Tâm Từ Bi

24/03/201614:41(Xem: 9046)
Tâm Từ Bi

HT Nhu Hue (8)

TỪ BI TÂM

Kính dâng Hòa Thượng Chứng Minh Đạo Sư

 

 


Con chính thức về Tu Viện Quảng Đức sinh hoạt vào đầu năm 2001. Và tại đây, sau vài năm, con dần dần biết được Đạo hiệu, cũng như được diện kiến tôn nhan của Chư Tôn Đức thuộc GHPGVNTNHN UĐL-TTL, nhân lúc quý Ngài quy tụ về Tu Viện QĐ trong những ngày lễ lớn hoặc trong những sự kiện Phật sự liên quan đến Giáo Hội. Hòa Thượng Như Huệ là vị Tôn Túc đầu tiên từ tiểu bang khác đến Melbourne mà con được trực tiếp đảnh lễ. Con nhớ hầu như những lần có Phật sự tại TVQĐ, Hòa Thượng đều đến trước một vài hôm để nghỉ ngơi hoặc thăm viếng đồng đạo và nhờ đó mà con mới có dịp đảnh lễ Ngài. Chỉ là đảnh lễ thôi chứ không dám thưa thỉnh gì vì trước đó con chưa được biết Ngài.

Thế rồi một hôm, sau khi thời cơm chiều xong, HT Như Huệ lưu lại phòng Trai đường để nói chuyện với Sư Cô Hạnh Nguyên, Cô là đệ tử xuất gia của HT, hôm đó con cũng đang dọn thức ăn ở gần bên. Khi nghe Cô Hạnh Nguyên nhắc con nhớ đóng Chuông buổi chiều, Hòa Thượng nhìn con và nói: “Kệ chuông phải tập ngâm cho hay để cho người âm họ nghe”, nói rồi Hòa Thượng cất tiếng ngâm:

Ba nghiệp lắng thanh tịnh
Gửi lòng theo tiếng chuông
Nguyện người nghe tỉnh thức
Vượt thoát nẻo đau buồn
Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe…
Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.
Nguyện tiếng chuông này vang khắp giới
Khắp nơi u tối mọi loài nghe
Siêu nhiên vượt thoát vòng sanh tử.
Giác ngộ tâm tư một hướng về…

Giọng của Hòa Thượng thật ấm, ngân nga, luyến láy lúc trầm, lúc bổng nghe sao mà thấy dạ bồi hồi. Bỗng dưng con thấy như là đã thân quen với Hòa Thượng, con xin Hòa Thượng ngâm mấy câu đó thêm một lần nữa và Hòa Thượng lại cất cao giọng…Con thật cảm động! Và đồng thời câu nhắn nhủ của HT cũng để lại trong con một ấn tượng khó quên về tâm Từ của Ngài, không phải chỉ với người dương thế, mà đối với người âm Hòa Thượng cũng quan tâm. Con cảm kích về điều này, do vậy mà hơn mười năm nay, con luôn dành cho mình một buổi chiều trong tuần để về chùa thỉnh chuông Đại Hồng, những mong có được những phút giây lắng đọng tâm tư trong âm thanh vang vọng, thánh thót của tiếng chuông và cũng mong cho những ai trong cõi vô hình nghe được tiếng chuông mà tỉnh thức, vơi bớt lòng sân hận si mê, sớm được xa lìa cõi u minh tăm tối.

Và khởi đầu từ lần đó, sau này mỗi lần có dịp gặp được Hòa Thượng, con mới dám có lời thăm hỏi thỉnh an Hòa Thượng và Ngài luôn luôn đáp lại bằng nụ cười thật từ ái.

Bao nhiêu năm nay con chỉ được biết Hòa Thượng là người khai sơn Pháp Hoa tự và là Hội Chủ của GHPGVNTHHN UĐL-TTL, ngoài ra con không biết gì thêm về Ngài. Cho đến hôm nay được đọc bài nói về hành trạng của Hòa Thượng, con vô vàn ngưỡng phục, kính thương Ngài, con hình dung ra được bao nhiêu khó khăn gian khổ mà HT đã trải qua trong suốt khoảng thời gian 60 năm hành đạo, để lèo lái đưa con thuyền Chánh Pháp vượt qua bao sóng gió, từ quê nhà cho đến hải ngoại. Gầy dựng bao nhiêu cơ sở Phật giáo cho hậu thế và đã có bao nhiêu hàng hậu học được tiếp thu những tri kiến về sự uyên thâm của giáo Pháp từ Ngài. Ân đức của Ngài thật vô cùng!

Thời gian gần đây sức khỏe của Hòa Thượng hơi yếu, có lẽ là hệ quả của những gian lao khổ nhọc mà Hòa Thượng đã trải qua, nhưng ý chí, nguyện lực phụng sự tốt cho Đạo, giúp ích cho Đời vẫn luôn tồn tại trong tâm tư Ngài. Điều này con có thể thấy được qua những lần Hòa Thượng ban Đạo Từ hay trong những buổi Khai Thị, dù trước đó Hòa Thượng đi đứng chậm rãi, phải có người nâng đỡ, nhưng khi Ngài nói thì từng câu, từng chữ rõ ràng mạch lạc, âm thanh dõng dạc tác động đến tâm tư người nghe, và luôn có những lời khuyến tấn, nhắn nhủ quý báu mà hàng hậu học Tăng Ni, Phật tử cần phải trân quý và thực hành để hoàn thành sứ mạng giữ gìn Chánh Pháp và tu tập; và điều thú vị nhất là lúc nào Hòa Thượng cũng lồng vào những câu thơ, bài kệ rất hay, chứng tỏ trí nhớ của Ngài không hề mai một. Phong nghi là một trong “Quảng Nam Tứ Trụ” của Ngài vẫn còn tồn tại.

Hôm nay mừng thượng thọ Hòa Thượng 83 tuổi, nhìn lại quá trình hơn 60 năm của Hòa thượng, Ngài đã vì Đạo, vì Đời mà cống hiến bao nhiêu công sức cả từ thể chất đến tinh thần, để ngày nay trên quê mẹ cũng như quê người, từng thế hệ nối tiếp nhau được thừa hưởng những di sản do Ngài tạo dựng, là nơi để cho mọi người có thể an trú, vun bồi đời sống tâm linh.

Chúng con hàng hậu học còn sơ cơ yếu kém, chỉ mong có chút duyên lành để được noi gương Hòa Thượng mà bước từng bước vững chãi trên đường học Đạo, ngõ hầu không phụ tấm lòng Từ Bi của Ngài luôn hy sinh chịu gian khổ, nhẫn nại để đạt được thành tựu lợi ích cho Đạo và Đời.
Ngưỡng nguyện mười phương chư Phật gia hộ Hòa Thượng Pháp thể khinh an, Bách niên trường thọ và luôn là cây cao bóng cả để cho hàng hậu học Tăng Ni, Phật tử chúng con được nương nhờ hôm nay và mãi mãi.

 

 

Nam Mô A Di Đà Phật,
Melbourne, Xuân Bính Thân 2016
Đệ tử Thanh Phi

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11422)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12650)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24041)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10050)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8592)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8482)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8359)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9507)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9775)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14957)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: