Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Sáu

31/05/201211:49(Xem: 8238)
Sáu

TUỆ SỸ ĐẠO SƯ

Thơ và Phương Trời Mộng - Tập 1


Tác giả: Nguyên Siêu
Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang
In lần thứ nhất
California - Hoa Kỳ 2002
Tái bản lần thứ nhất
California - Hoa Kỳ 2006

flowerba

Sáu

Nhữngngày đầu của lớp học chuyên khoa dưới mái Phật Học Viện đến nay đã tròn 32năm. Thời gian 32 năm quả là dài, nhưngkỷ niệm dường như mới hôm qua. Những hình ảnh quả Quý Ôn, Quý Thầy nhất mực locho Tăng sinh ăn học đã in sâu vào tâm trí, khó có thể quên được. Một đời củaQuý Ngài đã hy sinh cho việc đào tạo Tăng tài, xây dựng, tài bồi cho thế hệ kếthừa mạng mạch Phật pháp, cho dẫu hao tổn bao nhiêu tâm huyết Quý Ngài cũng chẳngtừ nan. Những sự hy sinh cao cả ấy đã khiến anh em cựu học Tăng, mỗi lần có dịpgặp nhau lại tha thiết nhắc đến những kỷ niệm đẹp của thời cắp sách dưới mái họcđường.

Ngày đầutiên gặp Thầy Tuệ Sỹ từ Sài Gòn ra đảm nhận lớp chuyên khoa của Viện, bản thânngười viết cũng như anh em học Tăng ai cũng cảm thấy có một cái gì là lạ. Có lẽmột phần vì dáng người nhỏ nhắn, gầy gò của Thầy, cộng với mái tóc hơi dài, ungdung trong bộ áo nhật bình 4 vạt bạc thếch màu đà, dài quá đầu gối một chút khiếnThầy có vẻ khác thường hơn người. Hình như Thầy là vị giảng sư duy nhất của Việncó cung cách ăn mặc giản dị và khiêm tốn như thế.

Nghe tin Thầyra dạy, cả Viện xôn xao chuẩn vị đón Thầy, ngay cả Quý Thầy trong Ban Giám Đốccủa Viện cũng nôn nao không kém.

Không khíPhật Học Viện tự nhiên tươi vui, nhộn nhịp hẳn lên. Nào là dọn phòng ốc, nào làlo sắm sửa bộ tách trà, phin lọc cà phê, cắt đặt người làm thị giả...

Không nhữngbên Viện, mà đến Quý Ôn bên Tỉnh Hội dường như cũng bận rộn hẳn lên. Chiều nàoQuý Ôn cũng chống gậy qua Viện coi sóc công việc và chuẩn bị những thứ cần dùngcho Thầy. Đích thân Quý Ôn, sắp xếp từ nơi ăn, chốn ở, từ giường nằm, bàn làmviệc cho đến bàn uống trà, cà phê... Có lần người viết được thoáng nghe, Quý Ônchỉ sợ công việc giảng dạy ở đây không giữ được một vị Thầy tài giỏi thông minhhiểu biết như Thầy, để cùng Quý Ôn chăn dắt Tăng sinh.

Bao nhiêuháo hức, nôn nao, chờ đợi. Rồi ngày ấy cũng đến. Cả Viện rộn ràng tiếp đón Thầy,Quý Ôn trong Ban Giám Đốc vui mừng, ai cũng cười, ai cũng nói. Riêng các anh emhọc Tăng, tuy rất ngưỡng mộ Thầy, nhưng chỉ dám đứng xa mà nhìn. Quy luật củaViện đối với học Tăng thời bấy giờ rất nghiêm túc, nên chúng tôi không được ngồingang hàng hoặc nói chuyện với Quý Ôn, cần thưa gửi việc gì đã có vị lãnh chúngđại diện, và: "Giá trị đánh điệu ngang bằng với ý nghĩa cắm ba nén nhanglên bàn thờ Phật."

Trong thờigian đầu ở Viện, Thầy còn nghỉ ngơi chưa giảng dạy, nên anh em cũng chưa có dịptiếp xúc với Thầy. Cho đến hôm Thầy đến lớp và cũng là ngày giới thiệu Thầy vớihọc Tăng. Ôn Vụ Trưởng Vụ Phật Học Viện đích thân đưa Thầy tới giới thiệu với lớphọc, cả lớp đứng dậy im phăng phắc. Sau đôi lời giới thiệu, Ôn Vụ Trưởng traonhiệm vụ giảng huấn lớp cho Thầy.

Lần đầutiên nghe Thầy giảng, sao mà khó hiểu quá! Có lẽ chưa quen, hay vì trình độmình quá kém chăng? Có lẽ cả hai. Cả lớp học hầu như không ai lãnh hội kịp nhữnglời Thầy giảng. Một hôm Thầy giảng Triết học Tây Phương, Thầy cứ thao thao bất tuyệttrên bục giảng, đám học Tăng chúng tôi lại được dịp ngỡ ngàng trước những danhtừ Triết học mới lạ.

Thế rồi,vào những giờ văn học Trung Hoa, Thầy cũng vẫn thao thao bất tuyệt. Nào là"Tựa Đằng Vương Cát" của Vương Bột:

Nam Xươngcố quận,

Hồng Đôtân phủ.

Tinh phânDực Chẩn,

Địa tiếp HànhLô...

Lạc hà dữcô vụ tề phi,

Thu thủycộng trường thiên nhất sắc.

Trước nhữngđôi mắt ngưỡng phục của chúng tôi, và bằng những tư tưởng uyên bác, Thầy đã dẫnanh em học Tăng đi từ những tư tưởng Đông Phương qua Triết lý Âu Tây. Cả một trờikiến văn thông thái, chưa kể những am hiểu sâu sắc về Kinh, Luật, Luận mà Thầytrao truyền cho lớp học.

Suốt bốnnăm Trung đẳng, từ năm 1970-1974, ngày hai buổi đều đặn cắp sách đến lớp học,Thầy trò chẳng rời nhau. Từng giờ học, từng bữa ăn, những buổi chiều tản bộtrên đồi Trại Thủy, khi nấu nước sớm nơi nhà bếp, hay khi hóng gió trên tháp sắtnhìn ra biển khơi, lúc nào Thầy cũng chu đáo, ân cần khuyến khích anh em gắng họcđể nối tiếp Quý Ôn trong trách nhiệm truyền thừa đạo Pháp.

Bốn nămTrung đẳng, thời gian tuy không dài, nhưng anh em đã học được rất nhiều từ nơiThầy, từ sự tu tập bản thân đến kiến thức trên nhiều lãnh vực. Thầy rất nghiêmtúc và khắc khổ trong công việc giảng dạy và nghiên cứu. Nhờ vậy, nên thời giansau này anh em học Tăng chúng tôi đã tỏ ra khá vững vàng trong công việc phiêndịch, thuyết pháp, giáo dục...

Ngày thimãn khóa Trung đẳng rồi cũng đến.

Chắc hẳnanh em học Tăng khó mà quên được thời gian học thi ngày ấy, ai ai cũng cố gắnghết sức để khỏi phụ lòng Thầy. Dãy Tăng đường xây trên lưng đồi Trại Thủy, phíatrước là lối đi dưới hàng bông sứ, phía sau nhìn xuống cánh đồng dừa, xóm Xưởng,Phương Xài, Ngọc Hiệp... dường như được thắp sáng suốt đêm, vì anh em mỗi ngườimột bóng đèn tròn treo lửng lơ trên vách cặm cụi học thi. Sự chăm chỉ này phầnlớn là nhờ công lao của Ôn Từ Đàm (Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Viện Trưởng ViệnCao Đẳng Phật Học Hải Đức, Nha Trang) và Thầy.

Lên Cao Đẳng,anh em càng nhìn thấy rõ hơn tinh thần trách nhiệm của Thầy. Thầy đích thân soạnthảo chi tiết chương trình bốn năm Cao Đẳng và Thầy đã nhận trách vụ Giám Học HọcVụ của Viện Cao Đẳng Phật Học năm ấy, 1974.

Năm Cao ĐẳngPhật học bắt đầu, 1974, Thầy như một "Đạo Sư", hướng dẫn, chỉ đạo nhữngluận đề cao hơn, và Thầy cũng gần gũi với anh em học Tăng hơn.

Nhưngchính vì sự gần gũi và trách nhiệm giáo huấn nặng nề, Thầy có vẻ khắt khe,nghiêm túc hơn thời gian Thầy dạy chúng tôi ở ban Trung Đẳng. Ban ngày Thầy dạyhọc, ban đêm đi canh thiền. Từ phòng Thầy ở, nay là văn phòng của Ôn Viện Trưởng,đến cư xá Tăng Sinh Viên, mới cất trên cốc Ôn Già Lam (Hòa Thượng Thích Trí Thủ,Giám Viện Phật Học Viện), phải leo lên hai tam cấp và qua một cái cổng. Ấy vậymà cứ đến mười giờ đêm hô canh ngồi thiền là đã thấy Thầy canh thiền, bất chấpnhững đêm mưa bão, chưa bao giờ thấy Thầy vắng mặt ngày nào. Và đó cũng là điềuanh em học Tăng phải "ngán" Thầy mà chẳng dám "ngọa thiền."

Thầy"khó" trong lãnh vực giảng dạy, và "nghiêm" trong phạm vitu tập, nên có lần Thầy đã bỏ lớp, về phòng đóng cửa không tiếp ai, vì một anhem học Tăng không thuộc bài. Thầy tâm sự: "Kể từ ngày tôi đến với quý thầycho đến hôm nay, tôi không đi đâu cả, chỉ nhất mực hướng dẫn cho quý thầy vàmong quý thầy phải học, mong quý thầy phải ý thức bổn phận của mình, nếu khôngsẽ uổng công Quý Ôn đã lo lắng. Khi xưa tôi cũng vậy, mình phải nghĩ đến côngơn của Thầy Tổ, công ơn của đàn na thí chủ lo cho mình, đừng phí công ấy mà đắctội." Lời lẽ tuy giản dị nhưng đanh thép, hàm chứa bao nhiêu tâm huyết lolắng cho đàn hậu duệ. Và cũng chính vì tâm huyết ấy mà sau biến cố 75, Thầy nhấtquyết ở lại với quê hương.

Thời gianêm đềm trôi qua dưới mái Học Viện, nhưng sự êm đềm ấy đã bị biến cố 75 bất ngờthổi đến, phá tan bao mộng ước tương lai. Viện Cao Đẳng đóng cửa, quý Thầykhông còn được giảng dạy như xưa; anh em học Tăng phân tán mỗi người mỗi nơi,có người phải rời Viện về nhà với cha mẹ. Việc học bị dừng lại nơi đây. Thầy mộtmình một bóng, thỉnh thoảng gặp một vài học Tăng chuyện trò, nhưng không khí đãảm đạm mất rồi, đâu còn những ngày rộn rã khi xưa.

Để khỏilãng phí thời giờ và để khuây khỏa, Quý Ôn đề nghị anh em học Tăng dịch Kinh AHàm và Thầy duyệt lại. Công việc dịch Kinh sách đã làm Thầy hăng hái, mẫn tiệphơn lên. Mỗi sáng, sau giờ công phu sớm, điểm tâm xong, thầy trò dẫn nhau lên ThưViện, mỗi người mỗi việc, người dịch sách, người chấp bút duyệt bản thảo, vàngười viết cặm cụi đánh máy cho đến khi dịch xong bộ Trung A Hàm. Và rồi nhữngbộ sách khác được tiếp nối: Truyện Pháp Cú, tuyển tập Nikàya A Hàm... sau đóđưa qua nhà in Hoa Sen của Viện để in.

Nhưng, thờigian êm ả ấy cũng chẳng được bao lâu. Năm 1977, thời cuộc biến đổi khốc liệthơn, người phải đi lao động kinh tế mới, người bị buộc đi nghĩa vụ quân sự...Anh em lần lượt trở về nguyên quán, nơi chùa của Thầy Tổ, thất tán tha phương,tù tội và ngay cả Thầy cũng cùng chung số phận với anh em. Cũng từ năm ấy, Thầyphải về làm rẫy ở Vạn Giả, cách Nha Trang khoảng 60 cây số, về hướng Bắc. Thầymột mình lặng lẽ trong những chuyến tàu đêm đi về hôm sớm, ghé thăm Chùa, Viện.

Cho đến mộthôm, mọi người bàng hoàng khi nghe tin Thầy bị bắt giam ở trại tù Phan ĐăngLưu, Sài Gòn, (1978-1980). Sau đó, Thầy được thả về tạm trú tại Tu Viện QuảngHương Già Lam, cho đến ngày bị bắt lại và "được" nhà nước ban cho cáián tử hình, năm 1984 (bằng những sự vận động và can thiệp của nhiều quốc giatrên thế giới, án tử hình giảm xuống còn án tù chung thân).

Cuộc đờicũng có lắm cái bất ngờ. Năm 1980, Quý Ôn sai mang máy quay ronéo vào Chùa GiàLam, để giúp việc dịch Kinh sách. Người viết lại có cơ duyên được học lại vớiThầy lớp Cao Cấp Phật học tại Già Lam (lớp học này dĩ nhiên không hợp pháp đốivới nhà nước đương thời). Thầy lại trở về với vai trò giảng dạy, từ những tư tưởngTánh Không cho đến Nhơn Minh Luận, từ chân trời Hoa Nghiêm duyên sinh cho đếngiáo nghĩa u huyền Bát Nhã... anh em học Tăng lại được dịp quây quần về núpbóng Ôn Già Lam để cùng học với Thầy.

Thời giannày, anh em học Tăng vừa học vừa làm việc với những công trình trước tác, phiêndịch của Ôn Già Lam, dưới sự trông coi và hướng dẫn làm việc của Thầy.

Ngay chođến bây giờ, những công trình biên khảo ấy của Ôn Già Lam, nhiều bản cũng chưađược in ấn, kể cả bộ Tự Điển Phật Học Phổ Thông, bộ Bách Khoa Phật Học Đại TựĐiển... Anh em học Tăng được nương tựa dưới bóng tùng đức độ của Ôn và dưới sựcoi sóc của Thầy, đã hoàn thành được nhiều công trình trong lãnh vực văn học khảocứu. Một trong những kết quả gặt hái được là sự thành tựu các tác phẩm cho ngày"Truyền Thống Cúng Dường Pháp", 19-09 Âm lịch hàng năm, cũng là ngàysinh nhật của Ôn Già Lam. Đây cũng là ước nguyện bày tỏ lòng tri ân công đức củaÔn, trong suốt mấy thập niên qua. Ôn đã vì tương lai của đàn hậu duệ, mở ra cácPhật Học Viện, đào tạo bao lớp Tăng tài để cung ứng cho đạo pháp. Sự hy sinh vàân đức của Ôn còn mãi in sâu trong tâm khảm của tất cả cựu học Tăng ngày ấy.

Bốn năm,1980-1984, trôi qua trong âm thầm lặng lẽ với dáng vẻ bình an, nhưng tự trongthân tâm của mỗi học Tăng tạm trú chúng tôi đều hiểu rằng: "Không ai có thểbiết trước được chuyện gì sẽ xảy ra cho mọi người, cũng như chương trình đang họccó được hoàn tất như ước nguyện."

Cho đến mộtngày, Thầy lại dở dang với chương trình dạy, cả hai lần Thầy dạy đều không hoàntất - lớp học ở Viện Hải Đức Nha Trang, và lớp học ở Chùa Già Lam. Thầy lại bịbắt mang đi vào ngày 01 tháng 04 năm 1984, chế độ tuyên án tử hình năm 1988 (dosự can thiệp của quốc tế, Thầy bị tù gần 15 năm, và bị chế độ quản chế sau khira khỏi tù cuối tháng 9 năm 1998). Ước vọng đào tạo Tăng tài một lần nữa lạikhông thành, Ôn Già Lam viên tịch.

Nghĩ lạinhững ngày qua, tuy không thiếu những kỷ niệm đẹp, nhưng sao cũng lắm nỗi bấttrắc, kinh hoàng!

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn