Bàn về hai chữ Nhậm Vận

06/04/201712:27(Xem: 6835)
Bàn về hai chữ Nhậm Vận


hoa_sen (11)

BÀN VỀ HAI CHỮ NHẬM VẬN

 

Nói đến văn học Phật giáo Việt Nam thì ai cũng biết bài thơ Thị đệ tử (Dặn học trò) của thiền sư Vạn Hạnh:

 

示 弟 子

             

身 如 電 影 有 還 無 

萬 木 春 榮 秋 又 枯 

任 運 盛 衰 無 怖 畏 

盛 衰 如 露 草 頭 舖

                   

Thị đệ tử

        

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

 

Có hai bản dịch tiêu biểu, đó là bản dịch của H.T Thích Mật Thể:

 

Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ xuân tuơi tốt thu qua rụng rời 

Xá chi suy thịnh cuộc đời 

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành. 

 

Và bản dịch của Ngô Tất Tố:

 

Thân như bóng chớp có rồi không

Cây cối xuân tươi, thu não nùng 

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi 

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

 

Ngoài ra còn có nhiều bản bản dịch khác nhưng không tiện dẫn ra.

 

Ở đây, chúng tôi chỉ muốn bàn về hai chữ “nhậm vận” trong câu “nhậm vận thịnh suy vô bố úy”. Câu này nhiều vị dịch thơ như sau:

 

- Theo vận thịnh suy không sợ hãi. 

- Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi. 

- Nhìn cuộc thịnh suy không sợ hãi. 

- Tùy vận thản nhiên khi lên xuống. 

- Thế cuộc mất còn chi phải sợ.

- Thịnh suy tùy vận không lo lắng.

 

Hoặc là diễn đạt ý nghĩa:

 

- Mặc cho thời vận của cuộc đời thịnh hay suy gì cũng đừng nên lo lắng mà chi.

- Đã nhậm vận, thì thịnh hay suy không làm cho sợ hãi.

- Tu tập đạt đến trình độ thông hiểu mọi quy luật của thân, vạn mộc rồi thì không lo sợ nữa. Nhậm vận tức là hằng ngày sống một cách bình thản an nhiên với tất cả mọi người, không có vấn đề gì cả. 

- Thế nên thịnh suy trong cuộc đời không có gì phải sợ hãi mà phải luôn gánh vác trách nhiệm, phải biến bị động thành chủ động để nắm lấy thời vận mà hành động một cách linh hoạt bất kể là thịnh hay suy.

- Một khi người tu hành đã đạt tới “nhậm vận” thì có thể hoà đồng giữa ngoại giới và nội tâm, vượt lên trên sự phân định giữa cái ta và cái không ta. Như vậy, “nhậm vận” như thế là biết trở về với sự an nhiên nằm trong sự vận động vĩnh cửu, một sự vận động vô thuỷ, vô chung, trong đó cuộc đời con người chỉ như là ánh chớp có rồi không, rất ngắn ngủi và sự thịnh suy như giọt sương treo đầu ngọn cỏ.

 

Theo từ điển Hán ngữ định nghĩa:

【 từ mục 】nhậm vận【độc âm 】rèn yùn

【 thích nghĩa 】nhậm pháp chi tự nhiên vận động, bất gia nhân công đích tạo tác, vị thính bằng mệnh vận an bài. (Mặc cho sự vật tự nhiên vận động, không cần thêm sức người tạo tác, nghĩa là như mặc cho vận mệnh an bài.)

【 xuất xứ 】《Tống thư - Vương Cảnh Văn truyện》: “Hữu tâm ư tị họa, bất như vô tâm ư nhậm vận.” (Hữu tâm để tránh tai họa, không bằng vô tâm để xuôi theo tự nhiên.)

【詞目】任運【讀音】rèn yùn

【釋義】任法之自然運動,不加人工的造作。謂聽憑命運安排。

【出處】《宋書·王景文傳》:“有心於避禍,不如無心於任運。”

 

Theo Tự điển Phật Quang ghi:

“Nhậm vận (任運): Đồng nghĩa: Vô công dụng. Không cần dụng công tạo tác để thành tựu sự nghiệp, cứ thuận theo sự tự nhiên của các pháp mà vận hành. Thông thường, từ Thất địa trở về trước thì phải dụng công tu tập, còn từ Bát địa trở lên thì không cần dụng công nữa, mà chỉ thuận theo pháp tính tự nhiên. Vãng sinh lễ tán (Đại 47, 439 thượng) nói: Tự nhiên nhậm vận, tự lợi, lợi tha, không hạnh nào chẳng đầy đủ. Đây là hiển bày cái đức nhậm vận tự nhiên của Tịnh độ cực lạc, đầy đủ các hạnh lợi mình và lợi người. [X. Ma ha chỉ quán Q.5].”

 

Có trên 3,500 kết quả của từ “nhậm vận” trong Đại chánh tạng, cho thấy nhậm vận là một thuật ngữ rất quan trọng trong kinh điển Phật giáo. Xin dẫn ra đây một số thí dụ: 

 

Kinh Hoa Nghiêm, No. 0279, Thật-xoa-nan-đà dịch, Q.37, tr. 193c27: “Ở trong các thú, khởi thân ngũ uẩn gọi là sanh; suy biến gọi là lão; chết mất gọi là tử. Lúc lão tử sanh ra những nhiệt não. Do nhiệt não nên đủ thứ khổ ưu sầu, buồn than tập hợp lại. Đây là do duyên mà tập hợp chứ không có cái tập hợp. Tự nhiên vận chuyển (nhậm vận) mà diệt chứ không có cái diệt.”

(於諸趣中。起五蘊身名生。生已衰變爲老。終歿爲死。於老死時生諸熱惱。因熱惱故憂愁悲歎衆苦皆集。此因縁故集無有集者。任運而滅。亦無滅者。)

 

Kinh Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa, Q.4, tr. 37b10: “Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với bát-nhã ba-la-mật-đa như vậy, nên hoàn toàn chẳng khởi các tâm chướng ngại là xan tham, phạm giới, giận hờn, lười biếng, tán loạn, ác tuệ, thì bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát-nhã ba-la-mật tự nhiên hiện tiền, không có gián đoạn.”

(舍利子。諸菩薩摩訶薩修行般若波羅蜜多。與如是般若波羅蜜多相應故。畢竟不起慳貪犯戒忿恚懈怠散亂惡慧障礙之心。布施淨戒安忍精進靜慮般若波羅蜜多。任運現前無間無斷。)

 

Luận Thành duy thức, Q.5, tr. 27a18: “Tham, si vận hành tự nhiên, cùng hiện khởi với năm thức; trong cõi thuần khổ, phiền não vận hành tự nhiên; chúng không phát nghiệp, vì là vô ký. Chúng thảy đều có thể cùng tương ưng với khổ căn.”

(五識倶起任運貪癡。純苦趣中任運煩惱。不發業者是無記故。彼皆容與苦根相應。)

 

Kinh Giải thâm mật, phẩm Phân biệt du-già, tr. 699b21: “Bồ tát Từ thị lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, đình chỉ là thế nào? phấn chấn là thế nào? xả bỏ là thế nào? Đức Thế tôn dạy bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, khi tâm quấy động, hay khi phòng tâm quấy động, thì sự tác ý về cái đáng chán, và sự tác ý liên tục về cái tâm ấy, gọi là đình chỉ; khi tâm chìm đắm, hay khi phòng tâm chìm đắm, thì sự tác ý về cái đáng vui, và sự tác ý về cái tâm ấy, gọi là phấn chấn; hoặc chỉ có chỉ, hoặc chỉ có quán, hoặc cả chỉ quán song hành, mà khi bị nhuốm bẩn vì hai thứ tùy phiền não (là quấy động và chìm đắm như trên) thì sự tác ý mà vô công dụng, và những gì tác ý (khởi lên) trong tâm thì vận chuyển tự nhiên, gọi là xả bỏ.”

(慈氏菩薩復白佛言。世尊。云何止相。云何擧相。云何捨相。佛告慈氏菩薩曰善男子。心掉擧。或恐掉擧時諸可厭法作意。及彼無間心作意。是名止相。若心沈沒。或 恐沈沒時。諸可欣法作意。及彼心相作意。是名擧相。若於一向止道。或於一向觀道。或於雙運轉道。二隨煩惱所染汚時。諸無功用作意。及心任運轉中所有作意。是名捨相。)

 

Kim Kim quang minh tối thắng vương, Q.1, phẩm Như lai thọ lượng, tr. 407a09: “Bốn là [chư Như lai] đối với chúng sinh, một cách tự nhiên, tạm ngừng hóa độ [khi cơ duyên hóa độ đã hết], nên nói là niết bàn.”

(四者。於諸有情任運休息化 因縁故。名爲涅槃。)

 

Và tr. 407c09: “Hai, đối với chúng sinh, Như lai không nghĩ họ là ngu phu, đi theo quan niệm thác loạn, bị phiền não ép buộc, Như lai phải khai thị cho họ siêu thoát; thế nhưng do sức mạnh của từ bi quá khứ, nên đối với chúng sinh vẫn tùy trình độ, ý thích và nhận định của họ mà tự nhiên cứu độ, chỉ thị và huấn dụ cho họ lợi ích và hoan hỷ mà không phân biệt gì hết, cùng tận thì gian, không có kết thúc, đó là việc Như lai làm.”

(二者。佛於衆 生不作是念。此諸愚夫行顛倒見。爲諸煩惱之所纒迫。我今開悟令其解脱。然由往昔慈善根力。於彼有情。隨其根性意樂勝解。不起分別。任運濟度示教利喜。盡未來際。無有窮盡。是如來行。)

 

Kinh Phật thuyết A Di Đà, No. 366, Cưu-ma-la-thập dịch, tr. 348b02: “Đức Phật Vô Lượng Thọ thuyết chú Vãng sanh tịnh độ: ‘Nam mô A di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ ta bà ha.’ Người tụng chú này thì đức Phật A Di Đà thường trú trên đỉnh đầu của người ấy; sai khi mạng chung thì tự nhiên vãng sanh.”

(無量壽佛説往生淨土呪。南無阿彌多婆夜。哆他伽哆夜。哆地夜他。阿彌唎都婆毘。阿彌唎哆悉耽婆毘。阿彌唎哆毘迦蘭帝。阿彌唎哆毘迦蘭哆。伽彌膩。伽伽那。抧多迦隸莎婆訶。誦此呪者阿彌陀佛常住其頂命終之後任運往生.)


Nhiếp đại thừa luận bản, tr. 144c02: “Nên biết như thế nào về sự tu tập các pháp ba la mật này? Nên biết sự tu tập ấy đại lược có 5 sự. Một là tu tập bằng sự nỗ lực nổi lên. Hai là tu tập bằng sự thắng giải. Ba là tu tập bằng sự tác ý. Bốn là tu tập bằng sự phương tiện khéo léo. Năm là tu tập bằng sự thành tựu việc làm. Tựu trung, 4 sự tu tập thì như trước đã nói, còn sự thành tựu việc làm là chư vị Như lai thì việc Phật vận dụng tự nhiên mà không có ngừng nghỉ, đối với các pháp ba la mật mà các Ngài đã viên mãn các Ngài lại hoạt dụng các pháp ấy.” (H.T Thích Trí Quang dịch)

(云何應知修習如是波羅蜜多。應知此修略有五種。一現起加行修。二勝解修。三作意修。四方便善巧修。五成所作事修。此中四修如前已説。成所作事修者。謂諸如來任運佛事無有休息。於其圓滿波羅蜜多。)

 

Hiển dương Thánh giáo luận, tr. 491c09: “Sáu là Hiện tiền địa: Các Bồ-tát trú trong địa này, vì trước đã khéo tu đối trị ở địa thứ năm, vượt qua tất cả Thanh văn, Độc giác địa, chứng được Cực tịnh duyên trí và phi trí, hai thứ tạo nên các hành lưu chuyển hay ngưng dứt, là vi diệu tuệ uẩn về pháp cảnh, mà phần nhiều là hữu tướng tương tục một cách tự nhiên, khiến cho diệu trí hiện ra trước mắt, cho nên địa này gọi là Hiện tiền.”

(六現前地。謂諸菩薩住此地中。先善修治第五地故。超過一切聲聞獨覺地。證得極淨縁智非智二種所作諸行流轉止息法境微妙慧蘊。多分有相任運相續妙智現前。是故此地名爲現前。)

 

Đại thừa Khởi tín luận, tr. 577b08: “Ba, [Ý] tên là hiện thức, là đối cảnh do năng kiến hình thành - Như gương sáng hiện ra hình ảnh, hiện thức cũng vậy, năm đối cảnh đối diện là biểu hiện, không có trước sau, vì hiện thức lúc nào cũng tự chuyển động liên tục.”

(三者名爲現識。所謂能現一切境界。猶如明鏡現於色像。現識亦爾。隨其五塵對至即現無有前後。以一切時任運而起常在前故。)

 

Kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân, Q. 10, tr. 773a12: “Như thế gọi là phương tiện thiện xảo thế gian của Bồ-tát. Phương tiện thiện xảo này là cộng pháp với hàng Thanh văn, Độc giác, v.v…, cũng làm nhân tố nương tựa của tất cả pháp của Phật, cũng là chỗ nương tựa của các hạnh thiện xảo, cũng là pháp thiện xảo chuyển vận tự nhiên, không nghĩ, không diệt, không thoái lui.” 

(如是名爲菩薩世間善巧方便。此巧方便共諸聲聞獨覺乘等。亦作一切佛法依因。亦是善巧諸行依處。亦是善巧任運無思滅退墮法。)

 

Kinh Đại bảo tích, Q. 39, phẩm Như Lai bất tư nghị tánh, tr. 228b28: “Nầy Xá Lợi Phất! Đức đại bi chẳng thể nghĩ bàn ấy của Như Lai chẳng do công dụng, thường chuyển một cách tự nhiên, luôn lưu bố khắp đầy mười phương thế giới không có chướng ngại.”

(復次舍利子。如是如來不可思議大悲。不由功用任運常轉。流布遍滿十方世界無有障礙。)

 

Như vậy, nhậm vận là vận chuyển, vận dụng, vận hành một cách tự nhiên, theo qui luật tự nhiên hay ngẫu nhiên, không cần tác ý hay gắng sức, không do bởi sự tạo tác của tâm thức phân biệt.

 

Trở lại bài kệ Thị đệ tử của thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta có thể hiểu như sau: Con người thì có sự sống chết, buổi sáng thấy còn đó (hữu), buổi chiều đã mất đi (vô), thân người vô thường giống điện chớp, ảnh tượng. Muôn vật, trong đó, cây cối thì xum xê, nở rộ (vinh) vào mùa Xuân, và tàn úa, rơi rụng (khô) vào mùa Thu. Đứng trước qui luật tự nhiên của sự thịnh suy, vô thường, sinh diệt nơi thân người (nội thân, bao gồm tâm thức) và muôn vật (ngoại cảnh, bao gồm hoàn cảnh xã hội), thì người tu hành không sinh tâm sợ hãi (vô bố úy), bởi lẽ, sự thịnh suy của cuộc đời, sự thăng trầm của đời sống xã hội, sự sống chết của bản thân, sự sinh diệt của các pháp hữu vi, tất cả là lẽ đương nhiên, là qui luật tự nhiên, là duyên sinh, là chân lý về Khổ (Dukkha), chúng giống như giọt sương phơi bày trên ngọn cỏ. Đó là tuệ quán của người tu hành.

 

Đó chính là tuệ quán về các pháp, như kinh Kim cương diễn tả:

 

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán.

 

(Bởi vì tất cả các pháp hữu vi toàn là giống như chiêm bao, ảo thuật, bóng nước, ảnh tượng, sương mai, điện chớp, nên cần phải có cái nhìn như vậy.)

Hay như Chứng đạo ca có ghi:

 

Đại thiên sa giới hải trung âu

Nhất thiết Thánh hiền như điện phất.

 

 (Thế giới Đại thiên nhiều như cát chỉ là bọt trong biển cả, tất cả Thánh hiền như là chớp lóe.)

 

Đó là tuệ giác vô trú bát-nhã, thấy các pháp là Như, chứ không dao động theo những thứ phi Như, tức những khái niệm về ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

 

 

20/3/2017

Quảng Minh

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/01/2026(Xem: 212)
Trong bối cảnh năm 2026, khi công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển mạnh mẽ, con người càng có xu hướng quay về với tâm linh. Nhưng đôi khi lễ nghi hình thức thái quá không biểu lộ gì được sự khiêm cung mà chỉ là đi kèm sự bùng nổ của các hình thức "tâm linh trình diễn” .
12/01/2026(Xem: 238)
Mỗi sáng người viết quả thật được hữu duyên được dành ra 1/2 giờ ghi chép lại những lời khai thị hữu ích của các hiền nhân theo trình độ tu tập của mình, và đã dùng những lời khai thị này ghi vào quyển Cẩm nang cho Resolution 2026 , vì rất tâm đắc câu “Cuộc sống là những trải nghiệm được chia sẻ “ nên kính xin được ghi lại toàn bộ những lời khai thị của Đức Ngài Lạt Ma đã được phát sóng như sau : -“Mỗi lần thấy ai đau khổ , ta đặt tay lên ngực và ước nguyện mong rằng họ không còn khổ -Mỗi lần thấy ai lầm lỗi, hãy biết họ đang khổ trước khi là người khác khổ -Mỗi lần thấy ai sân giận , hãy biết họ đang đốt chính mình Đó là cách độ tha tự nhiên nhất,
04/12/2025(Xem: 1944)
(Qua tác phẩm “The Art of Happiness in a trouble world”– Đức Đạt Lai Lạt Ma & Howard Cutler. Và những tư tưởng của các bậc hiền triết Đông-Tây ) (Trân trọng kính dâng tặng những vị Thầy tâm linh và đặc biệt riêng gửi đến TT. Thích Nguyên Tạng nhân dịp sinh nhật lần thứ 59 vào ngày 5/12/2025 ) Hạnh phúc — trong cái nhìn tâm linh — không phải là một điểm đến để nắm bắt, mà là sự khai mở dần dần của tâm thức. Nó giống một buổi bình minh: ánh sáng không bừng lên ngay tức khắc, mà lan từ từ, dịu dàng, đánh thức từng mảng tối trong lòng người.
02/12/2025(Xem: 2077)
( Cảm tác từ tác phẩm “ The Unbearable Lightness of Being” nổi tiếng nhất của Milan Kundera viết năm 1982 và xuất bản lần đầu tiên năm 1984 tại Pháp. Bản tiếng Việt “ Đời Nhẹ Khôn Kham “do dịch giả Trịnh Y Thư dịch từ bản tiếng Anh (The Unbearable Lightness of Being của Michael Henry Heim) xuất bản năm 2002 tại Hoa Kỳ. “ Đời Nhẹ khôn kham" lấy bối cảnh chủ yếu ở Praha trong những năm 60-70, tiểu thuyết đã mô tả đời sống của tầng lớp nghệ sỹ và trí thức của xã hội Czech đương thời, cùng với đó là gợi ra những vấn đề triết học căn cốt và sâu sắc. Hơn thế nữa tác phẩm này dạy chúng ta về sự nhẹ nhàng và nặng nề trong cuộc đời, về ý nghĩa của tự do cá nhân và trách nhiệm, và cách đối mặt với sự ngẫu nhiên của số phận.
01/12/2025(Xem: 616)
Khi ánh nắng sớm mang theo chút hơi lạnh của những ngày cuối thu, lòng người cũng trở nên thâm trầm hơn với những khoảnh khắc dừng lại ở một góc nhỏ nào đó và cầm trên tay một quyển sách hay, tạm quên đi cái ồn ã vốn quen thuộc hằng ngày, để sống trọn vẹn cho mình trong từng giây phút. Đã bao giờ bạn cảm ơn cuộc đời đã cho bạn có được những ngày biến động, để một ngày ngồi đây, trong giây phút này, lòng chợt bình yên đến lạ! Bạn ngồi đó, thở nhẹ, những cơn gió se lạnh như không muốn phá tan khoảng bình yên nơi bạn, những ánh nắng mai đủ ấm lòng người. Bạn nhìn lại mình, khẽ mỉm cười rồi nhận ra, mình đã khác ngày xưa, không còn những xốc nổi, bốc đồng hay những giận hờn vô cớ.
23/11/2025(Xem: 649)
Vào ngày 9/11/2025, tại Tu Viện Huyền Không, San Jose, tôi đã tham dự buổi ra mắt sách Thiền Trong Kinh Điển Pali của nhóm Dự Án Phật Học Tinh Hoa Thế Giới do Sư Cô Vỹ Nghiêm và Sư Cô Như Hiếu ở trong nước phiên dịch từ tác phẩm của Ni Sư Sarah Shaw hiện đang giảng dạy Phật Học tại Đại Học Oxford (Anh Quốc). Sách được thầy Thích Pháp Cẩn trụ trì Chùa Phổ Giác (Marina) trang trọng giới thiệu
20/11/2025(Xem: 917)
Nhân ngày thầy giáo hàng năm 20/10 kính xin được bày tỏ những suy niệm : Từ khi bước vào đại học, có rất nhiều người nghĩ rằng trí thức nghĩa là tự mình biết hết, tự mình gánh hết, tự mình đứng vững trước mọi bão giông. Nhưng rồi, khi sự từng trải chạm đến độ chín, khi lòng thôi ồn ào vì chứng minh, họ mới nhận ra: người mạnh mẽ nhất không phải người đi một mình, mà là người đủ trí để chọn ai xứng đáng để mình nương tựa và tiếp nhận.
12/11/2025(Xem: 1651)
Đời người là một cuộc hành trình dài, nhưng lại ngắn ngủi đến không ngờ. Ta khởi đi từ đâu và đích đến là đâu? Câu hỏi ấy không cần ở đâu xa, mà cần sự hồi quang (quay lại nhìn) vào chính tâm mình. Giữa biển đời mênh mông vô tận, con người mãi ngược xuôi tìm cầu tham ái. Có kẻ rong ruổi ngoài trần thế, tìm kiếm một miền an lạc ở tận đâu xa; có người hướng vào tâm linh, mong thấy Phật trong lời kinh, trong tiếng mõ. Lục Tổ Huệ Năng từng dạy: “Tâm mê tức chúng sinh, tâm ngộ tức Phật.” (心迷即眾生,心悟即佛。)(1) “Người mê đi tìm Phật ở phương xa, người ngộ nhận ra Phật nơi tự tâm.”
08/11/2025(Xem: 1501)
Dường như đều đặn gần 10 năm nay, từ khi học Đạo và nghe nhiều pháp thoại trong các bộ kinh Lăng Nghiêm và Diệu Pháp Liên Hoa và thường tụng niệm chú Đại Bi cũng như các câu chú đại linh mật thông dụng nhứt và nhắn gọn nhứt của Quán Thế Âm theo Mật Tông Tây Tạng là OM MANI PADME HÙM! (Án Ma Ni Bát Di Hồng!) của Phật Bà Tàrà, ứng Thân của Quán Thế Âm: (OM TÀRE TUTTÀRE TURE SVÀHÀ!) con thường nhủ rằng “trong tâm lý học sâu, con người dù trí tuệ đến đâu vẫn có khoảng trống của khổ đau và bất an. Quán Âm là biểu tượng của sự lắng nghe tuyệt đối, của năng lượng dịu lành giúp tâm người được an định.
07/11/2025(Xem: 1627)
Trong xã hội ngày nay, khi lời nói dễ dàng trở thành vũ khí sát thương, nó có thể đến từ nguyên nhân: “đề cao cái tôi cá nhân”, “thích phán xét và công kích”, xem sự trừng phạt người khác là tiêu chí để nâng cao đạo đức bản thân, hạ bệ những quan điểm trái chiều. Bạo lực ngôn từ cho thấy sự bất lực của nhận thức khi ngôn ngữ lý luận bị vô hiệu hóa bằng những ngôn từ trấn áp thô thiển.