Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Sư Thiện Chiếu

31/05/201211:49(Xem: 6916)
Sư Thiện Chiếu

TUỆ SỸ ĐẠO SƯ

Thơ và Phương Trời Mộng - Tập 1


Tác giả: Nguyên Siêu
Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang
In lần thứ nhất
California - Hoa Kỳ 2002
Tái bản lần thứ nhất
California - Hoa Kỳ 2006

flowerba

Sư Thiện Chiếu

Tuệ Sỹ

(Thuở đó, bọn tôi dăm bảy người... Ai cũng mong đem cái hùng tâm tráng khí của mình ra mà thi thố trong thời buổi điêu linh của Quê Hương)


Vào khoảng trước hay sau năm 1945 gì đó, nay khôngnhớ rõ; phải nói thực rằng đấy là thời gian đánh dấu mộtchuyển hướng quan trọng trong đời sống của tôi. Qua một thời bôntẩu, lúc này tôi rất thấm thía cái ý nghĩa của sự mệt mỏi. Conngựa chứng đã đến kỳ mất hết phong độ hung hăng của một dạo.Rừng núi âm u, hùng vĩ, chỉ còn nghe đâu những tiếng vọng mơ hồ.Trong lúc lều tranh của ông cha mấy đời để lại, từng buổi chiều,tôi bắt ghế ngồi nhìn về rặng núi Đâu Mâu ở phía Tây, cảmgiác sự thất bại và sự sụp đổ của những ngày nung cái khíphách cuồng vong. Cứ tưởng con mắt mình chẳng còn cơ hội nào đểtrông thấy những lớp bụi đường, đành để cho thân và danh cùngmục nát với cỏ cây tại chỗ này. Ấy thế mà, sự đời vẫn cónhững cơn biển dâu kỳ lạ.

Chẳng mấy chốc sau đó, con tàu lạc phách lại lănbánh nữa. Tự thề rằng, từ nay, dù có đi đâu, cũng sẽ chỉ đitrong một tâm tư tịch liêu. Lời thề này cho đến bây giờ, có lẽvẫn còn hiệu lực.

Năm đó, gần ngày Tết, tôi ghé lại thăm mộtngười bạn, bấy giờ đang ở vùng Đồng Ông Cộ, tỉnh Gia Định.Cũng là một bọn lỡ vận và thất chí như nhau. Tuy vậy, không aidám cất tiếng bảo "Trời hại ta rồi". Bạn già như chúngtôi có lẽ ai cũng muốn nhớ ít mà nên nói nhiều. Cho nên, tâmsự tràng giang đại hải cứ theo gió mà bay mất.

Đó là nói riêng cái tâm sự giang hồ và nhữngcuồng vọng của tuổi thanh xuân. Nhưng tâm sự văn chương có lẽkhông phải là chuyện đáng quên hay đáng nhớ. Sẵn dịp đó, tôilàm tặng ông bạn già hai câu đối chữ Nho, để treo coi mấy ngàyTết. Nhờ vậy mà tình già không nhạt nhẽo lắm. Nay xin lục lạimấy câu đó cung hiền chư phương độc giả thưởng thức chơi :

Chích lý thiên trùng ẩn ước triêu huy, tà cốc khẩu

Song kiều tuyệt lãnh mông lông thệ thủy trục vânkhông

Ông bạn già tôi rất lấy làm thưởng thức, sai xắpnhỏ chạy ra Lăng Ông Bà Chiểu kiếm coi thầy đổ nào đó viếtchữ trông được, thuê viết lên giấy hồng điều, để treo mấycái cột trống giữa nhà, thêm một chút phong vận cho những cuộcđối ẩm khuya và chiều.

Xắp nhỏ trở về, mang về không những chỉ hai câuđó, mà còn thêm hai câu nữa. Chúng tôi không hiểu ất giáp gìhết. Hỏi ra, mới hay là ông thầy đồ kia có nhã ý tặng thêm haicâu. Coi lại, té ra là hai câu dịch nôm như thế này :

Một chiếc dép đi nghìn trùng, thấp thoáng nắng mainghiêng cửa động ;

Đôi cánh non trên vạn nẻo, mịt mù nước cuộn đuổitrời mây.

Chúng tôi cao hứng vô cùng. Một mặt sai xắp nhỏchạy ra mời ông thầy đồ về nhà chơi. Một mặt sai sắm sửa thêmmột ít thức nhắm và mua thêm rượu ngon.

Gần trưa thì khách tới. Chủ khách nhìn nhau sửngsốt. Chả lẽ tuổi già yếu kém hóa ra mắt mờ lệch sao đây ? Hỡiôi, há không phải là cố tri sư Thiện Chiếu đấy ư ? Sao lại nôngnỗi trong lớp hình hài này ?

Sư vốn con nhà trưởng giả ở Kinh Thành. Xuất giatừ nhỏ. Cốt cách tài hoa, nên càng lớn càng tự thị. Sở họcrộng rãi. Nhất là về kinh điển nhà Phật thì coi như độc bộ vũlâm.

Thuở đó, bọn tôi dăm bảy người, mỗi người theomột chí hướng. Ai cũng mong mỏi đem cái hùng tâm tráng khí củamình ra mà thi thố trong thời buổi điêu linh nhục nhã của quêhương. Trên những bước đường xuôi ngược Kinh Thành là nơi gặpgỡ thường xuyên. Cứ mỗi lần đoàn tụ đủ mặt, chúng tôi kéonhau đến sư Thiện Chiếu. Sư nói chuyện rất sôi nổi và lôi cuốn.Đời sống vẫn tỏ ra phóng khoáng, nhưng chung quanh sư như đã bao vâysẵn một bức tường kiên cố, chúng tôi không làm sao xuyên thủngđược. Có lẽ vì sở kiến quá cách xa nhau.

Cho đến lúc mưu sự chung của chúng tôi bị tan rã, ainấy tìm đường chạy trốn. Một trong các người bạn của tôi, anhBát K? lúc đào vong đã tìm đến sư, nhờ phương tiện sư, đượcgởi đi lẩn tránh tại một vùng quê heo hút. Kể từ đó, anh emmỗi người một ngả, mất hẳn liên lạc. Mãi về sau mới biếtđược tin tức hoạt động của một vài người. Sư Thiện Chiếu thìbây giờ mới gặp lại. Riêng anh Bát K? tôi chỉ nghe được qualời sư Thiện Chiếu nhân lúc tái ngộ này mà thôi.

Bát K?là đàn anh, thủ lãnh đại ca của chúng tôitrong mưu đồ đại sự. Khi thất bại, đào vong, anh vẫn tin tưởng vàchờ đợi một cơ hội khác. Những ngày đào vong, anh lấy khung cảnhnhỏ hẹp của gia đình làm chỗ trú ẩn tinh thần. Con người anh cónhững đam mê mù quáng. Hoạt động chính trị thì đam mê lý tưởngcủa mình đến độ quên hết dự đoán trước những gì mà biếnchuyển thời cuộc phải có. Đời sống gia đình đưa anh đến các đammê cuồng loạn khác. Cái đó tôi biết chắc là vì bản tính đammê, chứ không phải vì thất chí. Chẳng mấy chốc, gia đình đổ vỡ.Anh dành ôm hận bỏ đi. Đó là đi liều, vì phải tránh né đủ mọithứ. Anh đi từng đoạn đường, lần mò cho đến vào tại Sài Gòn.Rồi một đêm kia, sư Thiện Chiếu bỗng gặp anh trong dáng người đàyđọa phong trần, mình đã khoác áo làm sư. Vì anh phải làm như vậymới tránh được sự theo dõi suốt cả đoạn đường từ Sài Gòntrở ra Huế.

Đêm đó, anh nghỉ lại với Thiện Chiếu, nhưng khônghề đả động đến mục đích trở về Huế của mình. Theo lời sưThiện Chiếu, đó là đêm đầu tiên sư khám phá sức nhẫn nạicủa một con người đầy chất đam mê mù quáng này. Thất bại vàđau khổ làm cho gương mặt anh rạng rỡ hẳn lên. Có lẽ phải làngười đa cảm như sư Thiện Chiếu mới thấy được nét thiên thầntrên gương mặt trẻ thơ đầy nước mắt. Cái thất bại lớn, khôngphải là những dự tính bất thành, hay những khát vọng và đam mêcuồng nhiệt không được thỏa mãn. Sự thất bại chính ở chỗ mìnhchưa nếm được sự thực của đau khổ. Ước vọng dù đạt đượchay không đạt được, luôn luôn vẫn là ước vọng Phải bị bứcbách đến chỗ kỳ cùng khổ lụy, mới thấy rõ cái đam mê cuồngnhiệt của mình nó như thế nào. Sau đêm đó, Bát K?từ gìã rađi, biệt tích.

Vài tháng sau, Thiện Chiếu lên dường vào Nam. Tôicó cảm giác sư bỏ đi trong con mắt hùng thị cô độc của mình. Tàihoa mà giấu kín, nó chỉ làm khổ mình trong một cõi mộng cô liêumà thôi. Đem tài hoa ra thi thố, thì nó lại đày đọa mình trong mộtrừng khổ lụy.

Sư không nói rõ, nhưng qua lời nói, tôi cũng đoánđược lần đi đó, sư cũng đã làm nên sự nghiệp đúng như dựtính dưới một danh hiệu khác.

Cái con người này, từ dạo trước, hễ mỗi lầnmở miệng là phảng phất lý tưởng giải thoát. Đời sống khôngchút ràng buộc, ngay cả qui luật nhà chùa cũng không tỏ ra ràngbuộc sư, cho nên chúng tôi hồi đó không hiểu sư muốn giải thoátcái gì. Sao sáng suốt như sư mà không giác ngộ trước cái nhụcnhã điêu linh của đất nước; để thực hiện lý tưởng giảithoát ở đó, cho chúng tôi nhờ cậy được nhiều ?

Tôi hỏi hoàn cảnh hiện tại, và nguyên nhân nàođưa đẩy con người tài hoa xưa kia đến tình trạng như vầy. Bấygiờ, không phải là sư Thiện Chiếu, mà là một cụ đồ Nho viếtmướn, mỉm cười. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy mình đau khổ. Ngoàisáu mươi tuổi, ý nghĩa của đau khổ là gì nhỉ ?

Sau buổi cơm trưa, chúng tôi cố cầm ông bạn cố trinày ở chơi ít hôm. Nhưng ông nhất quyết từ chối. Hỏi thăm nơitrú ngụ, cũng không nói. Đến nay, cũng đã; mấy năm rồi, tôikhông biết hỏi thăm ai về sư Thiện Chiếu ngày xưa hay cụ đồ viếtmướn ngày nay nữa.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn