ trương

Đàn áp Tăng Ni Phật tử khắp cả thiền viên

Lệnh ban hành cấm treo cờ Phật Giáo

Ngày Đại Lễ Phật Đản (08-05-1963)

Triệt hạ cờ, đàn áp thẳng tay tàn bạo

Chốn Thiền môn bất ổn, Phật sự đa đoan

Ban Trị Sự Tổng Hội Phật Giáo Quảng Nam

Cho vời giữ chức vụ

Chủ Tịch Ủy Ban Tranh Đấu Bảo Vệ Phật Giáo

Đồng cam cộng khổ cơn Pháp nạn cuồng ba

Thừa hành giữ vững ngôi nhà Chánh Pháp

 

Ôi!  Việt Nam trải bao cơn bão táp

Ôi!  Quyền lực tột cao nay hỡi còn chi

Hay chỉ riêng mang nghiệp báo tương tùy

Trường mộng ảo cõi phù du huyễn hóa

 

Vận nước điêu linh ba mươi năm ròng rã

Tàn cuộc rồi nhuộm đỏ cả quê hương

Một chín bảy mươi lăm (1975) đậm ghi lịch sử đoạn trường

Ba mươi tháng Tư (30-4) cuộc tang thương thảm não

 

Giai đoạn khó khăn trọn tình đồng đạo

Liên tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Đà Nẵng một niềm tin

Trên hai trăm gia đình Phật tử,

Hai mươi ngàn đoàn sinh

Giữ chức vụ Đặc Ủy Thanh Niên

Kiêm Trưởng Ban Hướng Dẫn

Dưới chế độ khắc khe thời mạt vận

Cùng một nhà như kẻ lạ người xa

 

Ôi! Việt Nam Rồng Tiên con cháu ruột rà

Nam Bắc chia hai, thống nhứt ngỡ an vui đoàn tụ

Mộng hòa bình lòng dân hằng ấp ủ

Nay ngỡ ngàng đầy đe dọa hiểm nguy

"Tịnh thì ở, động thì đi"

Tìm đường lánh nạn sá gì liều thân

 

 

Năm một chín tám mươi (1980) lên đường cất bước

Trước tới Sài Gòn rồi vượt biển ra khơi

Mong manh chiếc thuyền con lênh đênh mạo hiểm

Tám ngày đêm mặt biển chân trời

Hướng vô định vời vợi trùng khơi

May kịp lúc tàu Na-Uy tới vớt

Đưa về bến xứ hoa anh đào nước Nhựt

Hai năm dài dừng bước tạm yên nơi

Tin đưa cùng đồng đạo, hàng "Tứ trụ" một thời

Được bảo lãnh giới thiệu định cư Nam Úc

 

Thư đăng báo các nơi được tin lành mừng chúc

Cung thỉnh về Nam Úc Hội Phật Giáo Việt Nam

Trụ Trì ngôi Pháp Hoa tịnh cảnh già lam

Nơi hải ngoại, xứ tự do hoằng Đạo

Bản tu chỉnh Hiến Chương được yêu cầu soạn thảo

Đề cử do Hòa Thượng Hội Chủ Phật Giáo Việt Nam

Soạn giáo trình mở khóa Phật Pháp các Tiểu Bang

Phục vụ Phật Giáo Úc Châu không nề hà lao nhọc

 

Đại Hội Khoáng Đại kỳ I

Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan

Được cử chức Phó Hội Chủ

Kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp

Đồng sự lợi hành công tác các Tiểu Bang

Trở về Nam Úc triệu tập một phiên họp bàn

Lấy ý kiến chung việc xây chùa mua đất

Phật tử hân hoan chung lo sớm nhanh hoàn tất

Khai sơn Tân Pháp Hoa Tự ngày nay

Hộ trì Chánh Pháp khai Bảo Tạng Như Lai

Câu hội Phật tử Tăng Ni dưới cội Bồ Đề râm mát

 

Phật sự lo toan Phước điền gieo Pháp lạc

Bước lưu vong thỏa tâm nguyện hoằng truyền

Ngọn Pháp đăng khêu tỏ lý thâm huyền

Đạo Giác Ngộ khắp nhuần nơi hải ngoại

 

Kinh nghiệm lãnh đạo một đời từng trải

Giữ nhiều chức vụ Hội Chủ, Giáo Hội Trưởng, A Xà Lê

Lần lượt sang các Châu cùng Tăng Ni hải ngoại đề huề

Thành lập Văn Phòng Điều Hợp Phật Giáo Liên Châu

Gồm Mỹ, Âu, Canada, Úc Đại Lợi

 

Bốn nhiệm kỳ vững tay chèo, mười sáu năm vời vợi

Một lòng vì Đạo, đức kham nhẫn dõng mãnh bi hùng

Công đức nan lường lo toan Phật sự vì lợi ích chung

Giáo Hội cùng tự viện thành viên thân hòa đồng trụ

 

 

Biến cố bi thương (15-7-2007)

"Giáo Chỉ số 9" ra đời như cơn sóng dữ

Cùng "Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ" (xem thêm)

Hai văn bản gây rời rã Tăng đoàn,

Nạn Sư Tử trùng đục khoét rúc chui

Vô minh dẫn lối lắm điều thị phi tranh chấp

 

Tuệ trí sáng suốt trước tình hình nguy ngập

Ủy dụ toàn thể Phật tử Tăng Ni

Sanh hoạt Phật sự tu tập hành trì

Chánh niệm, an nhiên đạo tâm bất thối

 

Đồng bảo vệ mối giềng Giáo Hội

Hướng đi chung phát huy Chánh Pháp khắp mọi miền

Mở đường cho thế hệ kế truyền

Hành đạo hóa đời vượt lên bờ Giác

 

Trí nhớ dai biệt tài uyên bác

Kinh điển học qua trọn đời thông thuộc không quên

Dịch kệ viết kinh, Bài "Sám Quy Mạng" hãy còn truyền

Tăng Ni đệ tử trong ngoài nước đã nên hàng lương đống

 

 

Lượng cả ân ban tâm từ bi trải rộng

Bát tuần thượng thọ

Thành tựu vô lượng vô biên công đức

Ba mươi lăm năm gian khổ hy sinh

Bước ly hương gầy dựng lắm công trình

Vì Đạo Pháp cả một đời phụng hiến

Phật Giáo Úc Châu ngày càng phát triển

Thiền môn vĩnh chấn, Phật Pháp hưng long

Mang niềm tin cho Tăng Ni Phật tử,

Cho người Việt Cộng Đồng

Cõi nước Úc Châu gội nhuần hồng ân phổ hóa

 

Đệ tử chúng con thành tâm đê đầu bái tạ

Trưởng Lão Hòa Thượng Chứng Minh Đạo Sư

Nguyện theo bước chân Ngài trải rộng lòng từ

Cứu khổ độ sanh hành Bồ Tát Đạo

 

Chúng con đồng Kính nguyện

         Trưởng Lão Hòa Thượng

Tứ thời an lạc, tứ đại điều hòa

Pháp thể khinh an, bách niên trường thọ

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

Tác đại chứng minh.

Bakewell, Darwin, Bắc Úc, 16-03-2016

Đệ tử Viên Huệ cẩn bái

(xem bài cùng tác giả)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2013(Xem: 8745)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9681)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11485)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12867)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24194)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10152)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8639)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8545)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8441)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9611)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964