Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

11. Kinh Tăng Nhất

12/03/201211:11(Xem: 2307)
11. Kinh Tăng Nhất

KINH TRƯỜNG A HÀM

Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm
Việt dịch: Thích Tuệ Sỹ

PHẦNII

11.KINH TẮNG NHẤT

Tôinghe như vầy:

Mộtthời, Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng cây Kỳ-đà, vườnCấp cô độc, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trămnăm mươi người.

Bấygiờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“NayTa sẽ nói pháp cho các thầy nghe; pháp vi diệu, khoảng đầu,khoảng giữa, khoảng cuối đều chân chánh, có đầy đủnghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Đó là pháp tăng nhất.Các thầy hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ. Ta sẽ giảng thuyết”.”

CácTỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Phật nói với các Tỳ-kheo:

“Pháptăng nhất ấy là, một thành pháp, một tu pháp, một giácpháp, một diệt pháp, một chứng pháp.

“Thếnào là một thành pháp? Đó là không bỏ các pháp thiện.

“Thếnào là một tu pháp? Đó là thường tự niệm thân.

“Thếnào là một giác pháp? Đó là xúc hữu lậu.

“Thếnào là một diệt pháp? Đó là ngã mạn.

“Thếnào là một chứng pháp? Đó là vô ngại tâm giải thoát.

“Lạinữa, có hai thành pháp, hai tu pháp, hai giác pháp, hai diệtpháp, hai chứng pháp.

“Thếnào là hai thành pháp? Biết tàm và biết quý.

“Thếnào là hai tu pháp? Chỉ và quán.

“Thếnào là hai giác pháp? Danh và sắc.

“Thếnào là hai diệt pháp? Vô minh và hữu ái.

“Thếnào là hai chứng pháp? Minh và giải thoát.

“Lạinữa, có ba thành pháp, ba tu pháp, ba giác pháp, ba diệt pháp,ba chứng pháp.

“Thếnào là ba thành pháp.

“1.Thân cận thiện hữu.

“2.Tai nghe pháp âm.

“3.Thành tựu pháp và tùy pháp.

“Thếnào là ba tu pháp? Đó là ba tam- muội: không tam- muội, vôtướng tam-muội, vô tác tam-muội.

“Thếnào là ba giác pháp? Đó là ba thọ: khổ thọ, lạc thọ, phikhổ phi lạc thọ.

“Thếnào là ba diệt pháp? Đó là ba ái: dục ái, hữu ái, vô hữuái.

“Thếnào là ba chứng pháp? Đó là ba minh: túc mạng trí, thiên nhãntrí và lậu tận trí..

“Lạinữa, có bốn thành pháp, bốn tu pháp, bốn giác pháp, bốndiệt pháp, bốn chứng pháp.

“Thếnào là bốn thành pháp? Đó là luân pháp:

“1.Sống ở trung ương của đất nước.

“2.Gần thiện hữu.

“3.Tự cẩn thận.

“4.Có gốc rễ thiện đã được trồng từ đời trước.

“Thếnào là bốn tu pháp? Đó là bốn niệm xứ:

“1.Tỳ-kheo quán thân trên nội thân, tinh cần không biếng nhác,ức niệm không quên, trừ tham ưu ở đời. Quán thân trênngoại thân, tinh cần không biếng nhác, ức niệm không quên,trừ tham ưu ở đời. Quán thân trên nội ngoại thân, tinhcần không biếng nhác, ức niệm không quên, trừ tham ưu ởđời.

“2.Quán thọ.

“3.Quán ý.

“4.Quán pháp cũng như vậy.

“Thếnào là bốn giác pháp? Đó là bốn thức ăn: thức ăn bằngvo nắm, thức ăn bằng cảm xúc, thức ăn bằng tư niệm, thứcăn do thức.

“Thếnào là bốn diệt pháp? Đó là bốn thủ: dục thủ, ngã ngữthủ, giới cấm thủ và kiến thủ.

“Thếnào là bốn chứng pháp? Đó là bốn Sa-môn quả: Tu-đà-hoànquả, Tư-đa-hàm quả, A-na-hàm quả, A-la-hán quả.

“Lạinữa, có năm thành pháp, năm tu pháp, năm giác pháp, năm diệtpháp, năm chứng pháp.

“Thếnào là năm thành pháp? Đó là năm diệt tận chi:

“1.Tin Phật, Như Lai, Chí Chân, mười hiệu thành tựu.

“2.Không bệnh, thân thường an ổn.

“3.Chất trực, không dua xiểm, hướng thẳng đến con đườngdẫn đến Niết-bàn của Như Lai.

“4.Chuyên tâm không tán loạn, đọc cũng không quên lãng.

“5.Khéo léo quán sát sự sinh diệt của pháp, bằng thực hànhcủa Hiền thánh mà diệt tận gốc rễ khổ.

“Thếnào là năm tu pháp? Đó là năm căn: tín căn, tinh tấn căn,niệm căn, định căn và tuệ căn.

“Thếnào là năm giác pháp? Đó là năm thọ ấm: sắc thọ ấm,thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm.

“Thếnào là năm diệt pháp? Đó là năm cái: tham dục cái, sân nhuếcái, thụy miên cái, trạo hối cái và nghi cái.

“Thếnào là năm chứng pháp? Đó là năm tụ vô học: tụ vô họcgiới, tụ vô học định, tụ vô học tuệ, tụ vô học giảithoát, tụ vô học giải thoát tri kiến.

“Lạinữa có sáu thành pháp, sáu tu pháp, sáu giác pháp, sáu diệtpháp, sáu chứng pháp.

“Thếnào là sáu thành pháp? Đó là sáu pháp tôn trọng: Nếu cóTỳ-kheo tu sáu pháp tôn trọng, đáng kính, đáng trọng, hòahợp với chúng không có tranh tụng, độc hành không hỗn tạp.Những gì là sáu?

“1.Ở đây, Tỳ-kheo thân thường hành từ, kính đồng phạm hạnh,sống với tâm nhân ái. Đó gọi là pháp tôn trọng, đánghkính, đáng trọng, hòa hợp với chúng, không có tranh tụng,độc hành không tạp.

“24.Lại nữa, Tỳ-kheo khẩu hành từ, ý hành từư;, được vậtlợi dưỡng đúng pháp và những thức ăn ở trong bát cũngđều đem chia cho người khác dùng chung, không phân biệt đâykia.

“5.Lại nữa, Tỳ-kheo, đối với giới mà bậc Thánh hành trì,không phạm, không hủy, không nhiễm ô, được bậc Trí khenngợi, khéo thọ trì đầy đủ, thành tựu định ý.

“6.Chánh kiến và các phạm hạnh để thành tựu sự xuất yếucủa Hiền thánh, để chân chánh diệt tận khổ, đó gọilà pháp tôn trọng, đáng kính đáng trọng, hòa hợp với chúng,không có tranh tụng, độc hành không hỗn tạp.

“Thếnào là sáu tu pháp? Đó là sáu tu niệm: niệm Phật, niệmPháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên.

“Thếnào là sáu giác pháp? Đó là sáu nội nhập: nhãn nhập, nhĩnhập, tỷ nhập, thiệt nhập, thân nhập, ý nhập.

“Thếnào là sáu diệt pháp? Đó là sáu ái: sắc ái, thanh ái, hươngái, vị ái, xúc ái, pháp ái.

“Thếnào là sáu chứng pháp? Đó là sáu thần thông:

“1.Thần túc thông chứng.

“2.Thiên nhĩ thông chứng.

“3.Tri tha tâm thông chứng.

“4.Túc mạng thông chứng.

“5.Thiên nhãn thông chứng.

“6.Lậu tận thông chứng.

“Lạinữa, có bảy thành pháp, bảy tu pháp, bảy giác pháp, bảydiệt pháp, bảy chứng pháp.

“Thếnào là bảy thành pháp? Đó là bảy tài sản: tín là tài sản,giới là tài sản, tàm là tài sản, quý là tài sản, đa vănlà tài sản, huệ thí là tài sản.

“Thếnào là bảy tu pháp? Đó là bảy giác ý: ở đây, Tỳ-kheotu niệm giác ý, y vô dục, y tịch diệt, y viễn ly. Tu pháp,tu tinh tấn, tu hỷ, tu ỷ, tu định, tu xả, y vô dục, y tịchdiệt, y viễn ly.

“Thếnào là bảy giác pháp? Đó là bảy trú xứ thức: Hoặc cóchúng sanh với nhiều tâm khác nhau, nhiều tưởng khác nhau,đó là trời và người vậy. Đó là thức trú thứ nhất.Lại có chúng sanh, với nhiều thân khác nhau nhưng một tưởng,đó là trời Phạm quang âm lúc mới sanh đầu tiên. Đó làthức trú thứ hai. Lại có chúng sanh với một thân nhưng nhiềutưởng khác nhau, đó là trời Quang âm. Đó là thức trú thứba. Lại có chúng sanh với một thân và một tưởng giốngnhau, đó là trời Biến tịnh. Đó là thức trú thứ tư. Lạicó chúng sanh trú Hư không xứ. Đó là thức trú thứ năm.Lại có chúng sanh trú ở Thức xứ. Đó là thức trú thứsáu. Hoặc trú Bất dụng xứ. Đó là thức trú thứ bảy.

“Thếnào là bảy diệt pháp? Đó là bảy sử: sai sử bởi dụcái, sai sử bởi hữu ái, sai sửữ bởi kiến, sai sử bởimạn, sai sử bởi sân nhuế, sai sử bởi vô minh, sai sử bởinghi.

“Thếnào là bảy chứng pháp? Đó là bảy năng lực diệt tận lậuhoặc: ở đây, Tỳ-kheo, đối với hết thảy khổ, sự tậpkhởi của khổ, sự diệt trừ, vị ngọt, sự tai hại vàsự xuất ly của khổ mà biết như thật, thấy như thật;quán sát dục như hầm lửa và cũng như đao kiếm, biết dục,thấy dục, không tham nơi dục, tâm không trụ nơi dục. Ởtrong đó lại khéo quán sát; sau khi đã như thật giác tri,như thật thấy, tham, tật, ác bất thiện pháp của thế giankhông rò rỉ, không sinh khởi. Tu Tứ niệm xứ, tu tập nhiềulần, thực hành nhiều lần. Tu Năm căn, Năm lực, Bảy giácý, Tám hiền thánh đạo, tu tập nhiều lần, thực hành nhiềulần.

“Lạinữa, có tám thành pháp, tám tu pháp, tám giác pháp, tám diệtpháp, tám chứng pháp.

“Thếnào là tám thành pháp? Đó làá tám nhân duyên khiến cho chưasở đắc phạm hạnh nhưng có thể sở đắc trí và nếu đãsở đắc phạm hạnh thì trí tăng trưởng. Những gì là tám?Ở đây, Tỳ-kheo sống nương tựa Thế Tôn, hoặc nương tựaSư trưởng, hoặc nương tựa người phạm hạnh có trí tuệ,sanh tâm tàm quý, có ái, có kỉnh. Đó là nhân duyên thứ nhất,khiến cho chưa đắc phạm hạnh mà chứng đắc trí; nếu đắcphạm hạnh rồi thì trí tăng trưởng. Lại nữa, nương tựaThế Tôn, tùy thời mà thưa hỏi: Pháp này có ý nghĩa gì?Dẫn đến đâu?, khi ấy các tôn trưởng liền mở bày chonghĩa lý thậm thâm. Đó là nhân duyên thứ hai. Sau khi nghepháp thân tâm an lạc, an tĩnh. Đó là nhân duyên thứ ba. Khôngluận bàn những tạp luận vô ích làm chướng ngại đạo;vị ấy đến giữa đại chúng, hoặc tự mình thuyết pháp,hoặc thỉnh người khác thuyết, mà vẫn không bỏ sự im lặngcủa Hiền thánh. Đó là nhân duyên thứ tư. Đa văn, quảngbác, ghi nhớ không quên các pháp thâm áo, hay khéo ở khoảngđầu, khoảng giữa và khoảng cuối, có nghĩa có vị, chânthật, đầy đủ phạm hạnh. Sau khi nghe thì ghi nhớ trong lòng,kiến giải không lay động. Đó là nhân duyên thứ năm. Tutập tinh cần, diệt ác tăng thiện, gắng sức thực hành khôngbỏ pháp ấy. Đó là nhân duyên thứ sáu. Bằng trí tuệ mànhận thức pháp sanh diệt, chỗ thú hướng của Hiền thánh,tận cùng biên tế của khổ. Đó là nhân duyên thứ bảy.Quán tướng sanh và tướng diệt của năm thọ ấm: Đây làsắc, đây là sự tập khởi của sắc, đây là sự diệt tậncủa sắc. Đây là sự tập khởi của thọ, tưởng, hành,thức, sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức. Đó lànhân duyên thứ tám, khiến cho chưa sở đắc phạm hạnh màsở đắc trí, nếu đã sở đắc phạm hạnh thì trí tuệtăng trưởng.

“Thếnào là tám tu pháp? Đó là tám con đường của Hiền thánh:chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định.

“Thếnào là tám giác pháp? Đó là tám pháp ở đời: lợi, suy,vinh, nhục, khen, chê, khổ, lạc.

“Thếnào là tám diệt pháp? Đó là tám tà: tà kiến, tà tư, tàngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định.

“Thếnào là tám chứng pháp? Đó là tám giải thoát. Bên trong cósắc tưởng, quán sắc: giải thoát thứ nhất. Bên trong cósắc tưởng, quán ngoại sắc: giải thoát thứ hai. Tịnh giảithoát: giải thoát thứ ba. Vượt sắc tưởng, diệt sân nhuếtưởng, an trú không xứ: giải thoát thứ tư. Vượt qua khôngxứ, an trú thức xứ: giải thoát thứ năm. Vượt qua thứcxứ, an trú bất dụng xứ: giải thoát thứ sáu. Vượt qua bấtdụng xứ, an trú hữu tưởng vô tưởng xứ: giải thoát thứbảy. Vượt hữu tưởng vô tưởng xứ, an trú tưởng tri diệt:giải thoát thứ tám.

“Lạinữa, có chín thành pháp, chín tu pháp, chín giác pháp, chíndiệt pháp, chín chứng pháp.

“Thếnào là chín thành pháp? Đó là chín tịnh diệt chi: giới tịnhdiệt chi, tâm tịnh diệt chi, kiến tịnh diệt chi, độ nghitịnh diệt chi, phân biệt tịnh diệt chi, đạo tịnh diệtchi, trừ tịnh diệt chi, vô dục tịnh diệt chi, giải thoáttịnh diệt chi.

“Thếnào là chín tu pháp? Đó là chín gốc rễ của hỷ: hỷ, ái,duyệt, lạc, định, như thật tri, trừ xả, vô dục, giảithoát.

“Thếnào chín giác pháp? Đó là chín chúng sanh cư:

“1.Hoặc có chúng sanh có nhiều thân khác nhau, với nhiều tưởngkhác nhau, tức là chư Thiên và loài người. Đó là nơi cưtrú thứ nhất của chúng sanh.

“2.Lại có chúng sanh có nhiều thân khác nhau, nhưng với mộttưởng giống nhau, tức là trời Phạm quang âm lúc mới sanh.Đó là cư trú thứ hai của chúng sanh.

“3.Lại có chúng sanh với một thân giống nhau, nhưng với nhiềutưởng khác nhau, tức là trời Quang âm. Đó là cư trú thứba của chúng sanh.

“4.Lại có chúng sanh với một thân một tưởng giống nhau, tứclà trời Biến tịnh. Đó là cư trú thứ tư của chúng sanh.

“5.Lại có chúng sanh không có tưởng và không có giác tri, tứclà trời Vô tưởng. Đó là cư trú thứ năm của chúng sanh.

“6.Lại có chúng sanh an trú hư không xứ. Đó là cư trú thứsáu của chúng sanh.

“7.Lại có chúng sanh an trú thức xứ. Đó là an trú thứ bảycủa chúng sanh.

“8.Lại có chúng sanh an trú vô sở hữu xứ. Đó là cư trú thứtám của chúng sanh.

“9.Lại có chúng sanh an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đólàa cư trú thứ chín của chúng sanh.

“Thếnào là chín diệt pháp? Đó là chín gốc rễ của ái: Nhânái có tìm cầu. Nhân cầu có lợi. Nhân lợi có dụng. Nhândụng có dục. Nhân dục có dính trước. Nhân trước có tậtđố. Nhân tật có bảo thủ. Nhân thủ có hộ.

“Thếnào là chín chứng pháp? Đó là chín tận: Nếu nhập Sơ thiền,thì gai nhọn là âm thanh bị diệt trừ. Nhập đệ Nhị thiền,gai nhọn là giác và quán bị diệt trừ. Nhập đệ Tam thiền,gai nhọn là hỷ bị diệt trừ. Nhập đệ Tứ thiền, gai nhọnlà hơi thở ra vào bị diệt trừ. Nhập không xứ, gai nhọnlà sắc tưởng bị diệt trừ. Nhập thức xứ, gai nhọn làkhông tưởng bị diệt trừ. Nhập bất dụng xứ, gai nhọnlà thức tưởng bị diệt trừ. Nhập hữu tưởng vô tưởngxứ, gai nhọn là bất dụng tưởng bị diệt trừ. Nhập diệttận định, gai nhọn là tưởng và thọ bị diệt trừ.

“Lạinữa, có mười thành pháp, mười tu pháp, mười giác pháp,mười diệt pháp, mười chứng pháp.

“Thếnào là mười thành pháp? Đó là mười cứu pháp:

“1.Tỳ-kheo đầy đủ hai trăm năm mươi 250 giới, đầy đủ oainghi, thấy lỗi nhỏ nhặt sanh tâm lo sợ lớn, chân chánh họcgiới, tâm không nghiêng lệch.

“2.Có được thiện tri thức.

“3.Ngôn ngữ trung chánh, nhẫn nhịn được nhiều điều.

“4.Ưa cầu thiện pháp, phân bố không tiếc lẫn.

“5.Các đồng phạm hạnh có việc phải làm liền đến giúp đỡkhông lấy làm mệt nhọc, làm được những việc khó làmvà cũng dạy người khác làm.

“6.Nghe nhiều; nghe xong thì ghi nhớ không hề quên.

“7.Tinh tấn, diệt trừ bất thiện pháp, tăng trưởng thiện pháp.

“8.Thường tự chuyên niệm, không có tưởng khác, nhớ nhữnghành vi thiện từ trước như thấy trước mắt.

“9.Trí tuệ thành tựu, quán sự sanh diệt của các pháp, bằngpháp luật Hiền thánh mà đoạn trừ gốc khổ.

“10.Vui với sự nhàn cư, chuyên niệm tư duy, ở trung gian thiền,không có đùa giỡn.

“Thếnào là mười tu pháp? Đó là mười chánh hàạnh: chánh kiến,chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phươngtiện, chánh niệm, chánh định, chánh giải thoát, chánh tri.

“Thếnào là mưuời giác pháp? Đó là mười sắc nhập: nhãn nhập,nhĩ, tỉ, thiệt, thân nhập; sắc, thanh, hương, vị, xúc nhập.

“Thếnào là mười diệt pháp? Đó là mười tà hạnh: tà kiến,tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện,tà niệm, tà định, tà giải thoát, tà trí.

“Thếnào là mười chứng pháp? Đó là mười vô học pháp: vô họcchánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định, chánh giải thoát,chánh trí.

“CácTỳ-kheo, đó là tăng nhất pháp. Ta nay đã nói cho các thầypháp như vậy. Ta, Như Lai, đã làm đầy đủ những điềucần làm cho đệ tử. Với lòng thương yêu, Ta đã răn dạycác thầy. Các thầy cũng nên tinh tấn phụng hành.

“Nàycác Tỳ-kheo, hãy ở chỗ thanh vắng, dưới gốc cây hay bãiđất trống, tinh cần tọa thiền, chớ tự để mình buônglung. Nay không gắng sức, về sau hối hận nào có ích gì.Đó là lời Ta răn dạy, hãy tinh tấn thọ trì”.”

Bấygiờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật thuyết, hoanhỷ phụng hành.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn