Bước Chân Vô Tận (Kính lễ đức hạnh và tâm nguyện lợi sanh của Hòa thượng Phương trượng chùa Viên Giác, Đức Quốc)

31/01/202618:49(Xem: 733)
Bước Chân Vô Tận (Kính lễ đức hạnh và tâm nguyện lợi sanh của Hòa thượng Phương trượng chùa Viên Giác, Đức Quốc)


ht nhu dien-ando (10)

BƯỚC CHÂN VÔ TẬN

(Kính lễ đức hạnh và tâm nguyện lợi sanh
của Hòa thượng Phương trượng chùa Viên Giác, Đức Quốc)




Trong giáo lý Duyên khởi, một đóa hoa sen nở không tự nhiên mà có, nó kết tinh từ bùn nhơ, nước sạch, ánh sáng và bàn tay người chăm sóc. Cũng vậy, sự vững chãi của Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu hay Âu Châu hôm nay không tự nhiên thành hình, mà chính là kết quả của những nhân duyên thâm sâu, được vun bồi bởi những bước chân hoằng pháp không biết mỏi mệt của các bậc Cao tăng. Trong số đó, Hòa thượng Thích Như Điển - Phượng trượng chùa Viên Giác tại Đức Quốc - hiện thân như một “Như Lai sứ giả”, viết tiếp những trang sử truyền bà Phật pháp huy hoàng của Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại.

Nơi Hòa thượng, phảng phất tinh thần “Vị pháp vong xu” qua các thời đại mà không phải luận bàn thêm ý vị, nơi đó chỉ là sự trác tuyệt về nhân cách, sự cao thâm về lão thông giáo nghĩa, sự tinh tế về tương giao xã hội, và cả sự nghiêm túc về tổ chức hoằng pháp.

Nhìn vào hành trình của Hòa thượng, dẫu gần tám mươi tuổi vẫn không quản ngại 30 tiếng bay, vượt vạn dặm trùng dương để chứng minh cho Khóa Tu Học Phật Pháp Úc Châu kỳ 23, chúng con lại bồi hồi nhớ về những bậc tiền nhân.

Lịch sử ghi dấu Ngài Pháp Hiển[1] ở tuổi lục tuần vẫn đơn độc sang Tây Trúc [2] tìm kinh; Ngài Huyền Trang [3] với đại nguyện “Ninh hướng Tây thiên nhất bộ tử, bất hồi Đông độ bán bộ sinh”[4] (Thà bước một bước về phương Tây mà chết, còn hơn lùi lại phương Đông nửa bước mà sống). Tại Việt Nam, những bậc cao tăng như Khương Tăng Hội [5] hay Tỳ-ni Đa-lưu-chi[6] cũng đã vượt ngàn dặm xa xôi để gieo hạt giống Bồ-đề vào đất Giao Châu [7] xưa để có nền tảng vững chãi cho tòa nhà Phật giáo Việt Nam được kiên cố và lan tỏa tinh thần phụng sự - nhập thế khắp mọi nơi.

Hòa thượng Thích Như Điển chính là sự tiếp nối sống động của tinh thần ấy. Lần thứ 50 Ngài đến Úc không chỉ là một con số, mà là 50 lần Ngài đem trái tim từ bi và trí tuệ làm nhịp cầu, nối liền truyền thống Phật giáo Việt Nam và hiện đại, nối liền cội nguồn dân tộc với xứ sở tha phương, nối liền tình đời ý đạo đến với bà con Việt kiều Hải ngoại.

Không có gì là quá, khi Hòa thượng thấu hiểu triết lý duyên sinh và sự xác lập nguồn cội ngay trong đời sống tha hương với hạnh nguyện của một tu sĩ Phật giáo thuần túy suốt hơn nửa thế kỷ.

Trong ánh sáng của triết lý Duyên sinh, không có sự bắt đầu hay kết thúc độc lập. Khi Hòa thượng nhắc về kỷ niệm năm 1978 với chú Sa-di Thích Đồng Trung, hay khoảnh khắc cụ bà Diệu Từ đảnh lễ sau 47 năm gặp lại, chúng con nhận ra rằng: Mỗi lời pháp của Hòa thượng gieo xuống năm xưa đã trở thành cái nhân lành, để hôm nay quả đẹp là một nền Phật giáo Úc Châu trang nghiêm, vững chãi.

Đặc biệt, tâm huyết của Hòa thượng trong việc đề nghị tôn xưng Ngài Đàm Hoằng là Sơ Tổ tông phái Tịnh độ Việt Nam là một đóng góp học thuật mang tính lịch sử. Kinh Pháp Hoa dạy rằng: “Chư Phật vì một đại sự nhân duyên duy nhất mà xuất hiện ở đời, đó là khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. Việc Hòa thượng truy tìm căn nguyên, xác lập dòng truyền thừa cho Tịnh độ tông không chỉ là công tác khảo cứu, mà là lòng hiếu thảo với Tổ sư, là trách nhiệm bảo tồn mạch đạo cho muôn đời sau.

Không thể phủ nhận sự uyên bác của Người tại phiên vấn đáp Phật lý, minh chứng về trí tuệ soi sáng thực tại trong đời sống của bậc chân tu thạc đức: Tại Portsea, 61 câu hỏi từ căn bản đến chuyên sâu đã được Hòa thượng giải đáp bằng phong thái từ tốn, khiêm cung, tận tường. Đây chính là tinh thần Vô sở úy của bậc hành giả Đại thừa. Ngài không chỉ giảng giải chữ nghĩa trong kinh Kim Cang, Pháp Hoa, mà Ngài biến chúng thành những liều thuốc trị liệu cho những nỗi đau rất thực: bất hòa gia đình, bệnh tật, vô thường.

Thiền ngữ có câu: “Sắc thân là bọt nước, trí tuệ là đại dương”. Dẫu thân xác có mỏi mệt vì những chuyến bay đêm, nhưng trí tuệ của Ngài vẫn thường chiếu như ngọn đuốc, giúp hàng hậu học chúng con quay về soi sáng chính mình, sống đúng với tinh thần Giới - định - tuệ giữa một xã hội đầy biến động.

Một hành trình không nghỉ, minh chứng hạnh nguyện lợi tha bất từ bì quyện của Người: Sau khi khóa tu viên mãn, Ngài vẫn tiếp tục dấn thân: từ Mildura xa xôi đến Adelaide dâng hương tưởng niệm Ân sư, rồi Sydney thăm bào huynh [8], sau đó lại sang Thái Lan, Ấn Độ... Bước chân Ngài đi đến đâu, hoa sen chánh pháp nở rộ đến đó. Ngài sống trọn vẹn với tôn chỉ: Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật.

Nghĩ đến sự quên nhọc tự thân khi ngược xuôi hoằng pháp suốt nửa thế kỷ khắp các châu lục của Hòa thượng, con chợt nhớ lời nhắn của Đại sư Thật Hiền[9] trong tác phẩm Phát Bồ-đề tâm văn mà phấn chấn tâm tư về đạo mạch Phật pháp được trường lưu, hiển hách qua hạnh nguyện của Người: “Nguyện lập thì có thể độ chúng sanh, tâm phát thì Phật đạo có thể thành. Nếu không phát tâm rộng lớn, không lập cái nguyện vững bền kiên cố, thì dù trải qua nhiều kiếp như số vi trần, cũng vẫn y nhiên ở trong vòng luân hồi.”[10] Đáng kính thay!

Hòa thượng chính là đại thọ giữa tòng lâm, là bóng mát cho chúng con nương tựa. Ngài dạy chúng con bằng chính cuộc đời Ngài: Rằng hoằng pháp không phải là ngồi trên tòa cao, mà là dấn thân vào những nơi gian khó nhất với một tâm thế khiêm cung nhất.

Chúng con xin thành tâm đảnh lễ, cầu nguyện Hòa thượng pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, để chúng con còn mãi được sưởi ấm dưới ánh sáng từ bi, trí tuệ của Ngài.

Viết tại thư phòng chùa Vạn Thiện, núi Thị Vải ngày 27/01/2026.

Hậu học Thích Thiện Thuận


[1] Pháp Hiển (法顯; 337 - khoảng 422): Đại sư và dịch giả Phật giáo Trung Quốc, người đã đi bộ từ Trung Quốc đến Ấn Độ, thăm nhiều địa điểm Phật giáo thiêng liêng ở Tân Cương, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bangladesh và Sri Lanka từ năm 399 đến năm 412 để sưu tầm các bản kinh của Phật giáo. Cuộc hành trình của Đại sư được ghi lại trong tác phẩm Phật quốc ký (佛國記).

[2] Tây Trúc: cách gọi của Trung Quốc đối với Ấn Độ cổ đại.

[3] Huyền Trang (玄奘; khoảng 602-664): thường được gọi là Đường Tam Tạng hay Đường Tăng, là một cao tăng Trung Quốc, một trong bốn dịch giả lớn nhất, chuyên dịch kinh sách Phạn ngữ ra tiếng Hán. Đại sư cũng là người sáng lập Pháp tướng tông (法相宗), một dạng của Duy thức tông (唯識宗) tại Trung Quốc. Danh hiệu Tam Tạng được giới tăng sĩ tôn xưng để tôn vinh Ngài là người tinh thông cả Tam tạng Kinh điển Phật giáo.

[4] 宁向西方一步死,不回东土半步生

[5] Khương Tăng Hội (康僧會; ? - 280): được xem là thiền sư đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Trong Việt Nam Phật giáo Sử luận, tác giả Nguyễn Lang cho rằng Khương Tăng Hội là Sơ Tổ của Thiền tông Việt Nam. Nhưng pháp Thiền, cũng như các tài liệu Phật giáo mà Khương Tăng Hội truyền bá, dịch thuật là Kinh An Ban Thủ Ý - tức là thiền quán hơi thở chứ không phải Thiền tông.

[6] Tỳ-ni Đa-lưu-chi (毘尼多流支, ? - 594): là một Thiền sư người Ấn Độ là môn đệ đắc pháp của Tam tổ Tăng Xán từng sang Trung Quốc tham học. Cuối đời, Ngài xuống phương Nam truyền pháp và được tôn xưng là Tổ khai sáng thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi tại Việt Nam.

[7] Giao Châu (交州): một châu hoặc phủ thời xưa, bao trùm vùng đất miền Bắc Việt Nam ngày nay. Ban đầu, Giao Châu còn bao gồm một phần đất của Quảng Tây và Quảng Đông thuộc Trung Quốc ngày nay.

[8] Trưởng lão Hòa thượng Thích Bảo Lạc: sinh năm 1942, pháp hiệu Thanh Nghiệp, là một cao tăng người Việt, thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan và là viện chủ chùa Pháp Bảo tại Sydney. Hòa thượng xuất gia năm 1957 tại chùa Linh Ứng - Đà Nẵng, thọ giới Tỳ-kheo năm 1964 tại chùa Ấn Quang - Chợ Lớn, tốt nghiệp cử nhân Tôn giáo Xã hội học năm 1980 tại Đại học Komazawa, Tokyo - Nhật Bản và có nhiều đóng góp trong hoằng pháp tại hải ngoại.

[9] Đại sư Thật Hiền (實賢, 1686-1734): hiệu Tỉnh Am, là một vị cao tăng đời Thanh của Trung Quốc. Ngài vừa đồng thời là tổ sư của Thiền tông và Thiên thai tông, vừa được tôn xưng là vị tổ thứ 11 của Tịnh độ tông tại Trung Quốc.

[10]願立則眾生可度;心發則佛道堪成。苟不發廣大心,立堅固願,則縱經塵劫,依然還在輪迴。



ht nhu dien-ando (30)ht nhu dien-ando (34)ht nhu dien-ando (35)ht nhu dien-ando (36)ht nhu dien-ando (37)ht nhu dien-ando (38)ht nhu dien-ando (39)

ht nhu dien-ando (40)
xem tiep



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/02/2026(Xem: 1531)
Ngày 1 tháng 2 năm 2026, trong căn phòng tĩnh lặng nơi Ôn Phước An đang điều trị tại Bệnh viện 22/12 Thành phố Nha Trang, hình ảnh Thượng Tọa Giác Nghĩa (trụ trì Chùa Vạn Đức & Chùa Phước Trí, Nha Trang) cầm quyển Kinh Nhật Tụng, chậm rãi tụng Kinh Kim Cang âm Hán–Việt, đã trở thành một khoảnh khắc không thể nào quên.
12/02/2026(Xem: 449)
Suốt hơn 4 tháng qua, kể từ khi sư Tuệ Nhân có 2 buổi gặp gỡ và giao lưu online qua Zoom với công ty sách Thái Hà và nhóm Thiền trong từng phút giây về hành trình “Bước chân hành giả - hành trình đầu đã quan vùng đất thiêng, đất Phật Ấn Độ”, tất cả chúng mình theo dõi sát sao các hoạt động của sư, nhất là thời điểm đoàn khởi hành đi bộ đến thủ đô của nước Mỹ giữa mùa đông lạnh giá. Thật sự thú vị và hồi hộp, mừng vui xen lẫn với lo lắng, nhiều khi thót tim đến ngộp thở khi tai nạn xảy gia.
11/02/2026(Xem: 1374)
Khi nhìn nét mặt ngây thơ hồn nhiên của các em học sinh lớp mẫu giáo trường Linh Sơn College tại Kushinagar, U.P, Ấn Độ do Ni Sư Thích Nữ Trí Thuận sáng lập và hiện tại do hai Thầy giáo Mr. Rajesh Singh (PD Minh Tuyen). Tel.+91 983 955 2681 và Mr. DineshKKumar Verma ( PD. Minh Anh) . Tel. +91 991 873 8764 làm Hiệu Trưởng và Giám Đốc, chúng tôi cảm thấy rất gần gũi vì các em dễ thương vô cùng với sự hồn nhiên. Khi các em làm những bài toán cộng, trừ, nhân đơn giản đúng đáp số thì được Thầy Hạnh Bổn phát cho mỗi em 20 Rubies. Số tiền không lớn, nhưng là thành quả học tập của các em và sự dạy dỗ của các Thầy Cô giáo trường làng. Ở đây phải nói là Thầy, Cô đã hy sinh lớn lao về thời gian và sự tận tuỵ mới có được những lớp học từ mẫu giáo cho đến lớp 12 như thế. Nhiều em đã được học miễn phí và sau khi học xong trung học ở đây, quay trở lại trường dạy lại các em khác. Đúng là: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”; “uống nước nhớ người đào giếng” là vậy. Sinh hoạt ở Ấn Độ tuy rẻ hơn các nơi khác trê
05/02/2026(Xem: 1369)
Đức Đạt Lai Lạt Ma được trao Giải Grammy không phải vì Ngài là nhạc sĩ, mà vì tác phẩm đoạt giải thuộc hạng mục Sách nói, thuyết minh và kể chuyện xuất sắc nhất. Giải thưởng này tôn vinh giá trị nội dung, sức truyền cảm của giọng nói và tác động nhân văn của một tác phẩm âm thanh, chứ không đánh giá kỹ thuật âm nhạc. Qua sách nói Meditations, giọng nói từ ái của Ngài đã lan tỏa thông điệp yêu thương, hòa bình, chánh niệm và trách nhiệm phổ quát của nhân loại. Vì vậy, giải thưởng Grammy là sự ghi nhận đối với thông điệp tỉnh thức mà Ngài đã, đang và sẽ mang đến cho thế giới, hơn là một thành tựu âm nhạc thuần túy.
05/02/2026(Xem: 537)
🐄Bò làm mệt, than với chó: " Tao mệt quá ". 🐶 Chó gặp mèo tâm sự: " Bò nó kêu mệt, chắc làm quá sức, chắc nó đòi nghỉ một chút". 🐱 Mèo gặp dê tám chuyện: " Bò nó muốn nghỉ một ngày vì công việc làm nó mệt quá, có lẽ ông chủ bắt nó làm quá sức". 🐐 Dê gặp gà: " Bò nó đòi nghỉ làm, ông chủ bắt nó làm đến kiệt sức thì phải". 🐔 Gà gặp heo nói: " Biết chuyện gì chưa, bò nó định đổi chủ và bỏ việc đấy". 🐷 Heo méc bà chủ: " Bò nó định đổi chủ hay sao, nghe nói nó muốn bỏ việc vì công việc quá nặng. 👨‍👧Bà chủ nói ông chủ: " Bò nó định tạo phản, nó muốn đổi chủ". 🙅‍♂️Ông chủ tức giận quát: " A con bò này đã lười lại định tạo phản, thịt nó thôi". 👉Kết quả : Bò bị giết thịt
04/02/2026(Xem: 1088)
Là một nữ tu sĩ chân yếu tay mềm, Phật sự đa đoan, lòng tôi vẫn cảm thấy tràn đầy nguồn an ủi vô biên trong những lúc mệt nhọc. Những ngày gần đây, các bài thơ trong tập thơ Hoa Thiền, mang tâm ý Phật Pháp, được Cô Đặng Lan và các thi sĩ ngâm vịnh, được Phật tử Tâm Nghiêm đọc vào đĩa, được Nhạc sĩ Nguyễn Nhật Tân phổ nhạc… với những niềm khích lệ đó, khiến tôi cố gắng sáng tác thêm những vần thơ mới. Và hôm nay, tập thơ Hoa Thiền tái bản, mang vóc dáng trang trọng, gói trọn một nội dung hồn thơ và ý nhạc, khiến cho lời thơ nhẹ nhàng bay vút khắp nơi và tuôn chảy vào tận cõi lòng người. Tôi xin chân thành cảm nhận tất cả và trân trọng khắc ghi vào lòng một kỷ niệm đẹp trong suốt hành trình dấn thân vì Đạo. 🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
04/02/2026(Xem: 1032)
Tôi có thói quen, sau khi tụng kinh buổi sáng xong, thường ngồi uống một ly trà trước khi dùng điểm tâm. Vừa uống trà, tôi vừa lướt qua trang Thắng Hoan Thi Tập và tình cờ đọc được bài thơ Thiền Trà của Hòa thượng. Tôi cảm thấy thú vị và bỗng dưng nhớ Hòa thượng. Tôi nhớ không phải vì sự bịn rịn của thế gian, mà nhớ cái đức, cái tài và cái tính hào sảng của Ngài.
02/02/2026(Xem: 2074)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 1957)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1661)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề