Vị Thầy hoan hỷ

24/03/201608:52(Xem: 9283)
Vị Thầy hoan hỷ


khanhtue-htnhuhue (39)
Vị Thầy Hoan Hỷ
Kính dâng Hòa Thượng Chứng Minh Đạo Sư


Con không bao giờ quên gương mặt phúc hậu, dịu dàng và nụ cười hòa ái, hoan hỷ của Thầy mỗi khi con có dịp hầu thăm và đảnh lễ Ngài ở chùa Pháp Hoa (Nam Úc) hay Tổ đình Thiền Viện Minh Quang, Sydney mà HT mỗi khi có việc Phật sự, đều đến thăm Thầy Viện chủ của chúng con và lưu lại đó vài ngày. Mỗi lần như vậy, hàng đệ tử TVMQ chúng con vui lắm, vì như vậy chúng con có dịp viếng thăm đảnh lễ  HT, được mang hầu Ngài ly nước, tách trà … Ngoài những việc làm nhỏ bé đó, chúng con không biết phải làm gì hơn để bày tỏ lòng biết ơn đối với công đức vô hạn mà HT đã đóng góp cho PGVN nói chung và công cuộc xây dựng PG Úc châu nói riêng suốt mấy chục năm qua.  Nhìn lại lịch sử Việt, đạo Phật luôn gắn liền với dân tộc và đất nước nên cũng chịu nhiều hệ lụy theo dòng sinh mệnh nổi trôi của đất nước. Hết bị ngoại bang dày xéo (thực dân Pháp) đến chánh quyền ngoại đạo kỳ thị đàn áp, rồi khi  đất nước hết chiến tranh thì lại bị chủ nghĩa vô thần muốn tiêu diệt.

Ngưỡng vọng về hành trạng của HT với Phật giáo và Tăng Tín đồ, chúng con thật vô cùng ngưỡng mộ và biết ơn, nhờ có Hùng Tâm, Hùng Lực với lòng Từ Bi vô biên và Trí Tuệ tuyệt vời, Thầy đã “Giữ vững mái chèo cùng với các vị Tôn Túc  trong GHPG  hải ngoại, đã đưa được con thuyền PGVN hải ngoại vượt qua cơn bão tố hãi hùng của Giáo chỉ số 9 và “bản án” Hướng dẫn thi hành Giáo chỉ ấy.

Đã nhiều năm trôi qua, vết thương ấy vẫn còn hằn đau không chỉ riêng trong lòng chư Tôn Túc PG hải ngoại mà cả hàng đệ tử chúng con. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt từ hòa của HT và tấm lòng như trăng sao vằng vặc của chư Tôn Đức các Châu đối với Phật giáo ở quê nhà, với lòng biết ơn vô hạn với chư Phật mười phương mà quý Thầy vẫn kiên tâm, trì chí bảo vệ căn nhà GHPGVNTN hải ngoại, vẫn miệt mài hy sinh bản thân cho GH mặc cho các thế lực chẳng biết từ đâu đánh phá, nhục mạ. Nhờ vậy mọi Phật sự của Phật giáo 4 Châu đều được viên thành, chúng con vẫn tiếp tục đến Chùa, tham dự các khóa lễ huân tu  dưới sự lãnh đạo của chư Tôn Đức trong GHPGVNTNHN UĐL-TTL.

Mỗi năm chúng con đều theo Thầy tùng Hạ dù “Mùa An cư của Thầy là mùa Đông ở đây”. Và mỗi năm chúng con, Phật tử các bang Úc châu đều tụ hội sum vầy để cùng nhau chung học pháp trong Khóa Tu học Phật Pháp cuối năm, dưới sự giảng dạy của quý Thầy trong GH là một chứng minh hùng hồn nhất cho tấm lòng của quý Thầy đối với Phật pháp và niềm tin tuyệt đối của đệ tử chúng con dưới sự lãnh đạo của quý Thầy trong GH. “Mặc ai mưa Sở mây Tần, Ta đây vẫn giữ một lòng kiên trinh” và mặc cho ai đó đã kêu gọi mong muốn một sự nổi loạn để phá hoại sự đoàn kết của PG hải ngoại dưới sự lãnh đạo của Thầy (Thông bạch 31 VP II VHĐ) đây có phải là hiện tượng của “Sư tử trùng thực Sư tử nhục” mà Đức Phật đã nói năm xưa!? Nhưng Ma chướng này chỉ là một hiện tượng nhất thời của bản ngã Tham Sân Si của một ai đó làm thiêu đốt công đức của họ, tham vọng đó không bao giờ có đủ năng lực để phá hoại được lòng trung kiên của những người con Phật, những người mà trí huệ phát sinh nhờ học Phật.

Còn nhớ nhiều năm về trước, mỗi khi có dịp, con thường tìm đến thăm và đảnh lễ HT Viện Trưởng VHĐ ở Thanh Minh TV, kể hầu Ngài về sinh hoạt PG mình ở hải ngoại, đặc biệt là ở Úc, rồi  nghe Ngài giáo hóa vài lời … Nhưng  từ khi GC số 9 ban hành, khi có dịp về VN con không còn can đảm đến hầu thăm Ngài nữa, vì đến đó con biết kể hầu Ngài chuyện gì đây, chẳng lẽ con bạch với Ngài “Thầy ơi! sao Thầy nỡ đành chặt hết tay, chân của mình!” rồi khóc hay sao… mà biết Ngài có còn cho con diện kiến Ngài không, bởi vì các Thầy lớn của con còn bị từ bỏ, sá gì một ngoại đệ tử nhỏ nhít như con.

Kính bạch HT Trưởng Lão Chứng Minh,

Dù Ngài tuổi hạc đã cao, bước chân Ngài không còn nhanh nhẹn như xưa, con thuyền GH đã tạm bình yên sau cơn sóng dữ, Thầy đã lui về nghỉ ngơi nhưng Thầy vẫn là bóng mát cội Tùng để che chở cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia chúng con, là Thiền môn Thạch trụ chống đỡ cho ngôi nhà Phật pháp ở hải ngoại. Chúng con nguyện cầu ân trên Chư Phật gia hộ Thầy sức khoẻ dồi dào, Phước Thọ miên trường, Tuệ Đăng thường chiếu, Pháp Trí Nhị Nghiêm để lèo lái con thuyền Chánh pháp, phổ biến hạnh Như Lai tiếp dẫn hậu thế.



Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sydney, Xuân Bính Thân 2016

Đệ tử Diệu Hòa Ngọc Dung kính bái

                     

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18037)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8584)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8766)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9716)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11502)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13021)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24242)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10289)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8665)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8581)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.