Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Quyển thứ 15

16/04/201318:29(Xem: 2874)
Quyển thứ 15

ĐẠI THỪA TẬP BỒ TÁT HỌC LUẬN

(Siksasamuccaya)

Thích Như Điển dịch

---o0o---

Quyển thứ mười lăm
Thứ tự Kinh văn số 1636
Bắt đầu dịch từ ngày 01 tháng 12 năm 2004
nhân kỳ nhập thất lần thứ hai

Trị Tâm

Phẩm thứ 12. Phần thứ 2

(Lại cũng có tên là Phẩm Thiền Định Ba La Mật)

Lại nữa, duyên vào Phật, duyên vào Bồ Tát, duyên vào Thanh Văn, Độc Giác, duyên vào chúng sanh ... Những chúng sanh kia duyên vào, nghĩa là trước vui và lợi ích an lạc. Do ý nương nơi Thiền Định và từ bi nương nơi tâm vậy. Như có khách trí thức đến ở gần tụ lạc của mình giống như tụ lạc của họ. Đối với nơi đây là một phương giải thoát. Như thế ngươi nên duyên mười phương Phật, chăng giải đãi yếm thế.

Như Kinh Kim Cang Đồng Hồi Hướng (Vajradhvaja Parinamana) chép rằng: “Đầy đủ tu tập hạnh Bồ tát là chỗ thấy sắc đối trị với ái, như thế cho đến thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng đối trị với ái, tức không có tội lỗi. Sự thanh tịnh là thiện, là tối thượng sáng sủa sạch sẽ vượt khỏi các diệu lạc. Ý sanh hoan hỷ khởi lên niềm vui thanh tịnh, phát sanh mạnh mẽ an trụ nơi thật an lạc. Đối với tâm phân biệt, chẳng sanh thối tâm phiền não. Tâm ý điều nhu, các căn mạnh khoẻ, thường thọ niềm vui diệu lạc, như thế hồi hướng đến chư Phật, chuyển tiếp hồi hướng đến Phật trí tuệ, được đầy đủ bất khả tư nghì Phật diệu lạc hạnh. Tuy nhiên chưa giống Phật được khéo nhiếp thọ vui Tam Ma Địa (Thiền Định). Do lực nầy, có thể lần lượt được Phật vô lượng diệu lạc, đầy đủ vô lượng niềm vui Phật giải thoát, nhiếp thọ vô lượng niềm vui Phật thần thông, được khéo nhiếp thọ vô số chư Phật làm những việc vui không đắm trước, được vui nơi Phật tự tại như Ngưu Vương đã đến gần khỏi tật bệnh, cứu cánh được niềm vui, rộng được vô lượng Phật lực, hiểu rõ tất cả vắng lặng vô sanh vô diệt. Hạnh vô trước thường dẫn đạo được niềm vui diệu lạc của các đức Như Lai, chẳng có hay tập hạnh và không sân hận. Đây là Bồ Tát thường hành như thế, dùng thiện căn hồi hướng đến Như Lai. Việc Bồ Tát hồi hướng là nơi ý được vui chưa viên mãn; nên hồi hướng viên mãn đến nhứt thiết trí. Kẻ chưa thanh tịnh, tâm nhiễm sẽ được thanh tịnh, được tất cả Ba La Mật Đa. Kẻ chưa thành tựu biện tài, được thành tựu, phát tâm Bồ Đề, như Kim Cang làm cho trí tuệ vững chắc, chẳng thối lui và chẳng bị khuất phục. Người có nhứt thiết trí trở nên vững chải, đối với Bồ Đề diệu lạc thường được nhẹ nhàng, an trú nơi con đường lành, không bị thối lui, bình đẳng an trú trong mọi thế giới, đầy đủ tất cả hạnh nguyện của Bồ Tát, rõ biết lợi căn của Bồ Tát, đầy đủ thần thông, chứng nhứt thiết trí. Đây là nghĩa của các căn lành vậy.

Hồi hướng Bồ Tát, lại như người học Phật, tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, đối với thiện căn như thế đều hồi hướng. Như có chúng sanh nào trong khoảnh khắc như khảy móng tay nghe được Phật Pháp, và tôn trọng chúng Thánh Hiền như thế, căn lành được hồi hướng đến A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, cho nên hồi hướng niệm Phật viên mãn, hồi hướng niệm Pháp phương tiện, hồi hướng tôn trọng Thánh chúng, hồi hướng chẳng rời thấy Phật, hồi hướng tâm thanh tịnh, hồi hướng thông đạt Phật Pháp, hồi hướng chỗ tu vô lượng công đức, hồi hướng thanh tịnh tất cả thần thông, hồi hướng đoạn các pháp nghi. Như vậy, Thanh Văn, Bích Chi Phật là chỗ hồi hướng của những người học Phật.

Lại nữa Bồ Tát hồi hướng thiện căn đến tất cả chúng sanh, cho nên xa lìa con đường đưa đến địa ngục, đoạn trừ con đường đưa đến súc sanh, con đường đưa đến các cõi A Tu La, đoạn trừ sự đoạ lạc ác thú, làm cho chúng sanh tăng trưởng niềm vui, hồi hướng vô thượng Bồ Đề. Vì làm cho thâm tâm được nhứt thiết trí, tâm hồi hướng, chẳng hủy báng Phật Pháp, cứu cánh thành tựu tất cả trí địa, hồi hướng đến cứu cánh thanh tịnh chúng sanh. Đối với vô thượng trí, hồi hướng đến tất cả chúng sanh. Cho đến đồ uống ăn y phục, chỗ nằm bệnh duyên, y dược. Đối với thân những việc, đến, đi, đứng, ngồi, đều trụ trong luật nghi, không sanh tâm sân hận, thân, khẩu, ý nghiệp tu tạo việc lành, nghiêm mật các căn, hoặc tự thân biến mất. Đối với hơi thở, mùi vị của thức ăn, nước uống, nếu khai, nếu tổng hợp, hoặc quán , hoặc chẳng quán, hoặc ngủ hoặc thức, tự thân đều rõ biết. Đối với nhứt thiết trí, Bồ Tát duyên vào sự ứng hợp bình đẳng, chẳng có gì mà chẳng hồi hướng. Đối với nhứt thiết trí, tâm vui lợi lạc đối với tất cả chúng sanh. Cho đến ý thường hay cứu khổ thế gian, phát khởi thiện căn, xa lìa kiêu mạn.

Điều quan trọng là làm cho phiền não chẳng hiện khởi. Vì đối với việc thủ hộ, chư Bồ Tát quyết định khuyến tấn tất cả con đường trí. Vui vẻ thân cận những thiện hữu tri thức. Cho đến tu tập tất cả thiện căn sớm được viên mãn liên tục các hạnh. Nói chung, đối với súc sanh, hoặc thiếu việc ăn uống nên có thể thí cho, làm cho tất cả được sanh vào cõi lành. Như thế là lợi ích giải thoát hồi hướng. Súc sanh nơi biển khổ chấp vào sự khổ, tạo thành khổ nên gọi là Khổ Thọ. Khổ nhóm lại, lưu chuyển, khổ không có ngằn mé. Đây là căn bản khổ, đây là nương vào chỗ khổ. Đối với chúng sanh, chẳng lui hồi hướng.

Lại nữa, tất cả chúng sanh duyên vào hồi hướng, nghĩa là chúng sanh phải để niệm trước mắt về việc lành đã làm trước đây, phát tâm hồi hướng đến nhứt thiết trí, nên chẳng đọa vào luân hồi, lìa con đường hiểm, được Phật gia bị, hiện tiền vô ngại ra khỏi biển luân hồi, vĩnh viễn đoạn trừ và được ánh sáng Phật Pháp chiếu soi mà khởi tâm đại bi”.

Như Kinh Tối Thắng Kim Quang Minh (Suvarnap-hanottama Maitrikarunagarpha Gatha) Từ Bi Tạng nói kệ:

“Đây Kim Quang Minh

Cao nhất là vàng

Từ đó tiếng hay

Biến ba ngàn cõi

Đến tận địa ngục

Nơi A Tu La

Cho đến loài người

Bần cùng khổ sở

Lại khua trống đồng

Diệt trừ thế gian

Tất cả chướng não

Lại nguyện chúng sanh

Được trừ sợ hãi

Như đức Mâu Ni

Tịch tịnh chẳng sợ

Như các Thánh Nhân

Nơi biển sanh tử

Tu nhứt thiết trí

Như kia đã được

Thắng huệ giữ gìn

Và Bồ Đề phần

Công đức rộng thay

Lại tiếng trống nầy

Nguyện cho chúng sanh

Nghe tiếng Phạm Âm

Như Phật chứng rồi

Thắng diệu Bồ Đề

Chuyển xe Diệu Pháp

Ở vô số kiếp

Thuyết Pháp lợi sanh

Diệt tham, sân, si

Phiền não các khổ

Nếu có chúng sanh

Ở nơi đường ác

Vì lửa đốt cháy

Thân thường nóng bỏng

Nghe tiếng trống vang

Như vậy hối cải

Nên quy y Phật

Làm cho chúng sanh

Được ở yên ổn

Nơi trăm ngàn ức

Kiếp số sanh vào

Nhớ đức Mâu Ni

Nghe dạy sâu xa

Lại tiếng trống nầy

Thường được gần Phật

Tịch tu việc lành

Xa lìa tội ác.

Lại nữa kệ rằng:

Cùng các quốc độ

Tất cả chúng sanh

Thế gian dứt trừ

Cho đến các khổ

Nếu có chúng sanh

Thân phận hạ liệt

Căn khuyết giảm sút

Đều được các căn

Tất đều đầy đủ

Nếu kẻ tật bệnh

Thân hình yếu đuối

Tùy theo nơi chốn

Chẳng chỗ nương tựa

Giải thoát các bệnh

Được mau lành khỏi

Căn lực khoẻ mạnh

Lại nếu chúng sanh

Phép Vua gia hình

Sanh nhiều lo ngại

Cùng nhiều ưu não

Các chúng sanh kia

Khổ nạn nếu đến

Việc ác hung hiểm

Trăm loại sợ hãi

Tất khiến được giải

Hoặc bị đánh đập

Trói buộc kiềm tỏa

Nhiều loại cực khổ

Bức bách nơi thân

Nhiều vô số lượng

Trăm ngàn chủng loại

Ưu bi sầu thán

Làm khổ tâm nầy

Ngục tối đóng cửa

Hoặc bỏ thuốc độc

Tất cả giải thoát

Bị lâm hình sự

Lụy đến tánh mạng

Việc khổ đã đến

Được mất lo toan

Lại nếu chúng sanh

Đói khát bức não

Cho được mùi ngon

Ăn uống no đủ

Kẻ mù thấy rõ

Được tướng tốt đẹp

Kẻ điếc được nghe

Đầy đủ âm thanh

Kẻ thiếu đồ mặc

Được áo mặc vào

Bần khổ chúng sanh

Được các của quý

Kho đụn tràn đầy

Nhiều loại nghiêm sức

Tất cả chúng sanh

Rộng được niềm vui

Chẳng một chúng sanh

Thọ các khổ báo

Các tướng đoan nghiêm

Người thấy vui đẹp

Uống ăn no đủ

Phước đức tràn đầy

Thường được thọ dụng

Vô lượng niềm vui

Ca khúc khải hoàn

Nghe âm thanh hay

Tùy tâm niệm kia

Đúng lúc hiện tiền

Nhớ nước liền hiện

Trong sạch ao hồ

Hoa sen màu vàng

Và Ưu Bát La

Khắp đầy trong ấy

Tùy nhớ nghĩ kia

Liền được hiện tiền.

Lại có kệ rằng:

Hoa thơm cài tóc

Hòa hợp mùi hương

Mỗi ngày ba lần

Từ cây mưa đến

Chúng sanh lấy rồi

Liền sanh hoan hỷ

Cúng dường mười phương

Bất khả tư nghì

Tất cả Như Lai

Bồ Đề Diệu Pháp

Chư Đại Bồ Tát

Lìa trần lìa cấu

Và các Thanh Văn

Được lìa tất cả

Những chủng tộc thấp

Lìa nơi bát nạn

Thường chẳng gặp nạn

Vua là tối thượng

Thường được gần gũi

Chư Phật Như Lai

Lại có kệ rằng:

Nguyện các người nữ

Được thân nam tử

Sức lực mạnh khỏe

Trí tuệ thông minh

Mà thường tu hành

Con đường Bồ tát

Sáu Ba La Mật

Thấy mười phương Phật

Dưới gốc cây quý

Nơi toà lưu ly

An ổn khoái lạc

Vây quanh cung kính

Nghe nói Diệu Pháp.

Luận rằng:

Ở đây lược nói về lòng từ để đối trị với tâm sân; dùng quán duyên sanh đối trị tâm si. Bây giờ nói về ý nghĩa của duyên sanh. Kinh Đạo Cang (Salistamba Sutra) chép: “Thế nào là nội duyên sanh? Nguyên nhân của Pháp trói buộc vào? Nghĩa là do vô minh duyên hành cho đến sanh duyên nơi lão, tử, khổ. Do không có vô minh, không có hành, cho đến không có sanh, không có lão tử. Lại nữa, vô minh diệt tức hành diệt, như thế cho đến sanh diệt tức lão tử diệt. Lại nữa vô minh chẳng nhớ từ hành khởi; hành lại chẳng nhớ từ vô minh khởi, như thế cho đến sanh lại chẳng nhớ từ lão tử khởi. Lão tử cũng chẳng nhớ từ sanh mà khởi. Nếu vô minh khởi tức hành khởi chẳng thể được. Như thế cho đến sanh khởi tức lão tử khởi, lại cũng chẳng thế được, cho nên biết rằng: Vì nội duyên sanh nên nguyên nhân của Pháp ràng buộc lệ thuộc; Nhưng tại sao nội duyên sanh là duyên để ràng buộc các Pháp? Vì đất, nước, gió , lửa, không, thức và giới hòa hợp bên trong, duyên vào để hệ thuộc. Thế nào gọi là địa giới? Nghĩa là thân nầy nhóm tập rồi thay đổi, lấy sự cứng làm tánh; gọi là địa giới. Lại làm cho thân nhiếp trì tạo tác, gọi là thủy giới. Lại làm cho thân có tánh ấm, hiện hữu thành thục và sự ăn uống gọi là hỏa giới. Làm cho thân tạo hơi thở ra vào gọi là phong giới. Làm cho thân ở nơi rỗng rang gọi là không giới. Nghĩa là tên gọi sắc tướng, giống như giao hưởng làm cho năm thức, thân tướng lệ thuộc vào nhau. Ý thức hữu lậu là thức giới, nếu chẳng được duyên vào tức thân chẳng thay đổi. Nếu bên trong chẳng liên quan với địa giới như thế thủy, hỏa, phong, không, thức giới, lại cũng chẳng có sự suy hao. Những sự hòa hợp ấy, do nơi thân cố định chuyển biến vậy, mà địa giới nầy, chẳng nhớ đến ngã, có thể làm cho thân kiên cố nhóm họp. thủy giới chẳng nhớ nghĩ đến ngã, có thể làm cho thân nhiếp trì tạo tác. Hỏa giới chẳng thể nhớ nghĩ đến ngã, có thể làm cho thân nóng ấm và thành thục sự ăn uống. Phong giới chẳng thể nhớ nghĩ ngã, có thể làm cho thân nầy là chỗ vào ra của hơi thở. Không giới chẳng nhớ nghĩ ngã có thể làm cho thân nầy là chỗ rỗng không. Thức giới chẳng thể nhớ nghĩ đến ngã làm cho duyên sanh; do duyên sanh mà thân quyết định được thay đổi . Lại nữa địa giới vô ngã, vô nhơn, vô chúng sanh; vô thọ giả, không sợ sanh; chẳng phải đồng tử, chẳng phải nam; chẳng phải nữ; chẳng phải phi nam; chẳng phải phi nữ; chẳng phải tự tại; chẳng phải chủ tể; chẳng phải đây; chẳng phải kia; chẳng phải sở hữu.

Lại nữa vô minh là gì? Là đối với sáu giới khởi một tưởng hợp với một tưởng kiên cố về thường, lạc, ngã, tịnh, chúng sanh thọ giả; Ý sanh tư tưởng nhu đồng, tư tưởng tự tại chủ tể v.v...như thế đủ loại vô trí, nói là vô minh. Do vô minh thật có nên tham ,sân, si khởi lên. Cảnh của tham, sân, si gọi là hành. Khi việc ấy biểu thị rõ ràng gọi là thức. Thức đầy đủ khi sanh, chấp vào nắm giữ nơi bốn uẩn kia, nói là danh sắc. Lại nữa danh sắc nương vào nơi căn nói là lục xứ, ba pháp hòa hợp đây nói là xúc. Do xúc lãnh nạp đây gọi là thọ. Thọ đắm trước nên đây gọi là ái. Ái nhiễm rộng nên gọi là thủ. Thủ hay sanh Hữu, Hữu là nhân của sanh. Do uẩn nầy khởi gọi là sanh. Uẩn chín muồi gọi là Lão. Uẩn mất đi gọi là Tử. Suy sân nhiễm trước, sợ chết gọi là Ưu. Lo lắng thương nhớ gọi là Bi. Ngũ thức cùng nhau chẳng thường lãnh nạp gọi là Khổ. Tác ý hòa hợp thật khổ gọi là não. Như thế vẫn sanh tùy theo phiền não v.v...cho đến nói rộng ra nhiều nữa”.

Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận

Hết quyển thứ 15

---o0o---

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn