Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Kinh Dụ Ngôn Người Bắt Rắn

04/04/201320:07(Xem: 5110)
Kinh Dụ Ngôn Người Bắt Rắn

KINH TỤNG HẰNG NGÀY

TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
biên soạn

---o0o---

KINH DỤ NGÔN NGƯỜI BẮT RẮN

Thứ ba mươi mốt

Đây là những điều tôi được nghe thời Đức Phật còn du hành ở Sa-va-thi trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà. Lúc bấy giờ, thầy Tỳ-kheo A-ri-tha, vốn xưa là người huấn luyện chim ưng, có quan niệm sai lầm như sau: “Theo sự hiểu biết của tôi về điều Đức Phật dạy, hưởng thụ dục lạc không phải là chướng ngại cho sự tu tập.” O

Biết được như thế, nhiều vị Tỳ-kheo khuyên Tỳ-kheo A-ri-tha rằng: “Này sư huynh A-ri-tha, sư huynh đừng nói như thế, đừng bài báng và vu khống Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn không hề nói như vậy. Bài báng và vu khống Đức Thế Tôn là không tốt. Này, sư huynh A-ri-tha, dục lạc là chướng ngại cho sự tu tập. Thế Tôn đã dùng rất nhiều ví dụ để giúp chúng ta hiểu được điều đó. Sư huynh nên từ bỏ quan niệm sai lầm ấy đi.” Tuy đã được các Tỳ-kheo chỉ bảo như thế nhưng thầy A-ri-tha vẫn không nghe, vẫn bảo thủ quan điểm của mình, vẫn một mực nói rằng điều thầy nghĩ là đúng, ngoài ra các ý kiến khác đều sai lầm. Can thiệp như vậy đến ba lần mà không có hiệu quả, các vị Tỳ-kheo mới đứng dậy bỏ đi. Họ tìm tới Đức Phật. Sau khi đảnh lễ dưới chân Người, các vị ngồi xuống một bên và bạch với Đức Phật đầu đuôi câu chuyện. O

Nghe xong, Đức Thế Tôn dạy rằng: “Các ông hãy tìm đến trú xứ của Tỳ-kheo A-ri-tha và nói với A-ri-tha rằng Như Lai gọi.” Được Đức Phật gọi, thầy A-ri-tha lập tức đến đảnh lễ và ngồi xuống bên Người. Đức Phật hỏi: “Nầy A-ri-tha, ông đã nói rằng theo cái hiểu của ông thì Như Lai không cho sự hành dục là một chướng ngại cho sự tu tập, có phải không?” O

Thầy A-ri-tha đáp:

- Bạch Thế Tôn, con hiểu như vậy.

Đức Phật quay sang hỏi các vị Tỳ-kheo:

- Các vị có từng nghe Như Lai dạy rằng hành dục không gây ra chướng ngại gì cho sự tu tập hay không ?” O

- Bạch Thế Tôn, không. Chúng con không từng nghe như thế. Chúng con đều từng nghe Đức Thế Tôn dạy rằng dục lạc là chướng ngại cho sự tu tập. Thế Tôn thường dạy dục lạc là khúc xương trần, là miếng thịt sống, là bó đuốc rơm cầm ngược gió, là hố than hồng, là con rắn độc, là một giấc mộng, là của vay mượn, là cây sai trái…

- Đúng vậy, các vị tỳ-kheo. Như Lai thường thuyết pháp như thế, quý vị đã nghe đúng. Dục lạc là chướng ngại. Dục lạc là khúc xương trần, là miếng thịt sống, là bó đuốc rơm cầm ngược gió, là hố than hồng, là con rắn độc, là một giấc mộng, là của vay mượn, là cây sai trái…

Các vị đã nghe đúng. Còn ông A-ri-tha đây là người dại dột, đã hiểu lời của Như Lai một cách đảo ngược, về văn cũng như về nghĩa, và như vậy đã vu khống, bài báng Như Lai và cũng đã tự hại mình. Đây là một sự vi phạm, một sự lỗi lầm cho những bậc trí giả.” O

Nghe Đức Thế Tôn quở trách như thế, thầy A-ri-tha cúi đầu yên lặng, trong lòng lo buồn hối hận. Lúc đó, nhân việc này, Đức Phật dạy đại chúng rằng: O

- Những giáo pháp Như Lai nói, các vị phải tìm hiểu nghĩa lý một cách thật tường tận và đúng mức rồi mới nên đem ra hành trì. Nếu chưa tìm hiểu được nghĩa lý một cách tường tận và đúng mức thì trước hết hãy nên hỏi lại Như Lai hoặc hỏi lại các bậc trí giả. Tại sao? Có những người thiếu trí huệ, vì có nhận thức sai lạc về văn và nghĩa, đã hiểu ngược những điều đề cập đến trong các thể tài kinh điển như chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tụng, nhân duyên soạn lục, bản khởi thử thuyết, sinh xứ quảng giải, vị tằng hữu pháp và thuyết nghị. Những người ấy đã học lời dạy của ta với chủ ý tranh luận hơn thua mà không học vì mục đích tu tập giải thoát nên đã bị kẹt vào sự việc mà không tiếp nhận được chân nghĩa của kinh. Họ trải qua nhiều gian nan cực khổ mà không có lợi ích gì, rốt cùng chỉ thêm mệt mỏi. Cũng giống như người đi bắt rắn ở miền hoang dã, thấy rắn liền lấy tay chụp vào mình nó, cho nên bị rắn quay đầu lại mổ vào tay, vào chân hoặc một bộ phận nào khác của cơ thể. O

Bắt rắn như vậy thì không có ích lợi gì mà lại mang họa vào thân. Lý do là người ấy không biết thủ thuật bắt rắn. Người học kinh không thông minh cũng vậy: vì không biết cách học hỏi nên đã hiểu kinh một cách trái ngược. Những kẻ khôn ngoan sẽ biết khéo léo tiếp nhận văn kinh và nghĩa kinh, do đó không có kiến giải đảo lộn. Họ không học vì mục đích khoe khoang và tranh cãi. Họ học với mục đích tìm đường giải thoát. Vì vậy học không hề trở thành điều cực khổ và lao nhọc. Họ cũng giống như người đi bắt rắn mà biết sử dụng một khúc cây có nạng sắt: khi đến vùng hoang dã, thấy rắn lớn, họ ấn nạng ngay xuống cổ rắn và lấy tay bắt ngay đầu rắn. Rắn kia tuy có thể quẩy đuôi quấn tay, quấn chân hoặc một bộ phận khác của cơ thể người bắt rắn nhưng không thể nào mổ người ấy được. Bắt rắn như vậy không khó khăn mà cũng không nguy hiểm, chỉ vì người ấy biết rõ thủ thuật bắt rắn.

Các thiện nam, tín nữ khi học hỏi đến kinh điển, các vị phải khéo léo tiếp nhận văn và nghĩa kinh một cách không đảo lộn thì mới nắm được chánh pháp, không nên học hỏi với mục đích ba hoa tranh cãi, mà nên học hỏi với mục đích tìm cầu giải thoát. Họ không cần trải qua những cực khổ và nhọc nhằn. O

Này thiện nam, tín nữ, Như Lai đã nhiều lần nói với quý vị về dụ ngôn chiếc bè, và căn dặn quý vị phải biết buông bỏ chiếc bè một khi đã qua được bên sông. Ví dụ có một hôm nước trên núi tràn về thành dòng lớn ngập lụt và trôi dạt nhiều thứ. Có kẻ muốn qua bên kia bờ mà không có thuyền cũng không có cầu. Người ấy nghĩ: ta có việc cần phải qua bên kia, nhưng phải tìm phương thế an ổn để mà qua. Nghĩ như vậy rồi liền đi lượm cây cỏ kết lại thành một chiếc bè và dùng bè đó để vượt dòng sang bờ bên kia một cách an ổn. Qua bên kia rồi người ấy tự nghĩ: Ta mất bao nhiêu công phu và thời giờ mới kết được chiếc bè và nhờ nó mà mới qua được bên này. Vậy ta không nên bỏ nó. Bây giờ ta phải khiêng nó lên vai hoặc đội nó lên đầu mà đi.” Người ấy nói rồi làm như thế. Này các thiện nam, tín nữ! Các vị nghĩ người ấy làm như thế có ích lợi gì không ?” O

- Bạch Đức Thế Tôn, không.

- Người ấy làm thế nào để chiếc bè ấy có thể tiếp tục có ích? Người ấy nên nghĩ rằng: Chiếc bè này đã giúp ta vượt dòng sông qua đây an ổn, vậy ta nên thả chiếc bè lại xuống nước hoặc để nó bên bờ, như vậy người đến sau sẽ có được cơ hội dùng nó. Này các thiện nam, tín nữ nghĩ và làm như thế thì có ích lợi không ?” O

- Bạch Đức Thế Tôn, thật sự có lợi ích.

- Như Lai đã nhiều lần nói với các vị về dụ ngôn chiếc bè là vì thế. Pháp mà còn phải buông bỏ huống hồ là cái không phải pháp.

Này các thiện nam tín nữ ! Có sáu nhận thức sai lầm nên buông bỏ. O

Trước hết là sắc thân. Sắc thân dù thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại dù bên trong hay bên ngoài, dù vi tế hoặc thô sơ, dù đẹp hay xấu, dù xa hay gần, sắc thân ấy cũng không phải là của ta cũng không phải là thần ngã. Vị hành giả phải biết quán chiếu để thấy được sự thực về sắc thân. O

Thứ hai là cảm thọ, thứ ba là tri giác, thứ tư là tâm hành. Những pháp ấy dù thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại, dù bên trong hay bên ngoài, dù vi tế hoặc thô sơ, dù đẹp hay xấu, dù xa hay gần, đều không phải là của ta, không phải là ta, cũng không phải là thần ngã. O

Thứ năm là nhận thức: những gì ta thấy, nghe, hay, biết, nắm bắt, quan sát và tư niệm trong thời gian này hay thời gian khác, những thứ ấy đều không phải là của ta, đều không phải là ta, đều không phải là thần ngã. O

Sau hết là thế giới. Có kẻ quan niệm rằng: “Thế giới là thần ngã, thần ngã là thế giới, thế giới là ta, ta sẽ tồn tại không biến dịch sau khi chết, ta là cái vĩnh viễn không mòn diệt.”

Ta nên quán chiếu để thấy rằng thế giới không phải là của ta, không phải là ta, không phải là thần ngã. Quán chiếu để thấy được sự thật ấy về thế giới.” O

Nghe đến đây, một vị Tỳ-kheo đứng dậy trịch vai áo bên phải, chắp tay hướng về Phật bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn, có thể vì lý do nội tại mà có sự hoảng sợ, lo buồn hay không ?

Đức Phật dạy rằng:

- Có thể. Nếu có kẻ nhận thức và nói như sau: Cái ấy ngàn xưa vốn không có rồi trở nên có mà bây giờ tôi lại không có. Nhận thức như thế và nói như thế thì kẻ ấy có thể ưu sầu, than khóc và đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là sự hoảng sợ và lo buồn có lý do nội tại. O

- Bạch Đức Thế Tôn có thể vì lý do nội tại mà không có sự hoảng sợ và lo buồn hay không?

- Có thể. Nếu có kẻ không nhận thức và không nói như sau: Cái ấy ngàn xưa vốn không có bây giờ có mà tôi lại không có. Kẻ ấy sẽ không ưu sầu, than khóc và không đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là sự không hoảng sợ và lo buồn có lý do nội tại. O

- Bạch Thế Tôn, có thể có lý do ngoại tại đưa đến sự hoảng sợ và lo buồn hay không?

- Có thể. Giả sử có kẻ nhận thức và nói như sau: Đây là thần ngã, đây là thế giới, đây là ta, ta sẽ tồn tại mãi về sau. Rồi người ấy gặp Phật hay một người học trò của Phật có đủ thông minh trí tuệ thuyết pháp cho nghe về sự xả ly các kiến chấp về thân, về ngã, về ngã sở, về sự buông bỏ ngã mạn, triền sử và lậu hoặc, kẻ ấy có thể nghĩ rằng: “Thôi thế là hết, ta sẽ buông bỏ tất cả, ta không phải là thế giới, là ta, là thần ngã, ta sẽ không tồn tại mãi về sau, sau khi chết ta sẽ hoàn toàn đoạn diệt, không còn gì nữa để mà thương, để mà vui, để mà ghi nhớ.” Nghĩ như thế, kẻ ấy có thể ưu sầu, than khóc và đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là lý do ngoại tại có thể đưa đến sự hoảng sợ và lo buồn. O

- Bạch Đức Thế Tôn có thể có lý do ngoại tại đưa đến sự không hoảng sợ và lo buồn hay không?

- Có thể. Giả sử có kẻ không nhận thức và nói như sau: Đây là thần ngã, đây là thế giới, đây là ta, ta sẽ tồn tại mãi về sau. Rồi người ấy gặp Phật hay một người học trò của Phật có đủ thông minh trí tuệ thuyết pháp cho nghe về sự xả ly các kiến chấp về thân, về ngã, về ngã sở, về sự buông bỏ ngã mạn, triền sử và lậu hoặc, kẻ ấy không nghĩ rằng: “Thôi thế là hết, ta phải buông bỏ tất cả, ta không phải là thế giới, là ta, là thần ngã, ta sẽ không tồn tại mãi về sau, sau khi chết ta sẽ hoàn toàn đoạn diệt, không còn gì nữa để mà thương, để mà vui, để mà ghi nhớ.” Người ấy sẽ không ưu sầu, than khóc và đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là lý do ngoại tại đưa đến không hoảng sợ và lo buồn. O

Nói xong, Đức Phật nhìn đại chúng rồi hỏi rằng:

- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các thiện nam, tín nữ. Các vị có nhận thức về năm uẩn và cái ta như một cái gì thường trú, không biến dịch và không hoại diệt hay không ?” O

- Bạch Thế Tôn, không.

- Có một cái gì mà ta tiếp nhận và nắm bắt với sự tham ái mà lại không gây ra lo lắng, mệt nhọc than khóc, khổ đau và tuyệt vọng hay không?

- Bạch Thế Tôn, không.

- Quý vị có thấy chỗ tựa nào cho một ngã kiến mà không đem lại lo lắng, mệt nhọc, than khóc khổ đau và tuyệt vọng hay không?” O

- Bạch Thế Tôn, không.

- Hay lắm ! Vì có ý niệm về “ta” cho nên có ý niệm về “của ta,” nếu không có ý niệm về “ta” thì sẽ không có ý niệm về “của ta.” Ta và của ta đều là những ý niệm không thể nắm bắt được, không thể thiết lập được. Những nhận thức sai lầm ấy nếu phát sinh trong tâm ta sẽ kết thành những triền sử. Những triền sử ấy được phát sinh từ những khái niệm không nắm bắt được mà cũng không thành lập được. Phải chăng cái đó hoàn toàn chỉ là những nhận thức sai lầm và những hậu quả nối dài của những nhận thức sai lầm ấy, như trong trường hợp A-ra-tha xưa kia làm nghề huấn luyện chim ưng. O

Nghe Đức Phật dạy, đại chúng đáp: Đúng như thế, thưa Đức Thế Tôn. Đó hoàn toàn chỉ là những nhận thức sai lầm và những hậu quả nối dài của những nhận thức sai lầm ấy, như trường hợp thầy A-ra-tha.

Đức Phật dạy: “Nếu quả sáu đối tượng sắc thọ tưởng hành thức và thế giới ấy mà không thấy có cái ta và cái của ta, vị hành giả không bị vướng vào những ràng buộc của cuộc đời. Vì không bị vướng vào cho nên không hoảng sợ, không hoảng sợ cho nên đạt được Niết-bàn. Vị ấy biết luân hồi khổ đau đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn tất, điều cần làm đã làm, không còn bị sanh tử nữa, và nhận thức được thực tại. Một vị hành giả như thế đã lấp được thông hào, vượt được thông hào, phá được thành quách, mở tung đuợc lề khóa, soi được vào gương thánh trí. O

Thế nào là lấp được thông hào? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của vô minh; vô minh đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. O

Thế nào là vượt được thông hào? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của hữu và ái; hữu và ái đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa.

Thế nào là phá tan thành quách? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của sanh tử luân hồi; sanh tử luân hồi đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. O

Thế nào là mở tung lề khóa? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của năm thứ độn sử; năm thứ độn sử đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. O

Thế nào là soi được vào gương thánh trí? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của ngã mạn; ngã mạn đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. O

Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, thiện nam tín nữ ! Đó là trường hợp của Như Lai và của các vị hành giả đã giải thoát. Vua trời Đế-thích, Sinh Chủ, Phạm Thiên và quyến thuộc của họ dù có đi tìm kiếm cũng không thể nào thấy được dấu tích, y cứ của tâm thức Như Lai. Như Lai thường nói: Như Lai là trạng thái cao quý. Như Lai là trạng thái mát mẻ. Như Lai là trạng thái không nóng bức. Như Lai là trạng thái không còn khóc than. Vì nghe Như Lai giảng dạy như thế nên nhiều vị Sa-môn và Phạm-chí đã vu báng Như Lai là vọng ngôn, là không chân thật. Họ nói: Sa-môn Gotama chủ trương thuyết hư vô và tuyên dương chủ nghĩa hoại diệt; trong khi chúng sanh là những thực thể có thật. Những điều họ nói, Như Lai có bao giờ chủ trương đâu. Như Lai thực sự chỉ nói pháp diệt khổ đem đến trạng thái vô ưu. O

Nếu có ai tới mắng nhiếc, khiêu khích, phỉ báng, đánh đập, Như Lai cũng không giận dỗi, không ghét bỏ cũng không có ý trả thù. Cũng như nếu có người tới cung kính, cúng dường lễ bái và tôn trọng Như Lai thì không phải vì thế mà Như Lai mừng rỡ. Như Lai chỉ nghĩ rằng người ấy đến là vì thành quả của sự đạt ngộ và của sự chuyển hóa nơi Như Lai mà thôi. O

Này các thiện nam tín nữ ! Nếu người ta tới mắng nhiếc, khiêu khích, phỉ báng, đánh đập các vị, hoặc tới cung kính, cúng dường lễ bái và tôn trọng quý vị thì quý vị cũng không nên vì thế mà mừng rỡ hoặc sanh lòng giận dữ muốn trả thù lại họ. Vì sao? Vì xét ra thì không có cái ta mà cũng không có cái của ta. Ví như bây giờ đây, ở tại bên ngoài khu vườn này, có người góp nhặt cành khô và cỏ khô đem về đốt và sử dụng, thì chúng ta có nên nghĩ là chúng ta đang bị người ta đem đốt và sử dụng không? O

- Bạch Thế Tôn, không.

- Cũng như thế đó ! Nếu người ta có tới khen ngợi, cung kính cúng dường hoặc chê bai, mắng nhiếc và phỉ báng, thì chúng ta cũng nên lấy đó làm mừng hoặc làm giận. Tại sao thế? Tại vì cái ta đã không có mà cái của ta cũng không. Chánh pháp đã được Như Lai trình bày đầy đủ, không có khuyết điểm và đã được truyền bá rộng rãi trong hai cõi người và trời. O

Nếu có chánh trí mà hiểu thấu được thì hiệu lực của chánh pháp ấy sẽ vô cùng. Nếu khi mạng chung mà chuyển hóa được năm độn sử thì trong đời kế tiếp sẽ đạt được Niết-bàn, vào được địa vị không thoái chuyển và không còn trở lại luân hồi sanh tử. Nếu khi mạng chung mà chuyển hóa được ba kiết sử tham, sân, si thì chỉ cần sinh ra thêm một lần trong cõi trời hay cõi người rồi cũng tới được biên giới của giải thoát. Nếu khi mạng chung mà đắc quả Tu-đà-hoàn thì không còn rơi vào ác pháp, nhất định đi về hướng chánh giác, sau bảy lần sinh lại trong cõi trời và người thì sẽ tới được biên giới của giải thoát. Nếu khi mạng chung mà đã có lòng tin hiểu nơi giáo pháp thì đều sẽ sinh lên những cõi lành và sẽ tiếp tục đi trên con đường hướng về nẻo thánh. O

Khi nghe Đức Phật dạy xong, các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, và thiện nam, tín nữ đều hoan hỷ, phụng hành và phát nguyện truyền bá kinh này. O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO


--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Thầy Nhật Từ đã gởi tặng bản Kinh điện tử này
( Quang Duc Website 04/2002)
--- o0o ---
Trình bày : Nguyên Hân- Nguyên Phúc

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/09/2010(Xem: 8348)
Trong Đạo Phật, lòng từ bi được đưa lên hàng đầu. vì thương tưởng đến loài chúng sanh bị đói khát, đau khổ mà đức Phật và chư Tổ đã dạy phương Pháp bố thí cho loài Ngạ quỷ, súc sanh...
15/09/2010(Xem: 4079)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận.
13/09/2010(Xem: 3902)
Quán đảnh đã được định nghĩa một cách khái quát là “hành động hay nghi thức ban ý nghĩa tôn giáo (thánh phước) cho những đồ vật, nơi chốn, hoặc con người; thường bằng năng lực và sự thánh thiện” (Bowker, tr. 234). Trong Phật giáo, quán đảnh đã được miêu tả như một nghi thức biến đổi một pho tượng hoặc một ngôi tháp từ một vật thể thế tục thành tinh tủy của một đức Phật (Bentor 1997).
09/09/2010(Xem: 17574)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
08/09/2010(Xem: 5564)
Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời.
07/09/2010(Xem: 6190)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.
31/08/2010(Xem: 8013)
Trước cửa Phật lập đàn phổ thí, Cho trọn đều quân lợi âm dương, Quang minh tỏ khắp mười phương, Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào. Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp, Bóng mây từ che rợp mọi nơi, Lọt đâu dưới đất trên trời, Từ bi tế độ muôn đời viên thông. Trên đức Phật rất công rất chính, Dạy cho đời luyện tính tu tâm, Thương người đọa kiếp tối tăm, Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.
27/08/2010(Xem: 46460)
Đi thuyết linh nhiều nơi, thấy nhiều trường hợp oan gia trái chủ hiển bày rất rõ nét, cần phải giải trừ để có một đời sống an lạc. Rất nhiều Phật tử, thấy tâm tư không an khi nhìn lại đời sống đã gây nên tội lỗi oan trái muốn giải trừ, mà chưa có nhận thức đúng đắn.
05/08/2010(Xem: 4479)
Thiết dĩ, thể tánh hư hàm, bí thảo điêu tàn du vị tử, Thiền cơ diệu ngộ, đàm hoa lạc khứ hữu dư hương. Xuất một tự như, Khứ lai vô ngại. Cung duy - Tôn sư: Đạo phong trác thế, Giới đức siêu trần.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]