Kinh Từ Tâm

04/04/201318:38(Xem: 10316)
Kinh Từ Tâm

KINH TỤNG HẰNG NGÀY

TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
biên soạn

---o0o---

KINH TỪ TÂM

Thứ sáu


Tôi nghe rằng có một thời,

Tại thành Xá-vệ, ở nơi Kỳ Hoàn.

Thế Tôn cho gọi chúng tăng,

Các thầy cung kính thưa vâng đáp lời.

Thế Tôn thuyết giảng pháp lành

Khuyên người tu tập nên hành từ tâm. O

Là người nên tập ân cần

Thương yêu trải khắp kẻ gần người xa.

Tấm lòng nhân ái bao la,

Thật là thuần khiết, thật là cao thâm.

Hướng về tất cả chúng sanh,

Tâm từ tu tập quên mình mà thương. O

Không vì ái luyến vấn vương,

Không vì mong đợi chút đường lợi danh,

Không vì ân nghĩa riêng tình,

Cũng đừng cân nhắc với mình lạ quen.

Thương người quen, lẽ tất nhiên,

Cũng thương những kẻ chưa quen bao giờ

Xoá đi ngăn cách thờ ơ,

Xóa đi ngần ngại hững hờ bấy lâu. O

Tình thương lan tỏa đến đâu,

Giúp xây nơi ấy nhịp cầu cảm thông.

Người từ tâm đủ bao dung,

Đủ lòng độ lượng, đủ lòng thương yêu.

Với người mưu hại đủ điều,

Bất nhân ác cảm gây nhiều thương đau

Người từ tâm trước như sau: O

Trải lòng ra mãi, thương nhau tình người.

Với người oán ghét bao đời,

Nguồn thương yêu ấy làm vơi tị hiềm.

Chuyện không hay, chẳng trách phiền,

Để cho vơi bớt nghiệp duyên với người.

Người từ tâm trước muôn loài,

Đem lòng thương xót cảnh đời không may.

Thương người sống kiếp đọa đày,

Làm thân cầm thú nghiệp gây chẳng lành.O

Hoặc loài ngạ quỷ vô hình,

Hoặc trong địa ngục tội tình vương mang.

Tâm từnhư ánh trăng ngàn,

Dịu dàng soi thấu mọi đàng trầm luân.

Ở đâu có chúng hữu tình

Thì ngay nơi ấy từ tâm hướng về. O

Như tàng lá mát rộng che,

Chúng sanh vô lượng tâm từ vô biên.

Tâm từ như suối triền miên,

Thấm vào mạch sống mọi miền an vui.

Tâm từ làm gốc vun bồi,

Cho người cao thượng cho đời vinh hoa. O

Thấy người khổ nạn khó qua,

Lòng mình đau xót như là khổ chung.

Thấy người hạnh phúc thành công,

Lòng mình sung sướng như cùng vui theo.

Thấy người lầm lỗi ít nhiều,

Lòng mình tha thứ mến trìu càng hơn.

Người từ tâm sống vẹn toàn,

Thương yêu bình đẳng, sắt son bền lòng.

Cho dù không ước không mong,

Phước lành tự đến do công đức thành: O

Một là ngủ được an lành,

Bởi lòng mình đã chân thành thương yêu,

Bởi không lừa lọc dệt thêu,

Bởi không toan tính lắm điều chua ngoa.

Tâm tình không gợn xấu xa,

Tham lam, sân hận, cùng là si mê.

Đầu hôm đến lúc tinh mơ,

Khổ ưu tắt lịm, thới thơ giấc nồng. O

Hai là rời bước khỏi giường,

Lòng mình một mực bình thường yên vui.

Khi đi đứng, lúc nằm ngồi

Không còn tiếc nhớ đua đòi ước ao.

Từ tâm hóa giải đẹp sao,

Muộn phiền sân hận tan vào hư không.

Lòng mình luôn giữ trắng trong,

Nguồn an lạc trải tựa đồng bao la.

Ba là từ ái lan xa,O

Làm cho cảm ứng chan hòa cùng nhau.

Ai ai cũng thấy mến yêu,

Đem lòng ngưỡng mộ người nêu tâm từ.

Bốn là loài chẳng phải người, O

Một khi cảm nhận biết người từ tâm,

Cũng dành cho những tình thân,

Hộ trì người được những thành tựu vui.

Năm là thiên chúng cõi trời,O

Nhờ công tu tập nên người từ tâm.

Thấy người nào tính ai lân,

Nay theo gia hộ để cùng tiến tu.

Sáu là hiểm nạn đang chờ,O

Dầu sôi lửa bỏng mịt mờ kiếm cung,

Cùng bao nhiêu thứ độc trùng

Không sao xâm phạm đến vùng trú thân.

Bảy do huân tập từ tâm, O

Thác sanh Phạm Chúng, làm dân cõi trời,

Được nhiều phước báo tuyệt vời,

Và tâm từ được trau dồi thêm lên.

Tám là đầy đủ thiện duyên,O

Người từ tâm biết thường xuyên chuyên cần.

Làm cho đức hạnh được thuần,

Thành vườn ruộng tốt gieo trồng đại bi.

Đượm nhuần vô ngã, vô si,

Con đường giải thoát bước đi thêm gần.

Khéo an trú, khéo tác thành,

Thân tâm an ổn, vững vàng, lắng sâu. O

Tâm từ khi được khéo tu,

Làm cho trói buộc được mau tháo dần.

Không còn dấu vết tham sân,

Niết-bàn hiển lộ thênh thang giữa đời.

Thế Tôn thuyết giảng mấy lời,

Mọi người vui nhận tin rồi làm theo. O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO


--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Thầy Nhật Từ đã gởi tặng bản Kinh điện tử này
( Quang Duc Website 04/2002)
--- o0o ---
Trình bày : Nguyên Hân- Nguyên Phúc

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2010(Xem: 9309)
Nghi lễ biểu hiện lòng thành kính đối với Tam Bảo: Tín đồ luôn có một niềm tin sâu sắc và thành kính đối với Tam Bảo. Niềm tin đó tạo sự chuyển hóa trong nội tâm...
19/09/2010(Xem: 25261)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
18/09/2010(Xem: 7339)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, lạc bang giáo chủ, y chánh trang nghiêm, tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cữu phẩm liên đài mông thát hóa
18/09/2010(Xem: 6797)
Từng nghe, pháp không tự khởi, nhờ cảnh mới sanh, đạo chẳng hư hành, gặp duyên liền ứng. Hôm nay, hoa đàn la liệt, Phật sự xiển dương, hương xông triện báu
18/09/2010(Xem: 14412)
Trong Đạo Phật, lòng từ bi được đưa lên hàng đầu. vì thương tưởng đến loài chúng sanh bị đói khát, đau khổ mà đức Phật và chư Tổ đã dạy phương Pháp bố thí cho loài Ngạ quỷ, súc sanh...
15/09/2010(Xem: 5177)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận.
13/09/2010(Xem: 5083)
Quán đảnh đã được định nghĩa một cách khái quát là “hành động hay nghi thức ban ý nghĩa tôn giáo (thánh phước) cho những đồ vật, nơi chốn, hoặc con người; thường bằng năng lực và sự thánh thiện” (Bowker, tr. 234). Trong Phật giáo, quán đảnh đã được miêu tả như một nghi thức biến đổi một pho tượng hoặc một ngôi tháp từ một vật thể thế tục thành tinh tủy của một đức Phật (Bentor 1997).
09/09/2010(Xem: 20466)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
08/09/2010(Xem: 6686)
Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời.
07/09/2010(Xem: 10511)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.