Nhớ đến Ôn

29/03/201611:57(Xem: 9616)
Nhớ đến Ôn

HT Nhu Hue 2a

 

 

Nhớ đến Ôn!




Tôi nhận được tin báo từ Thầy Nguyên Tạng cho hay Ôn đã vào bệnh viện và bịnh tình trong tình trạng trầm trọng, trong lòng tôi dâng lên một cảm giác buồn bã vì biết rằng vô thường lại kéo đến. Dù biết rằng, ngay cả Đức Phật của mình đã đến cuộc đời này và sau khi hoàn thành sứ mệnh rồi Ngài cũng phải ra đi, nhưng vì mình là con người bằng xương bằng thịt, máu vẫn chảy và tim vẫn đập cho nên không thể kìm chế được cảm xúc của bản thân mỗi khi có những chuyện bất như ý xảy ra.

 

Ôn bằng tuổi Ba tôi, không biết có phải điều này khiến tôi thường chú ý, quan tâm đến Ôn khi gặp Ôn và có sự so sánh ngấm ngầm giữa Ôn và Ba tôi về dáng vẻ bên ngoài, về tình trạng sức khỏe hay bởi vì Ôn là Hòa Thượng Hội Chủ rất hảo tướng và hiền hòa? Mỗi khi nhìn thấy Ôn hồng hào, tươi tắn là tôi rất mừng, nhưng những lúc thấy Ôn trông có vẻ mệt, yếu hơn là tôi lại thấy lo lo trong bụng. Tôi luôn thầm ao ước quý Ôn, quý Thầy Cô nhất là những Vị hy sinh, cống hiến thật nhiều cho sự trường tồn của Phật Pháp thì cần phải được sống lâu thiệt là lâu để giáo hóa chúng sinh và đem nhiều điều lợi lạc đến cho hàng Phật tử con Phật như chúng tôi đây.

 

Đành rằng con cả cha chung, nhưng ở mỗi Vị con của Đức Phật đều có những khắc khoải và lo toan cho Đạo Pháp theo những kiểu những nét riêng. Ôn thật tội, những năm tháng sau này, biết mình tuổi già, sức yếu không còn lo phụ công việc cùng với quý Thầy, quý Cô nên Ôn rất băn khoăn, lo lắng, điều này thể hiện rõ nét trên gương mặt, lời nói của Ôn khi Ôn trò chuyện, cho nên Ôn luôn luôn sách tấn, động viên hàng hậu bối của Ôn cũng như chúng Phật tử thật nhiều. Cho dù sức khỏe yếu kém nhưng Ôn vẫn cố gắng tham dự thật đầy đủ các công việc Phật sự của Giáo hội, các khóa An Cư, khóa Tu học v.v…hầu để chia sẻ, chứng kiến những thành tựu do Huynh Đệ và hàng Phật tử của Ôn đạt được.

 
HT Tang Giao Truong Thich Huyen Ton (137)
Ôn Như Huệ, Ôn Bảo Lạc cùng quý Thầy trẻ trong Giáo Hội
(hình lưu niệm trên núi đồi Narrabeen, New South Wales, trong Khóa Tu Học năm 2012)

Quang Huong

Tác giả Quảng Hương (bên trái)
về thăm Ôn Như Huệ ngày 1-5-2016



 
Nhìn tấm hình này tôi rất ư là thích. Trông Ôn thật dễ thương, bình dị và hòa đồng làm sao! Tôi thầm nghĩ Đức Phật mình sướng ghê, Ngài có những người con thật là đáng ngưỡng mộ!

 

Cả cuộc đời của Ôn chỉ nhiếp tâm lo cho Phật Pháp đúng như lời thơ của Ôn Trí Thủ:

 

"Một lòng kính lạy Phật đà,

Ngàn đời con nguyện ở nhà Như Lai,

Con nguyền mặc áo Như Lai,

Con ngồi pháp tọa Như Lai muôn đời".

 

 

Nhớ đến Ôn là con nhớ đến lời Ôn dạy: “Dục tốc bất đạt” trong việc tu tập bản thân, chậm nhưng mà phải chắc. Con sẽ luôn cố gắng vâng theo để không phụ lòng dạy bảo của Ôn.

Con xin ngưỡng nguyện mười phương Chư Phật từ bi gia hộ cho Ôn được bình an, khỏe trở lại để sống thêm với chúng con nhiều năm, nhiều năm nữa Phật ơi!

 

Nam Mô A Di Đà Phật

Melbourne 28/3/ 2016

Đệ tử Quảng Hương






Ý kiến bạn đọc
31/03/201605:57
Khách
Con cầu Hồng ân tam bảo gia hộ đến Hòa thượng Bách niên trường thọ, cùng Quý Thầy tại Tu viện Quảng Đức Tuệ Đăng thường chiếu, Phật Sự Viên thành
Nam mô A Di Đà Phật
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/06/2012(Xem: 18014)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17748)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 10729)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 24663)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 8913)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12070)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9011)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1
26/04/2012(Xem: 24039)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
20/04/2012(Xem: 12883)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
08/04/2012(Xem: 8342)
Hòa thượng thế danh Đoàn Thảo, sinh ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 trong một gia đình nhiều đời theo Phật tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Đoàn Văn Nhơn pháp danh Chơn Quang, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Có. Gia đình Ngài gần chùa Vạn Đức, lại thêm cụ thân sinh là tín đồ thuần thành của chùa, nên từ thuở nhỏ, Ngài thường theo cha đến chùa hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Từ đó, chủng tử Bồ Đề lớn dần trong tâm và Ngài tỏ ra những biểu hiện rất có căn duyên với cửa Không môn của nhà Phật.