Những hàng cây cao

16/04/201607:50(Xem: 9153)
Những hàng cây cao

 HT Nhu hue





NHỮNG  HÀNG  CÂY CAO
 
 Kính dâng Hòa Thượng Như Huệ

  

  

  Chúng ta thường thấy những dãy núi cao sừng sững chạy dài hàng ngàn cây số, hay những khu rừng bạt ngàn sâu thẳm, nơi ấy có những cây đã sống năm bảy trăm năm, hoặc hàng ngàn năm trên trái đất nầy mà nhiều người trông thấy thật hùng vĩ.

   Quê hương Việt Nam, miền Bắc có dãy Hoàng Liên Sơn, miền Trung có dãy Trường sơn, những núi đồi này có những cây cao bóng mát tỏa khắp một vùng, tụ lại khí vượng thiêng liêng, để rồi nơi ấy, chốn ấy, đã ra đời và cho đời những con người làm được nhiều lợi ích và điểm tô cho cõi hồng trần vài tia nắng ấm!

  Đứng trước những hàng cây cao chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái và yêu thích về cảnh vật thiên nhiên. Vạn vật đều do duyên sinh, cho nên người và cỏ cây hoa lá đều là một, hiểu được như vậy, nhìn được như vậy, thì chúng ta và tất cả vạn sự, vạn vật trên cuộc đời này không có sự phân chia .

  Về con người, chúng tôi biết Hòa Thượng Như Huệ vào những thập niên 1970-1971…, lúc bấy giờ Thầy là Đại Đức Như Huệ, Chánh đại diện Phật giáo tỉnh Quảng Nam. Thừa Thiên Huế và Quảng Nam cách nhau qua đường đèo Hải Vân.

Một thời vàng son của Phật giáo Việt Nam, ảnh hưởng cuộc chấn hưng của Phật giáo Trung Quốc do Đại Sư Thái Hư khởi xướng, mà sau đó Phật giáo Việt Nam đã được hồi sinh vào những năm:1920-1931 và đến 1935; những tháng năm này tại miền Trung có Phật Học Đường Tây Thiên tại Huế, nuôi dưỡng và đào tạo do công đức của Quốc Sư Phước Huệ. Từ Bình Định ra Huế giảng dạy, và tại Huế có Pháp Sư Phổ Huệ, Tịnh Khiết, Giác Tiên, Giác Nguyên và Giác Nhiên…Hòa Thượng Giác Nhiên ( Đức Đệ Nhị Tăng Thống) làm Giám đốc Phật Học Đường Tây Thiên, đã đào tạo những vị tài đức vẹn toàn như quý Ngài: Chánh Thống, Chánh Huy, Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Thiện Hòa, Thiện Hoa và nhiều bậc cao Tăng đã làm nên trang sử cho Phật giáo Việt Nam trong thời cận đại mà sau một quãng đường dài dưới thời Pháp thuộc và những triều đại sau này…

    Hòa Thượng Đôn Hậu, Mật Nguyện đã từng vào Quảng Nam để giảng dạy,  xây dựng và đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni Phật tử tại Quảng Nam và Hòa Thượng Như Huệ từ Quảng Nam ra Huế lưu trú tại chùa Linh Quang và thường đến văn phòng Giáo hội chùa Từ Đàm họp bàn những Phật sự. Bản thân tôi đã từng gặp Hòa Thượng Như Huệ tại văn phòng chùa Từ Đàm mà lúc bấy giờ Hòa Thượng Mật Nguyện làm Chánh đại diện Phật giáo Thừa Thiên Huế.

 Thời gian lững lờ trôi… biển đời duyên nghiệp vẫn còn rong ruổi trong mỗi kiếp người, những tháng năm yên tĩnh nơi chốn thiền môn không còn nữa… Tôi và mọi người dân nước Việt âm thầm lặng lẽ cất bước ra đi … Nhân duyên cơ mà, tôi đã gặp lại Hòa Thượng Như Huệ vào năm 1990 tại Úc châu, lúc này Thầy là Thượng Tọa Như Huệ làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan, và sau đó Hòa Thượng Như Huệ được Tăng Ni tín đồ Phật tử liên bang Úc châu – Tân Tây Lan cung cử lên ngôi Hội chủ cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, suốt thời gian bốn nhiệm kỳ mười sáu năm .

  Những tháng năm tôi đến Úc châu làm việc Giáo hội dưới quyền lãnh đạo của Hòa Thượng Như Huệ, mỗi lần gặp Hòa Thượng thường kể chuyện xưa: Chuyện Phật giáo thời 1963-1966-1975…;chuyện quý Ôn, quý Thầy tại Chùa Ấn Quang Sài Gòn, Việt Nam Quốc Tự, Phật Học Đường Nam Việt Ấn Quang, Phật Học Đường Tây Thiên, Phật Học Viện Bảo Quốc Huế; chuyện Phật Giáo Úc châu- Tân Tây Lan, Phật Giáo Liên Châu và chuyện hành điệu thời kỳ còn nhỏ, và nhiều khi hứng khẩu tôi và Hòa Thượng tán tụng bài Nhất Điện- Nhị Điện trong các khoa nghi .

  Và hôm nay được biết Hòa Thượng Như Huệ, Chứng minh Đạo sư của Giáo hội pháp thể khiếm an…! Tôi thật đáng ưu tư cho Ngài, trong mỗi chúng ta ai cũng có những kỷ niệm....Hoài niệm về kỷ niệm của một thời mà mỗi khi nhớ đến mấy ai không khỏi chạnh lòng .

   Những hàng cây cao sừng sững giữa biển trời tự bao giờ?- Chúng ta yên lặng đứng nhìn những hàng cây cao vút mà trong đó có những loại cây gỗ quý, là những bảo vật để lại cho đời…

    Người cầm bút viết bài này qua sự giới thiệu từ Thượng Tọa Nguyên Tạng đương kim Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức; Người viết lấy tiêu đề: NHỮNG HÀNG CÂY CAO, để nói lên những gì mà tự chính mình đã cảm nhận.

 

    Từ nguyên thủy rừng già dòng suối chảy

    Bưởi hoa vườn mưa tạnh ửng phù dung

    Tình đá tượng vẫn còn nguyên vẹn lắm

    Gióng hồi chuông xứ Quảng mộng hồi sinh

   

                                                           

   

Nam Mô A Di Đà Phật

Viết tại liêu phòng trong buổi chiều đông 

Tân Tây Lan-Giác Nhiên Tự, 13-4-2016-Bính Thân

 

Thích Trường sanh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/06/2012(Xem: 12491)
Thành Kính Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Giác Lâm (1928 - 2012)
24/06/2012(Xem: 25045)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8516)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9783)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18231)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17965)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 10983)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25063)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9031)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12350)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.