Kinh Dhammadinna (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:39(Xem: 3081)
Kinh Dhammadinna (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

Phat thuyet phap
KINH DHAMMADINNA

HT. Thích Thiện Châu giảng giải

Phật tử Diệu Danh diễn đọc


 
Kinh DHAMMADINNA thuộc Tương Ưng Bộ (Samyutta-Nikâya), tập V, Chương VI, số 53, trang 406 (Pâli Text Society). Hòa Thượng Thích Minh Châu đã dịch toàn bộ, Tủ thư Phật học Vạn Hạnh xuất bản 1982. Nội dung kinh có thể tóm tắt như sau:

           Cư sĩ (Upâsaka) Dhammadinna cùng 500 cư sĩ bạn xin Phật thuyết pháp. Phật khuyên nên thấu triệt đạo lý KHÔNG (Sunnatâ) trong các kinh sách do Phật thuyết. KHÔNG ở đây có nghĩa là Vô Ngã (Anattâ).

          Chúng sanh (être vivants) và vũ trụ tuy hiện hữu song vốn không chắc thật vì được hình thành bởi các nhân duyên. Ví dụ: con người là một tổng hợp của năm uẩn (khandha): (1) SẮC (vật chất) (2) THỌ (cảm giác+tình cảm) (3) TƯỞNG (nhận thức), (4) HÀNH (vô thức+ý chí) (5) THỨC (phân biệt, hiểu biết). Và chính năm uẩn cũng là những tập hợp không chủ thể. Con người đã không phải là một chủ thể ngã, thì làm gì có sở hữu của ngã. Xa hơn, bản ngã siêu hình cũng chỉ là vọng tưởng. Nếu nhận chân được đạo lý Vô ngã hay không thì chúng ta có thể cởi mở những ràng buộc phi lý do vô minh và phiền não gây ra; nghĩa là chứng đạt Niết Bàn. Không hay vô ngã là đạo lý đặc thù của đạo Phật mà không thể tìm thấy trong các tôn giáo và triết lý khác.

          Vì tin tưởng vào khả năng giác ngộ giải thoát của con người, ngay cả những người sống trong cuộc đời bận rộn, phiền toái, nhiều ràng buộc, Phật khuyên dạy cư cĩ Dhammadinna và các bạn đạo học hỏi và tu dưỡng theo đạo lý Không để được hạnh phúc an lạc lâu dài. Song vì biết rõ khả năng của mình, cư sĩ Dhammadinna xin Phật giảng dạy cho các phép tu học thích hợp hơn đối với người tu tại gia.
          Phật lại khuyên cư sĩ Dhammadinna nên tu học theo bốn pháp căn bản- thành tựu lòng tin không lay chuyển đối với
(1)  PHẬT – bậc giác ngộ giải thoát hoàn toàn
(2)  PHÁP – chánh pháp trong sáng, thực tiễn, lợi ích
(3)  TĂNG – những người tu hành đạo hạnh, đáng tôn kính và lợi ích cho chúng sanh.
(4)   GIỚI – năm giới căn bản mà chủ yếu là tôn trọng sự sống, tài sản kẻ khác, hạnh phúc gia đình. Sự thật và phát triển trí tuệ.
   Sau đó, cư sĩ Dhanmmadinna trình bày sự thành tựu bốn pháp của mình và của các bạn đạo. Phật ca ngợi và chứng nhận Dhammadinna và 500 cư sĩ đã chứng đạt quả vị Dự lưu (tu đà hoàn – Sotâpatti) trong khi tự những cư sĩ ấy không thể tuyên bố là họ đã chứng đạt quả vị Dự lưu.
Qua nội dung kinh, chúng ta có thể thấy rõ ràng hạnh phúc an lạc lâu dài có thể thực hiện ngay ở đây và bây giờ bằng hai phương pháp. Lẽ dĩ nhiên, phương pháp có khác nhau thì kết quả không giống nhau:
- Phương pháp thứ nhất gọi là ĐẠT ĐẠO, nghĩa là với khả năng thông minh, lanh lợi và hoàn cảnh không ràng buộc, người tu hành có thể nhập đạo lý không nhờ sự khai sáng của các bậc giác ngộ hay kinh điển sâu sắc phù hợp với đạo lý Không: Vô Ngã; và như vậy chứng đạt được quả vị A La Hán, giải thoát mọi sự ràng buộc và đau khổ sau khi trừ sạch 10 kiết sử: (1) Thân kiến: chấp có cái ta (Samyojana); (2) Nghi: không tin chơn lý và người tìm ra chân lý; (3) Giới cấm thủ: mê tín tà giới cho rằng những điều kiêng cử tà vạy có thể đưa đến giác ngộ giải thoát; (4) Tham dục: đam mê dục lạc (5) Giận dữ: tàn bạo, độc ác (6): Tham sắc: đam mê hình sắc vi tế thuộc sắc giới (7): Tham vô sắc: đam mê sự hiện hữu thuộc vô sắc giới (8): Mạn: kiêu căng. Ngạo mạn  (9) : Giao động: náo động bên ngoài, không thanh tịnh trong tâm (10): Vô minh: không hiểu khổ và khổ diệt.
- Phương pháp thứ hai: tạm gọi là TU ĐỨC, nghĩa là mặc dù khả năng phát triển trí tuệ bị hạn chế và phải sống trong hoàn cảnh có nhiều ràng buộc cá nhân, gia đình, xã hội, người tu hành với sự thành tựu lòng tin bất động đối với Ba ngôi báu và có nếp sống quân bình lành ích, có thể chứng đạt quả Dự lưu  (Sotâpatti: vào giòng, vào đạo) sau khi trừ sạch 3 kiết sử: (1): Thân kiến, (2): Nghi và (3): Giới cấm thủ và lần lần chứng đạt quả vị Nhất Lai (Sakadâgâmi: sanh lại một lần) sau khi trừ được phần thô kệch của kiết sử thứ 4 và 5, tức là tham dục và giận dữ, rồi chứng đạt quả vị Bất hoàn (Anâgâmi: không sanh lại trong cõi đời này) sau khi trừ sạch 5 kiết sử đầu, tức là từ kiết sử 1 đến thứ 5 và cuối cùng là chứng đạt quả vị A La Hán (Arahatta) – giải thoát hoàn toàn sau khi trừ sạch 10 kiết sử.
Điều cần lưu ý là 4 đạo quả có thể chứng đạt ngay trong đời này. Song nếu chưa đủ khả năng chứng đạt 3 quả vị sau cùng thì người tu hành sau khi chết, nếu đã chứng đạt Dự lưu, tái sanh 7 lần trong cõi đời này để tu hành thêm mới chứng đạt vô sanh (A La Hán), nếu đã chứng đạt Nhất lai 1 lần… nếu đã chứng đạt Bất hoàn, sanh về Tịnh Độ (gồm có 5 cõi thuộc Sắc giới (rupaloka) Vô phiền (Âviha). Vô nhiệt (Atappa), Thiện kiến (Sudassa), Thiện hiện (Sudassi), Sắc cứu cánh (Akanittha) và từ đó chứng đại A La Hán.
Như vậy bốn đạo quả Niết Bàn có thể chứng 1 lần hay nhiều lần, trong đời này hay những đời sau.
 
CHÁNH KINH
 
Một thời Thế Tôn ở Bârânasi, tại Isipatana, trong vườn nai. Bấy giờ cư sĩ Dhammadinna (1) cùng 500 cư sĩ đi đến Thế Tôn, rồi ngồi xuống 1 bên. Ngồi xuống 1 bên rồi, cư sĩ Dhammadinna bạch với Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn giảng dạy cho chúng con, xin Thế Tôn chỉ bảo cho chúng con để cho chúng con có được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
-Vậy thì, này Dhammadinna, các người cần nên tu học như vầy: Đối với những kinh điển  do Như Lai thuyết giảng sâu sắc, nghĩa lý sâu sắc, siêu việt, phù hợp với đạo lý KHÔNG (2) nên thường xuyên dốc lòng học hỏi. Như thế, này Dhamadinna, các người càng nên tu học.
- Bạch Thế Tôn, thật không dễ gì cho chúng con, những kẻ sống trong nhà đông con, thích chiên đàn của Kâsi, (3) đeo tràng hoa, thoa hương phấn, cất giữ vàng bạc, thường xuyên dốc lòng học hỏi những kinh điển sâu sắc, lý nghĩa sâu sắc, siêu việt, phù hợp (đạo lý) KHÔNG. Vậy xin Thế tôn giảng dạy cho chúng con, những kẻ an trú trong 5 giới (4) các giáo pháp khác.
- Vậy thì, này Dhammadinna, các người cần nên tu học như vầy: chúng tôi sẽ thành tựu lòng tin bất động đối với Phật – Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự Trượng phu, thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn. Chúng tôi sẽ thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp -  Pháp do Thế Tôn khéo giảng, thiết thực trong hiện tại, có hiệu quả tức thời, cần đến mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình hiểu thấu.
Chúng tôi sẽ thành tựu lòng tin bất động đối với Tăng – Diệu Hạnh là đệ tử thanh văn của Thế Tôn. Trực Hạnh là đệ tử thanh văn của Thế Tôn. Chơn Chánh Hạnh là đệ tử thanh văn của Thế Tôn, Hòa Kính Hạnh là đệ tử thanh văn của Thế Tôn Tức là bốn đôi và tám bậc thượng nhân. (5) Đệ tử thanh văn của Thế Tôn là đáng cung kính, cúng dường, tôn trọng, vái chào, là ruộng phước không gì hơn trong đời.
Chúng tôi sẽ thành tựu giới được các bậc ưa thích, không bị bể nát, đứt đoạn, lấm lem, nhơ nhớp, đưa đến giải thoát, được người trí khen ngợi, không bị chấp thử và dần đến thiền định. Như vậy, này Dhammadinna, các người nên tu học.
- Bạch Thế Tôn. Bốn pháp dẫn đến dự lưu  (Sotâpatti) (6)  được Thế Tôn giảng dạy, có mặt nơi chúng con; chúng con đã thực hiện những pháp ấy.
- Bạch Thế Tôn, chúng con thành tựu lòng tin bất động đối với Phật, Pháp, Tăng và Giới (7). Này Dhammadinna, lợi ích thay cho các người. Này Dhammadinna quả thật lợi ích cho các người, Nầy Dhammadinna, người đã tuyên bố về quả dự lưu (8)
 
 
CHÚ THÍCH SƠ LƯỢC
 
1)    Dhanmmadinna: cư sĩ Dhanmmadinna là một trong bảy đệ tử tại gia có đến 500 bạn đạo
2)    KHÔNG (sunnatâ): Đạo lý KHÔNG trong kinh này có nghĩa là Vô ngã (nhơn không, pháp không) do Phật Tổ thuyết minh, trong mục đích giúp chúng ta nhận rõ sự thật nơi con người và cuộc đời không chắc thật, bền lâu,  do đó không "chấp thủ" và tự tại an vui cuộc sống. Sự vật vốn không có chủ thể  chứ không phải là không có. Bong bóng hiện hữu là nhờ có nước xà phòng, ống thổi và hơi người thổi, song không hề có chủ thể chắc thật thường còn của bong bóng. Do biết rõ bong bóng vốn là không thật nên khi bong bóng hiện ra với màu sắc long lanh chúng ta không vui mừng đến nỗi điên cuồng, và khi bong bóng tan vỡ chúng ta không buồn phiền đến nỗi chết lịm. Chỉ người lớn mới biết sự thật của bong bóng. Thánh nhân mới hiểu sự thật của cuộc đời.
3)    KÂSI tức là VARANASI (Bébarès) bây giờ. Đây là một thành phố cổ, nằm trên khúc sông  Gange "linh thiêng“ Ấn Độ và cách đây 2500 năm, lúc Phật ra đời, đã có nền văn minh khá cao: dân chúng đã biết dùng hương phấn và ngay cả áo quần dệt bằng chỉ vàng thật.
4)    5 GIỚI: là không sát sanh, trộm cướp, tà hạnh, dối trá và uống dùng các loại rượu và thuốc làm say loạn tâm ý.
5)     Bốn đôi đạo quả cũng là bậc thượng nhân: 1 – 2 Dự lưu đạo – Dự lưu quả 3 – 4 : Nhất lai đạo – Nhất lai quả 5 – 6: Bất hoàn đạo, Bất hoàn quả 7 – 8: Vô sanh đạo, Vô sanh quả.
6)    DỰ LƯU: Vào giòng thánh hay vòng cửa đạo. Đã chứng đạt dựu lưu thì chắc chắn không còn thối lui và thẳng tiến đến Niết Bàn.
7)    Đoạn này dịch gọn lại: có thể xem ở đoạn trên về Phật Pháp Tăng
8)    Người tu hành dù chứng đạt đạo quả cũng không tự khoe. Nếu khoe thì phạm lỗi tăng thượng mạn. Nếu chưa chứng đạt mà nói là đã thì thì phạm tội vọng ngữ, 1 trong 4 tội nặng hải ra khỏi Giáo Hội.
 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/02/2026(Xem: 2453)
CÁO BẠCH HỘI ĐỒNG GIÁO PHẨM TRUNG ƯƠNG VIỆN TĂNG THỐNG GHPGVNTN Thành kính cáo bạch Trưởng lão Hòa thượng thượng NGUYÊN hạ ĐẠT, tự PHƯỚC AN Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN Nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa, Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã thuận thế vô thường viên tịch vào lúc 11 giờ 50, ngày 09 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 22 tháng Chạp năm Ất Tỵ). Trụ thế: 79 năm, 57 hạ lạp Tang lễ Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch được cung kính cử hành tại Phật Học Viện Hải Đức (Chùa Hải Đức), số 42 Hải Đức, phường Tây Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. • Lễ cung thỉnh báo thân Trưởng lão Hòa thượng nhập kim quan vào lúc: 07 giờ 00, ngày 10 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 23 tháng Chạp năm Ất Tỵ). • Lễ phụng tống kim quan trà tỳ tại Đài hỏa táng Phương Bắc Nha Trang được cử hành vào lúc: 15 giờ 00, ngày 11 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 24 tháng Chạp năm Ất Tỵ). Phụng hành di ngôn của Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch: – Tang lễ thực
11/02/2026(Xem: 606)
Trong lịch sử hình thành và phát triển của các cộng đồng tôn giáo ở hải ngoại, hiếm có sự kiện nào mang tính biểu tượng sâu sắc như việc một chính quyền thế tục Tây Phương đặt tên đường mang tên của một bậc tu hành. Sau sự kiện đặt tên đường “Thích Nhất Hạnh Way” ở New York vào tháng 4 năm 2025; giờ tiếp nối đến sự kiện thành phố Évry-Courcouronnes, ngoại ô Paris, nước Pháp, quyết định đặt tên một đoạn đường cạnh Đại Tự Khánh Anh là Rue du Très Vénérable Thích Minh Tâm – Đường Hòa Thượng Thích Minh Tâm. Đây không chỉ là một sự kiện mang tính hành chánh thông thường, mà còn việc xác lập một giá trị: Giá trị của đạo đức, của phụng sự và trí tuệ Phật giáo đã được xã hội Tây phương nhìn nhận như một phần di sản văn hóa chung của cả nhân loại.
10/01/2026(Xem: 1729)
Thời gian qua thật mau, vậy mà đã hai năm Thầy rời bỏ Ta Bà bỏ chúng con ra đi, để lại cho chúng con niềm tiếc thương vô hạn.. Hôm nay giữa xứ lạnh của mùa Giáng Sinh gần kề nơi xứ người, con ngồi đây đọc bài "Ôn Cố Tri Ân" trong báo Viên Giác mà bồi hồi, xúc cảm … Đã lâu lắm rồi Thầy ơi, con không còn được nghe thông điệp của các Ngài, những thông điệp của Đức Tăng Thống mà con nghĩ rất cần thiết cho hàng Phật tử chúng con, cũng như cho tất cả những ai có lòng yêu thương đất nước, đất nước Việt Nam đã chịu qúa nhiều đau khổ bởi chiến tranh, bởi thiên tai, và nhất là dưới chế độ phi nhân tính của cộng sản. Phải chăng Giác Linh Thầy đã về đây để hộ trì cho chúng con, nước mắt con lăn dài, hình ảnh sự biến Lương Sơn lại hiện về trong con qua bài tường thuật của Thầy tại đồn biên phòng Lương Sơn, ngày 8.10.2003, Thầy đã dùng lý luận để vạch rõ dã tâm của cộng sản, giả trá, chụp mũ, vu khống, bắt cóc, hình ảnh Hòa Thượng Quảng Độ bị chúng dìu lên xe, mặc cho Hòa Thượng chống đối, chú
16/12/2025(Xem: 2617)
Người viết đọc bản tin xong , mà trong đầu vẫn vấn vương với những lời viết như sau : những hành động dấn thân phụng sự cộng đồng bằng nhiều hình thức thiết thực: tổ chức cứu tế, ủy lạo những gia đình gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, trợ giúp người già yếu và đơn, ân cần an ủi, nâng đỡ tinh thần cho những người đang chịu mất mát và đau khổ là sự khẳng định vai trò tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội, đặc biệt trong những thời khắc khó khăn nhất của nhân loại.
14/12/2025(Xem: 2385)
Ngài là Pháp hữu cùng thế hệ với chư vị Tôn túc: Ôn Huyền Quang, Ôn Trí Nghiêm, Ôn Đổng Minh, và các bậc cao tăng đồng thời với Ngài Huyền Tôn bên Úc. Những hình ảnh mà Thầy nhắc đến chính là Tu Viện Kim Sơn tại Huế, nơi được xem là Đại học Phật giáo đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Bức ảnh ấy không chỉ là một tư liệu đơn lẻ, mà là dấu ấn của cả một thế hệ Cao Tăng Phật giáo Việt Nam. Có những tấm hình do chính Hòa Phụ bấm máy, cách nay đã hơn 60 năm.
10/12/2025(Xem: 1890)
Trọn niềm thương nhớ hướng quê hương Mùa Đông Ất Tỵ cảnh tang thương Bao nhiêu đổ nát, bao chua xót Quả thật thế gian, cõi vô thường! Vẫn biết duyên trần chẳng bền lâu Người nỡ ra đi chóng thế sao? Vốn hẹn Hiển Nam ngày tái ngộ Nhưng người Pháp Lữ, biết tìm đâu?!
06/12/2025(Xem: 1239)
Nghĩ gì về Thầy Tuệ Sỹ? Nếu có ai hỏi như thế, tôi sẽ nói rằng tôi chưa thể hiểu tới một phần rất nhỏ những gì Thầy viết, mặc dù tôi vẫn đọc Thầy đều đặn. Cũng như một người đứng dưới chân núi, biết được những gì để dám nói về núi. Tôi không dám so sánh Thầy Tuệ Sỹ với bất kỳ ai, vì tôi không đủ kiến thức và trình độ để đối chiếu bất kỳ kho kiến thức và hành trình tu học của bất kỳ ai.
06/12/2025(Xem: 1252)
Khi đại thụ ngã xuống, một khoảng trời trống vắng cô liêu bày ra nhưng trong tâm tưởng con người thì bóng dáng đại thụ vẫn sừng sững không thể xóa nhòa. Khi lau sậy gầy hao phơ phất trong nắng tà quái chiều hôm, bông lau trắng xóa cả trời chiều, tưởng chừng như vô thanh nhưng sóng âm đồng vọng ngập trong đất trời.
28/11/2025(Xem: 1663)
Kính bạch Giác Linh Thầy Từ Tây Đức xa xôi con theo chân Chư vị Tôn Đức, thân bằng thuộc cùng Phật tử về đây để dự lễ Trà Tỳ, tiễn đưa Thầy về Quê Hương Phật, trên nắp kim quan Thầy phủ đầy những cành hoa hồng đủ màu sắc của mà chư vị Tôn Đức Tăng Ni, quý Phật tử kính thương Thầy đã đặt trên đó với lòng tri ân và sự tiếc thương dâng cúng Thầy, con như ngửi được mùi thơm, như hương đức hạnh của Thầy, một vị Thầy đã suốt đời hiến dâng cho Dân Tộc và Đạo Pháp. Nhìn chiếc kim quan Thầy được nâng lên, đẩy vào đài hỏa táng, bao nhiêu cành hồng dạt xuống, con nghe như Thầy bảo "cảm ơn các con thương yêu, tạm biệt các con, các con về đi, chịu khó tu học, Thầy chúc các con thân tâm thường an lạc, Thầy sẽ trở lại.." tim con như quặn thắt, con mới biết ra rằng từ nay vĩnh viễn con không còn được nghe tiếng Thầy nữa…Thầy ơi!
14/11/2025(Xem: 1456)
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ — húy thượng Nguyên hạ Chứng, đời thứ 44 dòng Lâm Tế — đã thuận thế vô thường, viên tịch vào ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại Chùa Phật Ân, Việt Nam. Ngài là bậc Cao Tăng Thạc Đức, người đã cống hiến trọn đời cho Phật Giáo Việt Nam, Dân Tộc, và Giáo Dục. Từ Viện Đại Học Vạn Hạnh đến các Viện Cao Đẳng Phật Học như Hải Đức – Nha Trang và Quảng Hương Già Lam – Sài Gòn, Ngài đã dìu dắt và đào tạo bao thế hệ Tăng, Ni, Phật tử. Ngài là nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh Điển với những công trình vĩ đại như Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết, Kinh Thắng Man, A-hàm, Luận Câu-xá, Luận Thành Duy Thức, cùng Đại Tạng Kinh Việt Nam được phục hoạt vào năm 2021.