09. Lạc Thành Nhà Mới

31/08/201113:33(Xem: 11020)
09. Lạc Thành Nhà Mới

Đường Vào Nội Tâm
Thích Nữ Trí Hải

9. LẠC THÀNH NHÀ MỚI

Một thời, Thế tôn nghỉ tại tinh xá Nigrotha thành Ca tì la vệ. Dân chúng ở đây vừa dựng một giảng đường cho các sa môn, bà la môn sử dụng. Khi khánh thành, họ cung thỉnh Phật và chúng tỳ kheo đến ngôi giảng đường ấy trước tiên, để cầu phước.

Đức Phật im lặng nhận lời. Dân chúng trở về xếp đặt chỗ ngồi cho Phật và chư tăng trong giảng đường, đặt ghè nước rửa chân, treo đèn dầu thắp sẵn, (buổi lạc thành có lẽ đã về chiều). Rồi họ đến thỉnh Phật và chư tăng. Đức Thế tôn đắp y, mang y bát cùng chúng tỳ kheo đi đến giảng đường. Ngài rửa chân, ngồi vào chỗ dành sẵn. Chúng tỳ kheo cũng rửa chân rồi vào ngồi quanh, đối diện với đức Phật trong giảng đường. Sau khi chúng tỳ kheo và các vị trong dòng họ Sakya đã an tọa, Thế tôn thuyết pháp đến quá nửa đêm, khích lệ, làm cho hoan hỉ phấn khởi các vị Sakya ở Ca tì la vệ. Rồi ngài bảo tôn giả A nan:

- Thầy A nan, thầy hãy giảng Hữu học đạo cho các vị Sakya. Tôi bị đau lưng. Tôi muốn nằm nghỉ.

Rồi đức Thế tôn trải chiếc đại y ra gấp làm bốn mà nằm xuống hông bên phải, chánh niệm tỉnh giác. Khi ấy tôn giả A nan giảng cho các vị Sakya về sự tu tập của một vị thánh đệ tử, gồm sáu việc như sau:

- Một là thành tựu giới hạnh, sống đúng theo giới bản tỳ kheo, đầy đủ uy nghi, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ.

- Hai là hộ trì các giác quan, nghĩa là khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng...không nắm giữ tướng chung (như toàn thể một con người), không nắm giữ tướng riêng (như đôi mắt, tướng đi của người nào). Những nguyên nhân gì khiến tham ái ưu bi khởi lên, vị tỳ kheo chế ngự nguyên nhân ấy, giữ gìn giác quan và tâm ý.

- Thứ ba là tiệt độ trong sự ăn uống. Vị tỳ kheo nhận và dùng thực phẩm với sự quán sát rằng ta ăn không phải để vui đùa, không để đam mê, không để trang sức, mà chỉ để thân này khỏi khổ vì đói, để giữ gìn phạm hạnh. Vị ấy ăn để trừ cảm thọ cũ là cơn đói, mà không làm phát sinh cảm thọ mới như tham vị ngon.

- Thứ tư là chú tâm cảnh giác các pháp bất thiện có thể khởi lên trong từng uy nghi đi đứng nằm ngồi, vào mọi lúc.

- Thứ năm là thành tựu bảy diệu pháp: Tín (tin tưởng vào khả năng tự giác), Tàm (tự thẹn, không làm bấy khi ở một mình), Quý (thẹn với người khác, không làm bậy khi ở chung), Đa văn (nghe, học nhiều về Pháp), Tinh tiến (siêng năng về việc lành), Niệm (nhớ nghĩ chân chánh), Tuệ (sáng suốt) và Trạch pháp (biết chọn lọc các pháp để tu tập).

- Thứ sáu là có khả năng chứng và an trú bốn thiền một cách dễ dàng.

Khi một vị thánh đệ tử thành tựu được sáu việc kể trên, vị ấy được gọi là đang đi trên đạo lộ bậc Hữu học, có trứng không bị hư hoại, có khả năng giác ngộ. Ví như một con gà mái có trứng khéo ấp, khéo ủ, thì dù nó không cầu mong, gà con vẫn nở ra. Vị tỳ kheo cũng thế, nếu hoàn tất được sáu việc trên thì sẽ thành tựu ba sự sáng suốt, giống như gà con ba lần phá vỡ vỏ trứng để chui ra:

- Vị ấy chứng túc mạng minh, nhớ được các đời trước, đó là sự phá vỡ đầu tiên.

- Vị ấy chứng thiên nhãn minh, thấy rõ hành nghiệp chúng sinh người đẹp kẻ xấu người sang kẻ hèn đều do nguyên nhân chúng tự tạo ra từ đời trước. Đấy là sự phá vỡ thứ hai.

- Vị ấy đoạn tận lậu hoặc (phiền não mê lầm), chứng vô lậu Tâm giải thoát (giải thoát nhờ thiền định), Tuệ giải thoát (nhờ trí tuệ). Đó là sự phá vỡ cuối cùng, để con gà con bước ra ngoài ánh sáng.

Sáu pháp hữu học thuộc về HẠNH đức, ba minh thuộc về TRÍ đức, thành tựu được như vậy, vị thánh đệ tự được gọi là bậc MINH HẠNH TÚC.

Khi tôn giả A nan giảng xong, đức Thế tôn ngồi dậy, khen ngợi tôn giả, và bảo các vị Sakya rằng: "Những lời thầy A nan nói không khác gì lời đức Như lai, các ngươi hãy ghi nhận như vậy."

Trên đây là kinh thuật theo kinh Hữu học về một buổi lạc thành nhà mới vào thời Phật. Ngày nay, thiết nghĩ Phật tử chúng ta rất nên làm sống lại truyền thống tốt đẹp này. Mỗi khi cúng tân gia hay bất cứ lễ lạc gì, thay vì bày biến ăn uống linh đình tốn kém, hãy thỉnh một vị giảng sư về giảng Pháp cho toàn gia nghe. Như vậy cũng tốt như trai đàn chẩn tế, mà lại ít tốn và ít ồn.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 857)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1028)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2315)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1535)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1984)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1424)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1952)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3954)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5178)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4832)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S