Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phụ lục 1

28/12/201115:18(Xem: 2295)
Phụ lục 1

THIỀN VÀ BÁT NHÃ

Daisetz Teitaro Suzuki

Bản dịch Việt: Tuệ Sỹ

---o0o---

THIỀNLUẬN NĂM

Ý NGHĨA CỦATÂM KINH BÁT-NHÃ
TRONG PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG

PHỤ LỤC 1

(TUỆ SỸ)

1. Bản phiên âm Phạn-Hán
Taishō No. 256

clip_image005

2. Hán dịch của Cưu-ma-la-thập

MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT ĐẠI MINH CHÚ KINH

摩訶般若波羅蜜大明咒經

(Taishō No 250)

觀世音菩薩。行深般若波羅蜜時。照見五陰空。度一切苦厄。舍利弗色空故無惱壞相。受空故無受相。想空故無知相。行空故無作相。識空故無覺相。何以故。舍利弗非色異空。非空異色。色即是空。空即是色。受想行識亦如是。舍利弗是諸法空相。不生不滅。不垢不淨。不增不減。是空法。非過去非未來非現在。是故空中。無色無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界乃至無意識界。無無明亦無無明盡。乃至無老死無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故。菩薩依般若波羅蜜故。心無罣礙。無罣礙故無有恐怖。離一切顛倒夢想苦惱。究竟涅槃。三世諸佛依般若波羅蜜故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜是大明咒。無上明咒。無等等明咒。能除一切苦真實不虛故說般若波羅蜜咒即說咒曰。竭帝竭帝 波羅竭帝 波羅僧竭帝 菩提僧莎呵。摩訶般若波羅蜜大明咒經


3. Việt dịch theo bản Hán của Cưu-ma-la-thập

A. Phiên âm Hán-Việt

Quán Thế Âm Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã ba-la-mật thời, chiếu kiến ngũ ấm Không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-lợi-phất, sắc không cố vô não hoại tướng; thọ không cố vô thọ tướng; tưởng không cố vô tri tướng; hành không cố vô tác tướng; thức không cố vô giác tướng. Hà dĩ cố? Xá-lợi-phất, phi sắc dị không, phi không dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc như thị.

Xá-lợi-phất, thị chư pháp không tướng bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị không pháp phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại. Thị cố, không trung vô sắc; vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí, diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố.

Bồ-tát y Bát-nhã ba-la-mật cố tâm vô quái ngại; tâm vô quái ngại cố vô hữu khủng bố, ly nhất thiết điên đảo mộng tưởng khổ não, cứu cánh Niết-bàn. Tam thế chư Phât y Bát-nhã ba-la-mật cố đắc A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề

Cố trí Bát-nhã ba-la-mật thị đại minh chú, vô thượng minh chú, vô đẳng đẳng minh chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật, bất hư cố; thuyết Bát-nhã ba-la-mật chú. Tức thuyết chú viết: Yết-đế, yết-đế, ba-la-yết-đế, ba-la-tăng-yết-đế, bồ-đề tăng sa-ha.

B. Việt dịch

Bồ-tát Quán Thế Âm, khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật thậm thâm, soi thấy năm ấm là Không, vượt qua tất cả khổ ách.

Xá-lợi-phất, sắc là Không cho nên không có tướng não hoại;[62] thọ là Không nên không có tướng cảm thọ;[63]tưởng là Không nên không có tướng tri nhận;[64] hành là Không nên không có tướng tạo tác;[65] thức là không nên không có tướng giác tri.[66] Vì sao vậy? Xá-lợi-phất, không phải rằng sắc khác Không; không phải rằng Không khác sắc; Không tức thị sắc, sắc tức thị Không; thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy.

Xá-lợi-phất, tướng Không của các pháp ấy không sinh,[67] không diệt, không cấu, không tịnh, không tăng, không giảm, không phải quá khứ, không phải vị lai, không phải hiện tại. Cho nên, trong Không không có sắc, không thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có giới của con mắt, cho đến không có giới của ý thức; không có vô minh, cũng không có sự diệt tận của vô minh, cho đến, không có già và chết, không có sự diệt tận của già và chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí, cũng không có đắc. Vì vô sở đắc.

Bồ-tát do y chỉ Bát-nhã ba-la-mât mà tâm không bị bưng kín; do không bị bưng kín nên không có sự sợ hãi, xa lìa tất cả sự điên đảo, mộng tưởng, khổ não, đạt đến cứu cánh Niết-bàn. Chư Phật trong ba đời do y chỉ Bát-nhã ba-la-mật mà chứng đắc A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề

Do đó nên biết, Bát-nhã ba-la-mật là minh chú vĩ đại, là minh chú tối thượng, là minh chú không gì có thể sánh, diệt trừ tất cả khổ, chân thật, vì không hư dối; được gọi là chú Bát-nhã ba-la-mật. Tức thuyết chú rằng: yết-đế, yết-đế, ba-la-yết-đế, ba-la-tăng-yết-đế, bồ-đề tăng sa-ha.

---o0o---

Tựa tái bản

Tập sách Thiền và Bát-nhã này là phần trích Luận Năm và Luận Sáu, trong bộền luận, tập hạ, của D. T. Suzuki. Tập này gồm các thiên luận vềộđược xuất bản lầnđầu do An tiêm, năm 1972. Sởĩản toàn bộ, vì người dịch thấy cần phảiđọc lại bản dịch trướcđó,đểửa chữa và bổững sai lầm và thiếu sót nhấtđịnh phải có; mà công việc này chưa gặpđược thuận duyênđểực hiện. Vì vậy, chúng tôi sẽửa chữa từng phần, từng thiên luận, và sẽản dần.Thi Hoa nghiêm và Bát-nhã. Toàn bd không tái b s túc nh th s tái b

Nhân dịpđọc lại và sửa chữa, chúng tôi cũng thêm vào khá nhiều văn bản, tưệu liên quan đến Tâm kinh Bát-nhã. Các văn bản tưệu này giúp các độc giảơởđểựưệm những ý nghĩa tiềmẩn của Tâm kinh Bát-nhã mà các bản luận giải không thểếđểận thứcđược. Các tưệuđược cung cấp trongđây cũng chỉởừng mức có tính cách gợi ý. Vì nền văn học Bát-nhã, riêng trong Hán tạng, gồm các bản dịch và chú giải, quảật vô cùng đồộ, mà trong điều kiện hiện tại của trình độứu Phật học Việt nam thì công trình phiên dịch khó có thểực hiện chođầyđủươngđối chính xácđược. Dođó, người dịch mong độc giảếu cảm thấy cóđôi chút hứng thú với các tưệuđược cung cấpởđây, thì cũng chỉứng thú trong chừng mực vừa phải với nhận thức văn tự, ngoài ra thì tựưếu,đểượt qua giới hạn ngôn ngữ,đạtđược cho mình nhữngđiều ý tại ngôn ngoại.li li có thêm c st mình t duy và chiêm nghi thay thnh lich th s nghiên c th và t n linên h mình t duy quán chi v

Phật lịch 2547

Quảng Hương Già-lam

Tuệ S

cẩn chí

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn