44. Chú Vượn Tinh Khôn

31/08/201113:33(Xem: 12807)
44. Chú Vượn Tinh Khôn

Đường Vào Nội Tâm
Thích Nữ Trí Hải

44. CHÚ VƯỢN TINH KHÔN

Vào một trong những tiền kiếp xa xăm, Đức Thế tôn làm một con vượn chúa có sức mạnh phi thường và trí khôn vô địch. Vượn sống cạnh bờ sông đối diện một hòn đảo. Trên đảo có một rừng cây sai quả ngon ngọt. Giữa hòn đảo và bờ sông không một chiếc cầu, nhưng có một mỏm đá nhô lên giữa sông. Vượn nhờ hai chân dài nhanh nhẹn, nên chỉ cần một phóc nhảy từ bờ sông qua mỏm đá, và một nhảy nữa từ mỏm đá lên đảo là đã có thể tha hồ tung tăng trong rặng cây. Vượn ngày ngày qua hòn đảo ăn trái và dong chơi trong rừng bằng lối ấy, đến chiều mới nhảy trở về.

Khúc sông ấy có một đôi vợ chồng cá sấu cư ngụ. Cá sấu vợ mang thai gần đến ngày sinh nở. Trông thấy vượn chúa ngày ngày qua lại mỏm đá, cá sấu bỗng đâm ra thèm thuồng ăn tươi trái tim của vượn. Bà bảo chồng:

- Ông đi, tôi thèm ăn cái tim con vượn kia. Ông hãy tìm cách giết nó mau moi tim cho tôi ăn.

Cá sấu chồng bảo:

- Bà đã bảo thì tôi sẽ kiếm cách làm cho bà toại ý. Nhưng phải kiên nhẫn chờ tôi nghĩ kế mới được. Vượn khôn lanh lắm.

Bà vợ giận dỗi nói:

- Nghị, nghĩ cái gì? Ông phải leo lên nằm ngay bây giờ trên mỏm đá, đợi nó ở rừng nhảy ra là thộp ngay cho tôi ăn tim.

- Bộ bà tưởng công việc dễ dàng lắm sao? Trước hết, vượn rất khôn lanh, mà nó những bốn tay chân, còn tôi chỉ có một cái đuôi thì làm sao địch nó nổi.

Bà sấu quát lên:

- Vậy thì cái bộ răng nhọn hoắc của ông để làm gì? Thôi tôi biết rồi, ông không thương tôi, ông muốn để cho tôi chết đói cả mẹ lẫn con.

Nói rồi bà khóc rưng rức bằng nước mắt của cá sấu. Ông sấu vốn sợ vợ nên chiều lòng bà ngay:

- Được bà hãy chờ tôi.

Ông sấu leo lên nằm trên mỏm đá chờ. Khi ra khỏi rừng, vượn toan nhảy lên mỏm đá trở về như mọi khi thì bỗng nó chú ý cái chiều cao khác thường của mỏm đá. Nó không biết đó là vật gì, bèn nghĩ ra một kế, gọi lớn:

- Đá đi, đá!

Không nghe trả lời, vượn lại gọi:

- Đá đi, đá!

Lần thứ ba, vượn giả bộ ngạc nhiên hỏi:

- Ô hay, tại sao hôm nay tôi gọi mãi anh vẫn làm thinh như vậy, anh Đá?

Cá sấu giật mình nghĩ: "thì ra ngày thường mỏm đá này có nói chuyện với nó. Vậy mình cũng phải lên tiếng cho nó khỏi sanh nghi." Bèn nói lớn:

- Này vượn, có tôi đây. Cái gì thế?

- Tôi là ai?

- Tôi là cá sấu! (vừa thốt ra, sấu biết mình hớ)

- Anh ngồi làm chi đó?

Đã hớ, sấu nói luôn:

- Để thộp ngươi và moi tim ngươi cho vợ ta ăn.

Thấy thế nguy, nhưng vượn vẫn điềm nhiên bảo sấu:

- Như vậy thì tôi không còn cách nào thoát được. Thôi để tôi nhảy đại vào mồm anh cho xong. Nào, há mồm cho thật lớn đi.

Cá sấu tưởng thật, bèn há mồm tới mức tối đa, làm cho hai mắt nhắm tít lại không trông thấy gì nữa. Vượn nhân lúc ấy, nhảy lên đầu sấu, và nhảy một phóc khác trở về bờ sông yên ổn.

Sau khi kể lại chuyện tiền thân, Phật cho biết con cá sấu đực chính là Đề Bà Đạt Đa ngày nay, vợ cá sấu là nàng Cinca do ngoại đạo thuê để vu khống Phật, còn vượn là tiền thân của Ngài. Và Ngài kết luận, không những ở trong thời hiện tại Đề Bà Đạt Đa mới tìm cách hại Phật, mà từ vô số kiếp ông ấy đã luôn luôn âm mưu như vậy, và thường thất bại.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2026(Xem: 1456)
Trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ—như Nikāya và Āgama—Đức Phật thường nhắc đến những loài động vật sinh sống trong rừng sâu, núi cao và sông ngòi của Ấn Độ cổ đại. Rất nhiều loài vật như voi, sư tử, hươu, rùa, ngựa, chim chóc và nhiều loài khác xuất hiện trong những lời dạy này; chúng không hiện diện như những sinh vật hung dữ hay đáng sợ, mà là những người bạn hiền trí, giúp chúng ta thấu hiểu cách sống với lòng từ bi, sự dũng cảm và tâm trí sáng suốt.
16/03/2026(Xem: 2186)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1303)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1895)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 3454)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 2394)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 4100)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 2316)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2823)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 5192)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T