Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

NC40-54

26/03/201105:16(Xem: 3349)
NC40-54

SO SÁNH KINH TRUNG A-HÀM CHỮ HÁN
VÀ KINH TRUNG-BỘ CHỮ PÀLI
Hòa thượng Thích Minh Châu (1961) - Thích Nữ Trí Hải dịch Việt (1998)
Nguyên tác: Bhiksu Thich Minh Chau (1961), "A Comparative Study of the Chinese Madhyama Agama and the Pali Majjhima Nikaya", Ph.D. Thesis, Bihar University, India

Phần Ba

15 MẪU NGHIÊN CỨU TỶ GIẢO
GIỮA CÁC KINH P VÀ C TƯƠNG ĐƯƠNG

NC40

C14:La Vân kinh
P61: Giáo giới Ràhula ở rừng Ambàlatthika

A. Toát yếu kinh C

C: Phật hiển thị cho Tôn giả La Vân sự nguy hiểm của cố ý nói láo nơi một Tỳ-kheo, Ngài khuyên Tôn giả nên suy nghĩ kỹ trước khi làm một thân hành, ngữ hành và ý hành.

P: Gần giống.

B. Nhan đề kinh

C: La Vân kinh, kinh về La Vân, ám chỉ Tôn giả La Vân mà bản kinh này nhắm đến.

P: Giáo giới La Hầu La ở rừng Ambalatthika,bài kinh nói về sự răn dạy La Hầu La ở Am Bà, ám chỉ bài kinh do đức Phật giảng cho La Hầu La ở Am Bà.

C. Nơi thuyết kinh

C: Đức Phật ở Vương Xá thành, trong rừng trúc Ca Lan Đà. Ngài đi đến Tôn giả La Vân cũng ở thành Vương Xá, trong khu rừng suối nóng, và giảng kinh này cho ngài.

P: Cũng địa điểm trên. Nhưng ở đây Tôn giả Ràhula trú tại Ambalatthika.

Ghi chú: Ambalatthika là một vườn ngự uyển trên đường giữa Vương Xá và Nàlandà. (DPPN i, 158).

D. Nội dung kinh

1. Cuộc gặp gỡ giữa đức Phật và Tôn giả La Vân:

C: Đức Phật khi đêm đã tàn, vào sáng sớm, vào thành Vương Xá để khất thực. Sau khi ăn xong, Ngài đi đến rừng Suối nóng, nơi Tôn giả La Vân ở. Tôn giả La Vân trông thấy đức Phật từ xa đến, đi ra đón tiếp Ngài, cầm y bát của Ngài, trải tọa cụ, đi lấy nước rửa chân. Sau khi rửa chân, đức Phật ngồi trên chỗ ngồi của La Vân.

P: Ở đây đức Phật vào buổi chiều từ độc cư thiền định trở dậy, đi đến Ambalatthika, nơi Tôn giả Ràhula ở. Tôn giả Ràhula khi thấy Phật từ xa đến, soạn sẵn chỗ ngồi và nước cho ngài rửa chân. Đức Phật ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và rửa chân, sau đó Tôn giả Ràhula đảnh lễ đức Phật và ngồi xuống một bên.

2. Sự giáo giới thứ nhất:

C: Đức Thế Tôn lấy một ít nước còn lại trong chậu, hỏi La Vân có thấy chút nước ấy không? Khi Tôn giả La Vân đáp có, Phật bảo rằng hạnh sa môn cũng ít như vậy nơi một người cố ý nói dối không biết hổ thẹn, không ân hận. Không có một ác hành nào mà người ấy không thể làm. Tôn giả phải học tập không được nói dối dù là nói để đùa chơi.

P: Gần giống. Ở đây đức Phật chỉ nói rằng, ít ỏi là hạnh Sa-môn của người cố ý nói dối không hổ thẹn, như chút ít nước còn lại.

3. Giáo giới thứ hai:

C: Sau khi đức Phật đổ chút ít nước ấy đi, Ngài hỏi La Vân có trông thấy chút ít nước ấy đã hoàn toàn bị quăng bỏ. Khi La Vân trả lời có, Phật dạy, hoàn toàn bị quăng bỏ như vậy là hạnh Sa-môn của người cố ý nói dối... dù là nói để đùa chơi.

P: Gần giống. Ở đây đức Phật nói đáng đổ đi là hạnh Sa-môn của người cố ý nói dối không biết hổ thẹn.

4. Giáo giới thứ ba và thứ tư:

C: Rồi đức Phật lật úp cái chậu và lật ngửa cái chậu, mỗi lần như vậy, Ngài bảo hạnh Sa-môn cũng bị lật úp lật ngửa như vậy nơi một người cố ý nói dối... dù là nói để đùa chơi.

P: Gần giống, với những nhận xét như trên. Sau lần giáo giới thứ tư, bản P thêm một giáo giới khác. Phật chỉ ra sự trống rỗng, trống không của cái chậu đã được lật ngữa, và công bố rằng trống rỗng, không ra gì, là hạnh Sa-môn của một người cố ý nói dối không biết hổ thẹn.

5. Giáo giới thứ năm:

C: Như một ông vua có một con voi lớn, khi con voi lâm trận, nó dùng hai chân trước, hai chân sau, đuôi, trán, lưng, mông, cổ, ...., tai, ngà, tất cả thân phần của nó để chiến đấu, nhưng nó bảo vệ cái vòi của nó. Khi ấy người quản tượng nghĩ rằng nó còn kể đến mạng sống của nó. Khi con voi sử dụng tất cả thân phần kể cả cái vòi để chiến đấu, thì người quản tượng nghĩ rằng con voi này không còn kể đến mạng sống của nó. Phật nói rằng con voi này khi lâm trận sẽ làm đủ mọi việc xấu xa. Cũng vậy, đối với một người cố ý nói dối không biết hổ thẹn, không ân hận, đức Phật công bố rằng, không có hành vi xấu ác nào mà người ấy không thể làm.

P: Gần giống. Con voi được mô tả là ìsàdanto(có vòi dài như một cây sào), ubbùlhavà (khéo nuôi lớn), abhijàto(khéo sinh), sangàmàvacaro(khéo lui tới bãi chiến trường, thiện chiến) còn về các thân phần khác nhau mà con voi dùng khi lâm trận, bản P bỏ: trán, lưng, mông, cổ... nhưng thêm: phần trước của thân, phần sau của thân và cái đầu. C: con voi này còn kể đến mạng sống của nó = P: con voi này không vứt bỏ mạng sống của nó (apariccattam). Ở đây lời giáo giới của đức Phật cũng như trong bản C, nhưng bỏ: không hối hận, không biết hổ thẹn.

6. Bài kệ:

C: Bản C thêm một bài kệ do đức Phật nói liên hệ đến vấn đề này:

"Một người phạm một lỗi lầm là nói dối,
Thì người ấy không sợ đời sau, không có điều ác nào nó không thể làm.
Thà nuốt hoàn sắt nóng đỏ như lửa,
Hơn là phạm giới mà nhận của bố thí của thế gian.
Nếu một người sợ khổ, không ưa nghĩ đến khổ, thì không nên làm hành vi xấu xa, một cách bí mật hay công khai.
Nếu bất thiện hành đã được làm, đang được làm,
Thì cuối cùng người ta không thể thoát khỏi chúng,
Và cũng không nơi nào trú ẩn khỏi chúng."

7. Suy nghĩ trước khi làm một thân hành, ngữ hành và ý hành:

a) Ví dụ tấm gương:

C: Phật hỏi Tôn giả La Vân tấm gương dùng để làm gì? La vân trả lời nó dùng để nhìn xem cái mặt của mình là sạch hay không sạch. Khi ấy Phật khuyên Tôn giả La Vân rằng, trước khi làm một thân hành nào, nên suy nghĩ xem thân hành ấy là trong sạch hay không trong sạch, là có lợi cho mình hay có lợi cho người khác không.

P: Gần giống, nhưng bỏ : "để nhìn xem cái mặt của mình sạch hay không sạch." Nó chỉ nói, "để nhìn vào trong đó". Lời khuyến cáo của đức Phật là: "Cũng vậy, sau khi suy nghĩ nhiều lần, thân hành, ngữ hành, ý hành ấy cần được làm."

b) Về thân hành:

(Xem phần trước, chương nói về nghiệp, kinh C14, và nói về giới luật tu sĩ) .

9. Một bài kệ:

(Xem phần trước, chương nói về các bài kệ).

E. Phần kết

Cả hai bản đều có phần kết thông thường, nhưng C thêm rằng, không những La Vân mà các Tỳ-kheo khác đều hoan hỷ trước lời dạy của đức Phật.

NC54

C132:Lại-tra-hòa-la kinh
P82: Kinh Ratthapàla

A. Toát yếu kinh C

C: Lại-tra-hòa-la sau khi nghe pháp của đức Phật giảng, muốn trở thành một Tỳ-kheo, nhưng Phật từ chối vì anh không được sự chấp thuận của cha mẹ. Anh trở về nhà và nhờ hăm dọa tuyệt thực cho đến chết, anh đã được cha mẹ đồng ý và trở thành một Tỳ-kheo đệ tử Phật. Chẳng bao lâu nhờ nỗ lực tinh cần, anh đã đắc quả A-la-hán. Khi ấy Lại-tra-hòa-la về nhà thăm cha mẹ, họ cố làm cho anh từ bỏ đời sống tu hành nhưng không thành công. Rồi Lại-tra-hòa-la gặp vua Chu-lai-po và giải thích cho vua những lý do anh đi tu.

P: Gần giống nhưng có vài dị biệt về chi tiết.

B. Nhan đề kinh

C: Lại-tra-hòa-la kinh, kinh nói về Lại-tra-hòa-la, chỉ thanh niên đã trở thành Tỳ-kheo ngược lại với ý muốn của cha mẹ.

P: Kinh Ratthapàla,cũng nói về một người ấy như ở kinh C.

C. Nơi thuyết kinh

C: Đức Phật ở nước Câu Lâu Sấu, trong làng Uất-lô-tra, trong vườn Bệ Đề Xá Hòa.

P: Đức Phật ở giữa dân chúng Kuru, trong thị trấn của người Kuru, tên gọi Thulakotthika.

D. Nội dung kinh

I. Bài pháp của đức Phật:

C: Đức Phật ở làng Uất-lô-tra, trong vườn Bệ Đề Xá Hòa, tiếng đồn lớn lan khắp mười phương về Sa-môn Cồ Đàm như sau: Sa-môn Cồ Đàm là đức Như lai, không chấp thủ, đã hoàn toàn và chân chánh giác ngộ, có minh và hạnh, bậc thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, bậc hàng phục được đạo và pháp, thầy của chư thiên và người, Phật, đấng che chở tất cả. Ở giữa thế gian này với chư thiên, ma, phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ nhân loại cho đến chư thiên, Ngài đã tự chứng với trí mình, chứng đạt và an trú. Ngài thuyết pháp khả ái ở chặng đầu, khả ái ở chặng giữa và khả ái ở chặng cuối, có nghĩa, có văn, hiển thị đời sống phạm hạnh hoàn toàn trong sạch. Được trông thấy Như lai, người không chấp thủ, bậc hoàn toàn và chân chánh giác ngộ, được đảnh lễ và cúng dường Ngài, sẽ đem lại công đức và lợi lạc nhanh chóng. Khi ấy các Bà-la-môn, gia chủ trong làng Uất-lô-tra đi đến nơi đức Phật, một số cúi đầu chào dưới chân đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số nói lên những lời hỏi thăm đức Phật và ngồi xuống một bên. Một số chắp tay hướng về đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Một số từ xa trông thấy đức Phật, giữ im lặng rồi ngồi xuống. Rồi đức Phật bằng vô số phương tiện, đã thuyết pháp cho họ, làm cho họ hoan hỷ, phấn khởi, khích lệ họ. Rồi Ngài im lặng. Các Bà-la-môn, gia chủ của làng Uất-lô-tra sau khi được đức Phật làm cho hoan hỷ, phấn khởi, khích lệ, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh Ngài ba vòng rồi ra về.

P: Gần giống. C: làng Uất-lô-tra = P: thị trấn Thullakotthika. Nó bỏ "trong vườn..." C: người hàng phục đạo và pháp (đạo pháp ngự) = P:purisadammasàrathi,bậc điều ngự những con người. C: đấng che chở tất cả = P: Thế Tôn, Bhagavà. C: sau khi đã tự chứng với trí mình, ngài chứng đạt và an trú = P: tự chứng với thắng trí. C: có nghĩa có văn = P: sàttham savyanjanam.C: được trông thấy đức Như lai, bậc không chấp thủ, bậc hoàn toàn và chân chính giác ngộ, được đảnh lễ cúng dường Ngài, sẽ đem lại công đức và lợi ích nhanh chóng = P: thật tốt lành để yết kiến một vị A-la-hán như vậy. Về các cách chào hỏi khác nhau, bản P thêm rằng, có người sau khi xưng tên, dòng họ, ngồi xuống một bên. Ở đây sự ra về của các Bà-la-môn, gia chủ, được đặt trong đoạn sau, không phải trong đoạn này.

II. Lại-tra-hòa-la xin trở thành Tỳ-kheo, và đức Phật từ chối:

C: Lại-tra-hòa-la vẫn ngồi lại, chờ khi các Bà-la-môn, gia chủ đi khỏi, anh ta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp thượng y chừa một vai và bạch đức Phật rằng, theo như anh ta hiểu qua lời thuyết giáo của đức Phật, nếu anh vẫn làm một cư sĩ thì thật không thể nào sống đời phạm hạnh một cách viên mãn và trọn đời. Bởi thế anh xin đức Phật cho phép mình sống đời tu sĩ, được thọ giới làm Tỳ-kheo. Đức Phật từ chối vì anh chưa được cha mẹ đồng ý, và bảo anh phải về xin cha mẹ.

P: Gần giống. Bản P thêm một đoạn trong đó Ratthapàlasuy nghĩ về quyết định của mình trước khi công bố với đức Phật.

III. Cha mẹ từ chối, Lại-tra-hòa-la tuyệt thực và nỗ lực của cha mẹ để khuyên từ bỏ tuyệt thực:

C: Lại-tra-hòa-la về nhà và xin cha mẹ cho phép sống đời xuất gia. Cha mẹ từ chối, nói rằng anh là đứa con trai duy nhất rất yêu quý của họ. Dù anh có chết, họ cũng không vứt đi được, thì làm sao họ có thể chịu nỗi việc không còn trông thấy anh lúc anh đang còn sống. Lại-tra-hòa-la lập lại lời cầu xin ba lần, nhưng cha mẹ vẫn từ chối. Anh bèn nằm xuống giữa nền nhà, không chịu đứng dậy, không ăn uống gì trong hơn bốn ngày. Cha mẹ năn nỉ anh đứng dậy, từ bỏ tuyệt thực, bảo rằng, thân thể của anh suốt đời đã quen với giường nệm êm ái, làm sao bây giờ không thấy đau khổ. Họ khuyên anh ta hãy đứng dậy, hãy làm một cư sĩ để bố thí, gieo trồng phước đức, vì con đường của đức Thế Tôn là khó nhất, và xuất gia học đạo cũng là khó nhất. Lại-tra-hòa-la vẫn im lặng. Khi ấy cha mẹ trước hết đi đến yêu cầu các bà con của họ và những quan chức lớn, kế đến yêu cầu những người nổi tiếng và có học vốn là bạn bè thân hữu của Lại-tra-hòa-la, để nhờ họ khuyên Lại-tra-hòa-la từ bỏ tuyệt thực. Họ đi đến nhưng cũng không thành công trong sứ mạng của mình. Khi ấy họ khuyên cha mẹ Lại-tra-hòa-la nên cho phép anh ta sống đời xuất gia, vì nếu anh ta được hạnh phúc trong đời sống xuất gia, họ còn có thể trông thấy anh trên đời, nhưng nếu anh không được hạnh phúc, anh chắc chắn sẽ chết và điều ấy không có lợi ích gì cả. Cha mẹ Lại-tra-hòa-la nghe lời khuyên ấy và bằng lòng cho Lại-tra-hòa-la xuất gia với điều kiện sau khi hoàn tất việc học pháp, hãy trở về thăm cha mẹ. Các bạn bè thân hữu đem lời chấp thuận của cha mẹ đến cho Lại-tra-hòa-la, anh vui mừng từ bỏ tuyệt thực và ăn uống lại như bình thường.

P: Gần giống. Ở đây cha mẹ Ratthapàlangăn cản như sau: "Con là đứa con độc nhất của ta, hết sức yêu dấu, con đã quen sống trong tiện nghi, được săn sóc tử tế, không biết gì là đau khổ, con hãy ăn uống, thọ hưởng dục lạc, và làm các việc công đức. Chúng ta không bằng lòng cho con xuất gia, nếu con có chết, chúng ta cũng còn không muốn rời xa con, thì làm sao chúng ta có thể cho phép con xuất gia trong khi con đang còn sống." Ở đây bản P bỏ chi tiết Ratthapàlađã tuyệt thực hơn bốn ngày. Lời năn nỉ của cha mẹ, những phản đối của họ cũng gần giống nhau trong hai bản, ngoại trừ ở đây họ năn nỉ anh hãy đứng dậy. Bản P chỉ nói cha mẹ đi đến bạn bè thân hữu của Ratthapàla. Phần còn lại cũng giống nhau.

IV. Lại-tra-hòa-la xuất gia, chứng quả A-la-hán và trở về thăm cha mẹ:

C: Rồi Lại-tra-hòa-la đi đến đức Phật khi đã được cha mẹ cho phép, và đức Phật cho thọ giới làm Tỳ-kheo. Rồi đức Phật đi đến Xá Vệ, ở lại trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc. Sau khi xuất gia, Lại-tra-hòa-la sống độc cư, tinh tấn thiền định, đắc quả A-la-hán. Sau 9, 10 năm, Lại-tra-hòa-la nghĩ đến việc về thăm cha mẹ như đã hứa. Tôn giả đi đến đức Phật, cho biết quyết định của mình và đức Phật đã cho phép Tôn giả đi vì biết Tôn giả không thể nào trở lại đời sống thấp kém. Lại-tra-hòa-la trở về phòng, thu xếp chỗ nằm, cầm y bát tuần tự đi đến làng Uất-lô-tra, vườn Bệ Đề Xá Hòa. Rồi vào buổi sáng sớm, Tôn giả cầm y đi vào làng khất thực. Ông nghĩ rằng đức Thế Tôn đã ca tụng hạnh tuần tự khất thực, nên Tôn giả đi hết nhà này sang nhà khác và đến nhà cha mình. Lúc ấy người cha đang chải râu tóc, khi trông thấy Lại-tra-hòa-la, ông bảo: "Những Sa-môn trọc đầu này là bọn có hành động đen tối, không con cái, không dòng họ, những kẻ phá hoại gia đình ta, ta chỉ có một đứa con trai yêu dấu, ta vô cùng quyến luyến, thế mà chúng đã đem nó đi mất, cạo đầu cho nó. Nay không cho kẻ này một thứ gì để ăn cả." Thế là Lại-tra-hòa-la không nhận được của bố thí nào từ nhà cha mình, ngoại trừ những lời nguyền rủa. Khi ấy một nữ tỳ trong nhà đem một rỗ đầy thức ăn hôi thối ra đổ vào đống rác. Lại-tra-hòa-la trông thấy và yêu cầu cô đổ vào bát của mình. Trong khi nữ tỳ đổ thực phẩm vào bát khất thực, cô ta nhận ra ngài nhờ hai dấu hiệu: giọng nói và bàn tay, bàn chân. Rồi cô vào báo cho người cha. Khi được tin ông hết sức vui mừng, tay trái cầm áo, tay phải vuốt râu tóc, vội vàng đi đến nơi Lại-tra-hòa-la đang ngồi dựa vào bức tường để ăn thức ăn thiu. Người cha hỏi làm sao Lại-tra-hòa-la có thể ăn thực phẩm đã thối này, vì vốn có thân thể yếu đuối và đã quen với cao lương mỹ vị. Ông hỏi tại sao ngài không vào nhà cha mình khi đã đến làng này. Lại-tra-hòa-la trả lời rằng, ông có đến nhà cha mẹ nhưng không nhận được đồ bố thí, mà chỉ nhận lời nguyền rủa. Khi ấy người cha xin lỗi con trai, kính cẩn đưa ông vào nhà, trải chỗ ngồi và mời ông ngồi xuống. Sau đó ông báo tin cho người mẹ có con trai của họ đến, và bảo bà sửa soạn thức ăn. Bà vui vẻ chuẩn bị thức ăn, sai chất những đồng tiền thành một đống lớn giữa sân, lớn đến nỗi một người đứng bên này không thể thấy được người đứng bên kia. Rồi bà đi đến Lại-tra-hòa-la và nói, đống tiền này là phần của mẹ chia cho, còn phần của cha thì vô số, không thể đếm bằng hàng trăm hàng ngàn. Tất cả tiền này sẽ dành cho Lại-tra-hòa-la nếu ông từ bỏ học giới, từ bỏ đời sống xuất gia, trở về sống bố thí làm phước, vì theo đức Thế Tôn thật khó, sống đời tu sĩ tu theo pháp thật khó. Khi ấy Lại-tra-hòa-la khuyên mẹ hãy làm một túi vải mới, bỏ tất cả tiền này vào trong, chất lên xe đem đến sông Hằng để dìm sâu xuống nước. Vì chính do tiền này mà người ta cảm thọ sầu, bi, khổ, ưu, không có hạnh phúc. Mẹ Lại-tra-hòa-la biết phương pháp này không thể thuyết phục Lại-tra-hòa-la từ bỏ đời sống xuất gia; bà bèn đi đến những người vợ cũ của Lại-tra-hòa-la, bảo họ trang sức bằng chuỗi đeo cổ và đủ thứ y phục, đi đến Lại-tra-hòa-la ôm chân mà nói: "Có những tiên nữ nào có sắc đẹp hơn tôi hay sao mà vì họ ông đã bỏ nhà đi tu?" Những bà vợ theo lời khuyên ấy, nhưng Lại-tra-hòa-la gọi những người vợ cũ bằng chị và bảo rằng không phải vì một tiên nữ nào mà ông đi tu, ông chỉ đi tu vì muốn đạt đến Phật pháp, và bây giờ mục đích của ông đã thành đạt. Những bà vợ cũ đứng qua một bên, khóc mà bảo bây giờ ông lại gọi họ bằng chị. Tôn giả Lại-tra-hòa-la yêu cầu cha mẹ bố thí đồ ăn vì đã đến giờ, đừng quấy nhiễu ông nữa. Khi ấy cha mẹ đứng lên cung cấp nước rửa và tự tay phục vụ đồ ăn ngon lành cho Lại-tra-hòa-la. Sau khi ăn xong, Tôn giả thuyết pháp cho cha mẹ bằng nhiều cách, làm họ vui vẻ phấn chấn, hoan hỷ. Rồi ngài đứng lên khỏi chỗ mà đọc bài kệ sau:

"Hãy nhìn hình dáng được trang sức bằng châu ngọc và chuỗi đeo cổ,
Với ngọc quấn vào tóc, lông mày kẻ màu tím,
Điều này chỉ lừa dối kẻ ngu, chứ không những người đã đạt đến bờ kia.
Những màu sắc đẹp đẽ để trang hoàng cái thân hôi thối,
Điều này chỉ lừa dối kẻ ngu, chứ không những người đã đạt đến bờ kia.
Với những mùi hương trét lên thân thể,
Chân được sơn màu thổ hoàng,
Điều này chỉ lừa dối kẻ ngu, chứ không những người đã đạt đến bờ kia.
Thân thể được khoác nhiều y phục đẹp lộng lẫy,
Tấm thân phù du này,
Điều này chỉ lừa dối kẻ ngu, chứ không những người đã đạt đến bờ kia.
Sau khi đã phá hủy các lưới bẫy để bẫy nai,
Sau khi đã đập vỡ cánh cửa nhốt bầy nai,
Tôi đã từ bỏ miếng mồi quyến rũ,

Làm sao tôi còn có thể tìm thấy hạnh phúc trong các trói buộc?"

P: Không giống hẳn, sự xuất gia và đắc A-la-hán của Ratthapàlathì gần giống. Bản P thêm rằng đức Phật nửa tháng sau khi Ratthapàlaxuất gia đã đi đến Xá Vệ quốc, Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên. P bỏ việc 9, 10 năm sau khi đắc quả A-la-hán Ratthapàlanghĩ đến việc về thăm cha mẹ, chỉ nói rằng, sau khi đắc quả, Ratthapàlacho đức Phật biết ý định về thăm cha mẹ của mình và đức Phật đã bằng lòng, sau khi biết được tâm của Ratthapàlavới tâm của ngài. Khi Ratthapàlađi đến thị trấn Thu La, bản P thêm rằng ông ở lại trong vườn nai của vua Kuru. Khi đi khất thực trong thị trấn, Ratthapàlađi từ nhà này sang nhà khác, nhưng bản P bỏ việc Ratthapàlanghĩ đến đức Phật ca tụng sự khất thực này. Khi Ratthapàlađi đến nhà mình, người cha đang chải tóc giữa một đại sảnh có cửa lớn, trong khi bản C nói rằng, ông chải râu tóc, không nói ở giữa đại sảnh có cửa. Ở bản C, cha Lại-tra-hòa-la thóa mạ Tỳ-kheo là chuyên làm việc đen tối, không có con cái, không dòng họ, phá hoại gia đình ông. Bản P chỉ nói rằng đứa con trai yêu quý độc nhất của ông đã bỏ ra đi vì những Sa-môn trọc đầu này; và thế là Tôn giả Ratthapàlatại nhà của cha mình đã không nhận được bố thí cũng không nhận được lời từ chối mà chỉ nhận lời nguyền rủa. C: một nữ tỳ đem một rỗ đầy thức ăn hôi thối để vứt vào đống rác = P : một nữ tỳ nói cho Ratthapàlabiết mình muốn đổ đồ ăn của ngày hôm trước. Trong khi bản C nói nữ tỳ sau khi nhận ra Lại-tra-hòa-la, đã đi thẳng vào báo cho người cha, thì bản P nói cô ta báo tin cho bà mẹ trước, và bà đã thuật lại cho chồng. Bản P thêm, khi người mẹ được báo tin Ratthapàlađã về, bà bảo người nữ tỳ rằng, nếu điều này đúng thật, cô sẽ thoát thân phận nô tỳ. P bỏ: cha của Lại-tra-hòa-la nghe tin hết sức vui mừng, tay trái cầm áo, tay mặt vuốt râu tóc, vội vàng đi đến chỗ Lại-tra-hòa-la. Ở đây bản P thêm một điều mới. Khi trông thấy Ratthapàlađang ngồi dựa tường mà ăn thức ăn ngày hôm trước, người cha đã hỏi: "Có thật con đang ăn đồ thừa hôm qua? Con phải đi vào nhà con". Ratthapàlatrả lời ông đâu có nhà, vì ông đã xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Ông không có nhà, và đã đi đến nhà gia chủ, nhưng không nhận được bố thí hay từ chối mà chỉ nhận được sự nguyền rủa. Rồi người cha mời Tôn giả vào nhà nhưng ngài từ chối, bảo đã ăn xong. Khi ấy người cha mời Ratthapàlangày mai đến dùng cơm và Ratthapàlaim lặng nhận lời. Trong khi ở bản C, chính người mẹ sai chất tiền thành đống, và sai các bà vợ cũ trang sức, ở bản P chính người cha làm tất cả việc này. Trong bản C, người mẹ hai lần cố thuyết phục Tôn giả, lúc đầu bằng đống tiền, và khi phương pháp này thất bại, bà bảo các người vợ cũ của Tôn giả trang sức. Trong bản P, người cha dùng môït lúc cả hai phương pháp. Trước hết ông sai chất một đống tiền vàng che khuất sau bức màn, rồi ông bảo các bà vợ cũ của Ratthapàlatrang sức. Khi thức ăn đã sẵn sàng, ông sai người đi mời Tôn giả đến, và khi Ratthapàlangồi xuống, ông vén màn cho thấy đống tiền và bảo con trai: một đống của ông nội, một đống của mẹ và một đống của cha. Rồi ông bảo con từ bỏ học giới, trở về đời sống thấp kém, để hưởng của cải và làm phước. Câu trả lời của Ratthapàlacũng như trong bản C. Bấy giờ các bà vợ cũ đến ôm chân Tôn giả nói: vì tiên nữ nào mà chàng đã sống đời phạm hạnh? Tôn giả trả lời : thưa các chị, không. Các bà vợ cũ nói, chồng ta bây giờ lại gọi ta bằng chị, rồi ngã lăn ra đất bất tỉnh. Ở đây bản C nhiều chi tiết hơn, Ratthapàlabảo cha hãy đem thức ăn đến, đừng phiền nhiễu ông nữa. Bản P bỏ việc Ratthapàlagiảng pháp cho cha mẹ; chỉ nói ăn xong Ratthapàlađứng lên đọc bài kệ. Bài kệ trong hai bản gần giống nhau, mô tả thân thể được làm đẹp với đồ trang sức nhưng lại thối tha ở bên trong, một thân thể như vậy chỉ lừa dối kẻ ngu chứ không lừa dối được những người đã đạt đến bờ kia.
Trong hai câu cuối, bản P hơi khác:

"Người thợ săn nai giăng bẫy,
Con nai tránh bẫy.
Sau khi ăn mồi nai bỏ đi xa,
Thợ săn chỉ còn nước kêu la."

Nhận xét:

Trong bản Tích Lan có thêm rằng cha của Ratthapàlacó hai đống của cải, một đống vàng, một đống tiền vàng, và để hai đống chung nhau làm cho một người đứng bên này không trông thấy người đứng bên kia và ngược lại. Điều này chứng tỏ bản Tích Lan gần với truyền thống Sanskrit.

V. Sự gặp gỡ giữa Tôn giả và vua:

1) Vua cố thuyết phục Tôn giả từ bỏ đời sống phạm hạnh:

C: Nói xong bài kệ, Lại-tra-hòa-la dùng thần thông bay vào vườn Uất-lô-tra và ngồi xuống dưới cây Bệ hê lặc, trên tọa cụ của mình. Vào lúc ấy, vua Chu-lai-po đang ngồi với đình thần trong cung điện, đang nói về Lại-tra-hòa-la, ca tụng Tôn giả, và tỏ ý muốn gặp ngài. Rồi vua ra lệnh cho người thợ săn sửa soạn khu rừng Uất-lô-tra để đi săn. Khi người thợ săn đi đến rừng thấy Tôn giả ngồi đấy, bèn về báo cho vua biết, và vua lập tức khởi hành bằng xe đến gặp Tôn giả. Khi trông thấy Tôn giả từ xa, vua xuống xe, đi bộ đến gặp ngài. Khi Tôn giả Lại-tra-hòa-la trông thấy vua, Tôn giả bảo vua nếu muốn hãy ngồi xuống. Vua trả lời rằng, mặc dù nơi này thuộc về vua, ông vẫn muốn được Tôn giả mời ngồi. Rồi Tôn giả Lại-tra-hòa-la mời vua ngồi xuống. Vua hỏi Tôn giả có phải thật ông đi tu vì thiếu tiền; nếu vậy vua sẵn sàng hiến tặng cho ngài tất cả số tiền cần thiết để hoàn tục, hưởng dục lạc, bố thí và làm các việc công đức, vì giáo lý của đức Thế Tôn rất khó, đi tu và học pháp cũng rất khó. Tôn giả trả lời rằng, nhà vua đã dùng những vật bất tịnh để cống hiến, không phải những vật thanh tịnh. Vua hỏi làm thế nào là dùng vật thanh tịnh để cống hiến, không phải vật bất tịnh. Tôn giả nói vua nên làm cho dân chúng xứ này an ổn hạnh phúc, không lo sợ, không bị phiền nhiễu, không xáo trộn, không bị làm nô lệ. Vua nói muốn cống hiến những vật thanh tịnh chứ không phải bất tịnh.

P: Không giống hẳn. Ở đây bản P không nói Tôn giả bay trở về Uất-lô-tra mà đi bộ về vườn nai xứ Kuru, ngồi dưới một cây để nghỉ ban ngày. Không nói vua đang ngồi với đình thần trong cung điện ca tụng Tôn giả, và tỏ ý muốn gặp ngài; chỉ nói vua xứ Kuru ra lệnh cho người bẫy nai sửa soạn khu vườn trong công viên để vua đi ngoạn cảnh. Khi đi đến, trông thấy Tôn giả đang ngồi dưới gốc cây, người bẫy nai bèn trở về báo cho vua, và vua ra lệnh thắng những cỗ xe để đi gặp Tôn giả. Khi gặp Tôn giả Ratthapàla, vua chào ngài và mời Tôn giả ngồi trên nệm lót lưng voi, nhưng Tôn giả từ chối, nói vua hãy ngồi trên đó vì Tôn giả đã có tọa cụ. Bản P không nói vua cố dụ Tôn giả từ bỏ đời sống phạm hạnh như trong C.

2) Những câu hỏi của vua:

C: Vua nói thông thường người ta sống đời phạm hạnh vì bốn loại suy vong: do bệnh, do tuổi già, do mất tài sản, do mất thân quyến. Họ có lòng dục mà không thể hưởng dục nên mới sống đời phạm hạnh. Nhưng Lại-tra-hòa-la không có bất cứ một suy vong nào như vậy, thế thì ngài đã biết, đã thấy gì, nghe gì khiến ngài từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không nhà.

P: Gần giống, dù thứ tự hơi khác. Bản P để sự suy vong vì tuổi già trước, rồi đến bệnh suy, tài suy và thân suy. Trong khi ở bản C, trước hết vua đề cập cả bốn suy vong, rồi nêu lên rằng Tôn giả không có bốn sự suy vong ấy; ở bản P vua xứ Kuru sau khi kể ra một suy vong lại chỉ ngay rằng Tôn giả không có như vậy. Phần còn lại cũng giống nhau.

3) Lại-tra-hòa-la trả lời:

C: Tôn giả trả lời rằng vì đã biết, đã thấy, đã nghe bốn điều thuyết giáo của Phật, nên ông sống đời phạm hạnh:

a) Thế gian này không có sự che chở, không có nơi trú ẩn.
b) Trong thế gian này mọi sự phải tàn lụi, suy vi.
c) Thế gian này vô thường, ai rồi cũng phải từ giã nó.
d) Thế gian luôn luôn thiếu thốn, bất mãn, nô lệ cho tham ái.

Vua Chu-lai-po hỏi làm sao thế gian này lại không có sự che chở, không có chỗ trú ẩn, khi mà chính ông có con trai, cháu nội, anh em, quyến thuộc, tượng binh, xa binh, kÿ binh và bộ binh có thể che chở ông. Ông có những hoàng tử anh hùng và dũng cảm, những lực sĩ, những Bát la kiện đề (?), mahànàga (mahànàga? đại long tượng, những người rất có thế lực), những nhà chiêm tinh, chiến lược gia, những nhà kế toán, học giả, nhà hùng biện, đình thần, thân quyến, chú thuật gia, người viết bùa chú; bất cứ nơi đâu có sự rối loạn vì nguy hiểm, họ đều đi đến đánh dẹp và hàng phục. Tôn giả Lại-tra-hòa-la hỏi vua, khi vua bị bệnh vì gió máy, khi vua bị đau khổ ghê gớm, những người ấy có thể đến che chở và bảo vệ ông không. Vua buộc lòng phải trả lời không, vì do nghiệp của mình mà vua phải chịu đau khổ khốc liệt; bởi thế điều này chứng tỏ thế gian này không có sự che chở. Rồi vua hỏi tại sao trong thế giới này mọi sự đều đi đến suy vi, tàn tạ. Tôn giả bảo vua hãy so sánh sự nhanh nhẹn, sức mạnh, màu da của mình khi vua còn 24, 25 tuổi với bây giờ; vua phải nhận rằng khi ông còn 24, 25 tuổi, sự nhanh nhẹn, sức mạnh và màu da của ông không ai bì kịp, nhưng bây giờ ông đã quá già, các căn cũng tàn lụi; bởi thế điều này chứng tỏ rằng, như đức Phật đã dạy, trong thế gian này mọi sự đều đi đến suy vi tàn tạ. Rồi vua Chu-lai-po hỏi Tôn giả, tại sao đức Thế Tôn nói, thế gian này vô thường, tất cả rồi phải rời khỏi nó. Tôn giả hỏi vua khi ông sắp chết, bị vô thường đánh gục, vua có thể nào đem theo mình sang bên kia thế giới xứ Kuru phồn thịnh của ông, nội cung dồi dào với những kho đụn, tài sản thịnh vượng của ông không. Vua phải trả lời không, vua phải đi một mình không bầu bạn. Và điều này chứng tỏ rằng thế gian này vô thường, tất cả mọi người đều phải rời khỏi thế gian. Rồi vua hỏi Tôn giả Lại-tra-hòa-la tại sao đức Thế Tôn dạy, thế gian này luôn luôn bất mãn, không thỏa lòng, nô lệ cho tham ái. Tôn giả Lại-tra-hòa-la hỏi lại vua, mặc dù vua đã có xứ Kuru phồn thịnh, nội cung và kho đụn, tài sản thịnh vượng, nhưng nếu một người đáng tin cậy từ phương bắc hay từ ba phương khác đến, hoặc từ bờ biển đến nói từ hướng ấy bên kia bờ biển, có một xứ phồn thịnh đông dân nhiều tài sản và nhân công, thì có phải là vua sẽ nỗ lực chiếm lấy xứ sở ấy, dân chúng ấy hay không. Vua trả lời đúng vậy; và điều này chứng tỏ thế gian này luôn luôn bất mãn, không thỏa lòng, nô lệ cho tham ái.

P: Không giống hẳn. Bốn điều thuyết giáo của đức Thế Tôn ở đây theo thứ tự như sau: a. thế gian vô thường này phải bị cuốn đi; b. thế gian này không nơi trú ẩn, không người che chở; c. thế gian này không phải là ta, ta phải ra đi để lại tất cả mọi sự; d. thế gian này thiếu thốn, bất mãn, nô lệ cho tham ái. Vì Tôn giả đã thấy, đã biết, đã nghe bốn điều này là đúng sự thật nên Tôn giả đã xuất gia sống đời phạm hạnh. Để chứng minh rằng thế gian vô thường này phải bị cuốn đi, Tôn giả hỏi vua, sức khỏe của ngài ra sao, vào lúc 20, 25 tuổi, trong việc cỡi voi, cỡi ngựa, lái xe, cung kiếm, chân tay ngài lúc ấy mạnh như thế nào, và ngài thiện chiến như thế nào; rồi so sánh tất cả điều ấy với hiện tại. Vua phải trả lời rằng, lúc trẻ vua rất thiện xảo về voi, ngựa, xe, cung kiếm, chân tay khỏe mạnh và thiện chiến, thật thiện xảo đến nỗi như là có thần thông; nhưng bây giờ ở tuổi già, vua đã mỏi mòn, gần chấm dứt, đã 80 tuổi, không còn làm chủ được những động tác của mình. Để chứng minh thế gian này không nơi nương tựa, không người che chở, Tôn giả Ratthapàlahiển thị cho vua thấy rằng, mặc dù vua có tượng binh, kÿ binh, xa binh, bộ binh để bảo vệ vua khi nguy hiểm, nhưng khi vua bị bệnh phong thì không thể nhờ bạn bè thân quyến làm vơi nỗi đau đớn, san sẻ nỗi khổ của vua. Để chứng minh rằng thế gian này không phải của ta, ta phải ra đi để lại tất cả mọi sự sau lưng mình, Tôn giả Ratthapàlachỉ cho vua thấy mặc dù vua có tiền và vàng đầy dẫy, dưới đất hay trên mặt đất, và hiện tại vua có thể thụ hưởng năm dục, nhưng khi vua phải từ giã cõi đời, thì những người khác sẽ thay vua mà hưởng thụ. Để chứng minh rằng thế gian này thiếu thốn, không thỏa lòng, nô lệ cho tham ái, Tôn giả Ratthapàlachứng minh cho vua rằng, mặc dầu xứ Kuru của ông đã phồn thịnh, nhưng nếu có người đáng tin cậy từ bất cứ phương nào đến báo tin ở đấy có một nước lớn, phồn thịnh, đông dân, nhiều kÿ binh, tượng binh, xa binh, bộ binh, nhiều vàng, ngà voi và phụ nữ, chắc chắn vua sẽ đến chinh phục xứ sở ấy.

4) Bài kệ của Lại-tra-hòa-la:

C: Rồi Lại-tra-hòa-la thốt lên bài kệ này:

1. "Tôi thấy người trên thế gian,
giàu có nhưng ngu si, không quen bố thí;

đã có tài sản, chúng lại mong muốn có thêm,

tham lam chất chứa, dồn của.

2. Vị vua sau khi đã chinh phục quả đất,
trị vì nó tùy theo khả năng;

cũng chưa hài lòng với bên này biển,

lại còn tính đến bờ biển bên kia.

3. Vua cũng như dân chúng,
trong khi vẫn còn tham ái,

lại phải chết,

vợ con khóc lóc với đầu tóc rũ rượi,

than vãn, mếu máo, đau khổ không thể nào ngăn.

4. Bị bọc trong miếng vải liệm để chôn,
hoặc bị ném trên đống củi để thiêu xác,

mỗi người đều tùy theo nghiệp đi đến đời sau,

khi đã bị đốt cháy, họ không có tư tưởng nào giác ngộ.

5. Sau khi chết, tài sản không thể mang theo,
cũng vậy, vợ con và nữ tỳ;

giàu có cũng như nghèo hèn đều giống nhau,

người ngu, kẻ trí đều cùng chung số phận.

6. Bậc trí không ôm giữ sầu khổ,
nhưng kẻ ngu thì đầy đau buồn;

chính vì thế mà có trí là hơn,

nó giúp người ta đạt đến giác ngộ chân chính.

7. Vì bị trói buộc sâu xa vào hữu,
kẻ ngu làm những ác nghiệp,

làm những hành vi phi pháp,

dùng vũ lực để ép buộc kẻ khác làm đúng pháp.

8. Những người vô trí làm nỗ lực lớn,
kẻ ngu làm nhiều ác nghiệp,

bị sinh trong bào thai, chúng đi đến đời sau,

mãi hoài phải chịu sinh tử.

9. Khi đã sinh vào một đời khác,
chúng một mình làm các hành vi xấu ác,

như những kẻ cướp, chúng bị trói,

chúng khổ đau vì ác nghiệp của chính mình.

10. Bằng cách ấy những hữu tình này,
sinh vào đời sau.

do hạnh nghiệp của chính mình,

chúng đau khổ do ác nghiệp của chúng.

11. Như trái chín tự rụng,
già và trẻ đều giống nhau,

chúng muốn tự trang sức và hưởng thụ,

tâm chúng theo đuổi những hình sắc tốt xấu.

12. Chúng bị trói buộc và làm hại bởi dục vọng,
do dục, nổi lên sợ hãi,

Này đại vương, vì tôi thấy và thực chứng được điều này,

Tôi biết rằng hạnh Sa-môn là tối thượng."

P: Cũng vậy với nhiều hoặc ít chi tiết hơn. Bản C có 12 bài kệ, trong khi bản P có 13, nửa cuối của bài kệ thứ tư và thứ bảy trong bản C không có trong P, nửa cuối của bài kệ thứ ba, năm, bảy, có trong P, không có trong C. Những bài kệ tương đương như sau: C1 = P1; C2 = P2; C3 = nửa đầu P3 và nữa đầu P4; nửa đầu C4 = nửa cuối P4; C5 = P6 và nửa đầu P8; C6 = nửa cuối P8 và nữa đầu P9; nửa đầu C7 = nửa cuối P9; C8 = P10; C9 và C10 = P11; C11 = nửa đầu C12 và P13; C12 = nửa sau của P12 và P13.

C1 = P1: Gần giống, chỉ có một giòng khác. C: Sau khi đã được tài sản, Chúng còn muốn có thêm = P: Chúng khao khát có thêm dục lạc.

C2 = P2: Gần giống. Chỉ một giòng khác. C: Trị vì trên nó tùy theo khả năng của mình = P: Trên một mảnh đất được biển làm giới hạn.

C3 = nửa đầu P3 và P4:

C: Khóc lóc mếu máo, không chịu nỗi khổ đau = P: Khóc lóc chúng bảo: than ôi, không phải là ông ta không chết.

Nửa đầu C4 = nửa cuối C4: Bản C thêm: để chôn, trong khi bản P chỉ nói đến hỏa táng.

C5 = P6 và nửa đầu P8: Gần giống. Bản P thêm: những người thừa kế lấy tài sản của vị ấy đi, còn vị ấy đi theo nghiệp của mình. C: Tài sản, vợ con, nữ tỳ = P: Tài sản, con, vợ, tài sản và vương quốc.

C6 = nửa cuối P8 và nửa đầu P9:

C: Bậc trí không ôm giữ buồn phiền nhưng kẻ ngu ưa thích sầu khổ = P: Kẻ ngu nằm lăn ra, như thể bị cuồng điên, trong khi người trí không run sợ khi bị chạm phải.

Nửa đầu C7 = nửa cuối P9: Gần giống.

C8 = P10: Gần giống.

C9 và C10 = P11: Gần giống.

C11 = nửa đầu P12 và P13: C: Như trái chín, chúng tự rụng, già trẻ đều giống nhau, chúng muốn tự trang sức và hưởng thụ, tâm chúng theo đuổi các hình sắc tốt xấu = P: Như trái rụng từ trên cây, cũng vậy, con người, già trẻ đều giống nhau khi thân xác tan rã. Các dục lạc dễ chịu, ngọt ngào và đủ màu sắc nhưng gây nhiều xáo trộn trong tâm.

C12 = nửa sau P12, 13: Gần giống.

E. Phần kết

Bản C nói vua Chu-lai-po hoan hỷ với lời dạy của Tôn giả Lại-tra-hòa-la, nhưng bản P bỏ phần kết.

CHƯƠNG III : VAI TRÒ CÁC NHÂN VẬT TRONG KINH
- NHỮNG CÁCH THUYẾT PHÁP

Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu so sánh 98 kinh, đề cập vai trò của các nhân vật khác nhau trong những kinh này cũng như những cách thuyết pháp. Ở đây chúng ta chỉ giới hạn việc nghiên cứu vào thái độ, oai nghi cử chỉ của những nhân vật trong kinh, còn giáo lý trong đó sẽ được đề cập rộng rãi trong những chương kế tiếp.
Các kinh có thể phân loại thành tám cách thuyết:
1- Phật thuyết pháp không có lý do nào rõ rệt;
2- Phật thuyết pháp để điều chỉnh một tà kiến của đệ tử hay người khác;
3- Phật thuyết pháp vắn tắt rồi một trong những đệ tử của Ngài khai diễn;
4- Phật thuyết pháp để đối đáp với những tông phái phi Phật giáo;
5- Phật thuyết pháp cho những Tỳ-kheo đệ tử;
6- Phật thuyết pháp cho các đệ tử cư sĩ của Ngài hoặc cho những người khác;
7- Những đệ tử của Phật tụ họp để bàn luận Phật pháp;
8- Một trong những đệ tử của Phật giảng toàn thể kinh.

1. Đức Phật thuyết pháp không có lý do rõ rệt:

Đôi khi đức Phật gọi các Tỳ-kheo đến rồi giảng pháp không có lý do rõ rệt cũng không do một cơ hội đặc biệt nào. Ở đây những người nghe phần lớn là Tỳ-kheo, tên của họ không được kể ra. Trong số 98 kinh NC, có 22 kinh được xếp vào loại này: NC 1, 2, 8, 9, 13, 14, 16, 17, 21, 28, 29, 32, 33, 34, 70, 71, 73, 75, 84, 85, 91, 93.

2. Đức Phật thuyết pháp để điều chỉnh một tà kiến nơi những đệ tử hoặc người khác:

Đôi khi một vài đệ tử Phật có tà kiến. Những Tỳ-kheo bạn cố sửa đổi nhưng không thành công, bởi vậy vấn đề được đưa đến trước đức Phật và Ngài triệu tập những người có lỗi để quở trách và nêu lên những lỗi lầm của họ. NC số 19, 27, 35, 47 thuộc về loại này.
Trong NC 27, C201, kinh Trà đế,nói đức Phật hỏi các Tỳ-kheo trước, rồi quở trách Tỳ-kheo Trà Đế (Ch'a-ti), và vị này hối hận. Trong P38, Ái tận đại kinh,Tỳ-kheo Sàti hối hận trước, rồi các Tỳ-kheo khác đáp câu hỏi của Phật. Bản C thêm: "Đức Phật thuyết kinh này xong, ba vạn thế giới chấn động ba lần."

Trong NC 35, một vị Phạm thiên trên cõi trời có tà kiến rằng cõi Phạm thiên là trường cửu. P49 thêm tên của vị Phạm thiên ấy là Baka. Trong C78, Phạm thiên thỉnh Phật, Phật biến mất khỏi Xá Vệ, Shêng-lin, Kei-ku-tu để đi đến cõi Phạm thiên. Trong P49, đức Thế tôn biến mất từ rừng Subhaga tại Ukkatthïà và hiện ra trong cõi Phạm thiên. Bản C nói khi đức Phật nhận ra Ác ma (Màra), thì Ác ma bị thua và biến mất tại chỗ, nhưng bản P ghi rằng Phật nêu lên cho Ác ma thấy rằng có thể Phạm thiên (Brahmà) và quyến thuộc của ông ta ở trong tầm tay của Ác ma, nhưng Phật thì không. Sự đấu phép thần thông của Phật và Ác ma cũng không giống nhau. Trong bản C, Phạm thiên dùng tất cả năng lực thần thông để cố ẩn nấp chỗ này chỗ kia nhưng đức Thế tôn đều thấy được ông ta, bởi thế ông không thể trốn mà phải trở lại trong Phạm thiên giới. Trong bản P, Phạm thiên Baka không thể biến mất trước mặt đức Phật. Trong bản C, Phật phóng hào quang chiếu khắp các Phạm thiên giới, và ẩn trong đó, làm cho Phạm thiên và quyến thuộc chỉ có thể nghe Ngài nói mà không thể trông thấy Ngài. Trong bản P, khi đức Phật biến mất, Ngài làm cho Phạm thiên, tùy tùng (Brahmaparisà) và quyến thuộc (Brahmapàrisajja) không trông thấy Ngài mà chỉ nghe Ngài nói bài kệ:

"Bị vướng vào hữu, ta đi tìm phi hữu.
Vì đã thấy nguy hiểm của hữu,
Ta không thích thú đối với hữu,
Và không dục hỷ trong đó."

Phạm thiên, tùy tùng và quyến thuộc của Phạm thiên sửng sốt kinh ngạc.

3. Phật thuyết pháp vắn tắt rồi một trong những đệ tử của Ngài khai diễn:

Tôn giả Xá-lợi-tử khai diễn lời Phật trong NC số 3, 95; Tôn giả Ca-chiên-diên (C:Chia-chan-yen; P: Mahàkaccàna) trong NC 15, 87, 92.
a) Tôn giả Xá-lợi-tử khai diễn:

Trong NC 3, C88, Cầu Pháp kinh,nói có nhiều đại đệ tử cư trú gần am tranh của Phật, như Tôn giả Xá-lợi-tử, Mục-kiền-liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca-chiên-diên, A-na-luật-đà (A-na-lu-t'o), Lệ Việt (Li-yueh), A Nan, nhưng P3, Thừa tự Pháp,bỏ mục này. Trong bản C, đức Thế tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-tử hãy giảng rộng lời Ngài dạy vì đức Phật đau lưng cần nghỉ ngơi chút đỉnh. Đoạn Ngài gấp tư y Uất đa la tăng (C: Yu-to-lo-sêng; P: Uttarà-sanga) mà trải lên giường, cuộn tròn y Tăng già lê (C: Sêng-chia-li; P: Sanghàti) làm thành một cái gối và nằm xuống hông bên phải, hai ống chân xếp chồng lên nhau, thiền định về quang tướng với chánh niệm tỉnh giác và luôn luôn nghỉ đến lúc thức dậy (69). Nhưng bản P chỉ nói rằng bậc Thiện thệ (Sugata) từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá. Trong bản C, Thượng tọa Xá-lợi-tử yêu cầu các Tỳ-kheo giải thích lời dạy vắn tắt của Phật, và hai Tỳ-kheo cố trả lời nhưng không thỏa đáng. Trong bản P, không có lời vắn tắt của Phật và sự trả lời của các Tỳ-kheo, mặc dù Tôn giả Xá Lợi Phất cũng đặt câu hỏi ấy. Sau khi Tôn giả Xá-lợi-tử giải thích xong, đức Thế tôn đã bớt đau lưng, cảm thấy dễ chịu, bèn ngồi dậy khoanh chân kiết già và ca ngợi Tôn giả Xá-lợi-tử. Những chi tiết này không có trong bản P.

Trong NC số 95, bản C nói Tôn giả Xá-lợi-tử đọc một bài kệ tóm tắt bài giảng của Ngài, còn bản P bỏ bài kệ nhưng lập lại lời công bố của sự chuyển Pháp luân tại Ba La Nại, Chư thiên đọa xứ, vườn Nai, lúc mở đầu kinh.

b) Tôn giả Ca-chiên-diên (Ta-chia-chan-yen) khai diễn:

Trong NC 15, đức Phật gặp một người gậy cầm tay tên Sakya muốn hỏi mục đích của giáo lý Ngài. Sự trả lời của đức Phật không làm ông ta thỏa mãn, ông ta không chấp thuận cũng không bác bỏ, đã cất cao đầu và bỏ đi. Trong bản P, bỏ câu "không chấp thuận không bác bỏ", nhưng thêm rằng "ông ta thụt lưỡi, nhíu mày tạo nên ba đường nhăn và tựa mình trên cây gậy". Trong bản C, chính đức Phật đưa ra ví dụ viên mật trong khi bản C lại nói là Tôn giả A Nan. Bản P bỏ chỗ nói Tôn giả A Nan đứng sau lưng đức Phật tay cầm phất trần. Bản P cũng bỏ lời đức Phật khích lệ các Tỳ-kheo ở cuối kinh.

Trong NC 87, Tôn giả San-mi-t'i(Samiddhi) đi đến suối nóng để tắm, khi tắm xong, ông ta gặp một vị tiên có dung sắc hoan hỷ đến đảnh lễ ngài và hỏi ngài có biết bài kệ Nhất dạ hiền giả (C: Pa-ti-lo-ti; P: Bhadde-karatta). Vị Tỳ-kheo nói không biết, vị tiên bảo rằng đức Thế tôn có biết bài kệ rồi khuyên Tỳ-kheo nên đi đến xin Thế Tôn giải thích. Rồi vị tiên đảnh lễ vị Tỳ-kheo, đi quanh ông ba vòng rồi biến mất. Bản Pali thêm rằng vị tiên chiếu sáng cả Tapodà với hào quang rực rở của mình nhưng bỏ qua chyện hỏi vị tỷ kheo về câu kệ và lời khuyên của vị tiên đi đến Thế Tôn. Bàn Pali chỉ đề cập rằng vị tiên khuyên vị tỷ-kheo nên học, tinh thông và ghi nhớ câu kệ đó ở trong lòng. Rồi vị tiên biến mất mà không có đảnh lễ và đi quanh vị tỷ-kheo ba vòng. Bản C nói tên của vị trời này là Chêng-tien, một vị binh tướng trong cõi trời 33, nhưng bản P bỏ chi tiết ấy.

4. Đức Phật thuyết pháp để đối phó các tông phái ngoại đạo :

Trong NC 39 và NC 65, đức Phật bác bỏ quan điểm của Ni Kiền Tử (Jainas); trong NC 6 và NC 61, 62, 64, Ngài bác bỏ lý thuyết và thực hành của những người bà la môn; và trong NC 10, 48, 50, 51, 52, Ngài đối phó với những du sĩ (paribbàjakas).
a) Đối phó với Ni Kiền Tử :

Trong NC 39, Ch'ang-k'u-hsing (Dìghatapassi), Ni Kiền Tử bện tóc có một cuộc đàm luận với Phật, trong đó ông ta trình bày lý thuyết của Ni Kiền Tử (Ch'in-tzu) về hình phạt và vai trò chính yếu của thân phạt trong bất cứ hành vi tội lỗi nào. Nhưng đức Phật trình bày lý thuyết của Ngài về nghiệp và vai trò chính yếu của ý nghiệp trong bất cứ tà hạnh nào. Ni Kiền Tử bện tóc thuật lại cuộc đàm thoại ấy cho thầy của mình (Ch'in-tzu) trước mặt Ưu Ba Ly (Yu-p'o-li). Trong khi ở bản P, Ưu Ba Ly (Upàli) lặp lại lời ca tụng của Ni Kiền Tử (Nàtaputta) tán dương Bện tóc (Dìgha-tapassi) và tỏ ý sẵn sàng đến đối chất với đức Phật, bản C thêm rằng Ưu ba ly cùng đi với 500 cư sĩ trong hội chúng. Ông ta chắp tay hướng về Ni Kiền Tử và hỏi Bện tóc có phải ông ta đã thực sự hạ Sa-môn Cồ Đàm (Ch'u-t'an) ba lần trong vấn đề này. Khi Bện tóc trả lời phải, Ưu Ba Ly nói : vậy thì ông ta cũng có thể đánh bại Sa-môn Cồ Đàm trong vấn đề này và kéo ông ta xuống. Khi ấy Ưu Ba Ly đến thách thức đức Phật, trước sự chấp thuận của vị thầy Ni Kiền Tử và trước sự sợ hãi, bất đồng của Bện tóc. Đức Phật với bốn ví dụ đã làm cho Ưu Ba Ly đổi ý và theo quan điểm của Ngài. Trong ví dụ thứ tư, khi đức Phật hỏi ai đã khiến cho những nơi thanh tịnh này trở thành thanh tịnh, theo bản C, Ưu Ba Ly im lặng một lát, và khi đức Phật hỏi lại một lần nữa, ông ta đã trả lời rằng, không phải ông muốn giữ im lặng, mà chính ông đang nghĩ đến một điều. Ông nghĩ rằng Ni Kiền Tử (Ni-chien) thật điên rồ, ngu si và đã lừa bịp ông ta trong một thời gian dài. Trong bản P, Ưu Ba Ly (Upàli) trả lời ngay rằng những khu rừng này Kandaka, Kàlinga, Mejjha Màtanga trở thành rừng là do những ý tưởng sân hận của những vị trông coi những khu rừng đó. Ở cuối bài kinh, bản C thêm rằng Ưu Ba Ly đạt đến Pháp nhãn ly trần vô cấu, còn Ni Kiền Tử hộc máu tươi, phải đi đến Po-ho (Pàvà) và bệnh chết ở đấy. Bản P bỏ chi tiết về cái chết của Ni Kiền Tử và chỉ nói ông ta hộc ra máu tươi.

b) Đối phó với cách tu và quan điểm của các bà la môn :

Trong NC 6, đức Phật bác bỏ tập tục tắm nước thiêng của những người bà la môn, được xem là để rửa sạch tội lỗi. Kinh C93,Thủy tịnh Phạm chí,nhắc đến bà la môn Thủy Tịnh (Shui-ching) ngay ở đầu kinh, trong khi P7, Ví dụ tấm vải,chỉ nói đến sự hiện diện của bà la môn Sundarika-bhàradvàja vào cuối bản kinh. Trong bản C, vị bà la môn ấy xin quy y Tam bảo và xin Phật nhận ông làm đệ tử. Nhưng trong bản P, Sundarika Bhàradvàja xin đức Phật cho ông được xuất gia và thọ đại giới. Khi lời yêu cầu của ông được chấp thuận, ông nỗ lực tinh cần tu tập và cuối cùng đã đắc quả A-la-hán.

Trong NC 61, kinh C151, Phạm chí A nhiếp hòa,nói rằng một số đông bà la môn tại Chu-sa-lo (Kosala) tụ tập trong giảng đường và đang bàn bạc lời công bố của Sa-môn Cồ Đàm (Ch'u-t'an) về sự thanh tịnh của bốn giai cấp, trong khi họ tuyên bố rằng chỉ có giai cấp bà la môn là cao nhất và thanh tịnh nhất. Họ chọn thanh niên bà la môn tên A Nhiếp Hòa (A-shê-ho-lo-yen-to) đến chất vấn đức Phật. Nhưng kinh P93, Assalàyana,nói rằng 500 bà la môn thuộc nhiều vùng khác nhau đến Xá Vệ vì một vài công việc, và họ chỉ nhắc đến lời công bố của Sa-môn Cồ Đàm về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Có thêm rằng thanh niên Assalàyanamới 16 tuổi, đầu tóc cạo. Trong bản C, thanh niên A Nhiếp Hòa nhận lời bằng cách im lặng, trong khi ở bản P, Assalàyana nói rằng quả thật Sa-môn Gotama nói phù hợp với pháp (dhamma), và thật khó mà tranh luận với người nào nói đúng pháp, và anh ta cũng không thể tranh luận với Sa-môn Gotama. Tuy thế anh ta cũng sẽ ra đi như được yêu cầu. Sau khi nghe những luận cứ của đức Phật, theo bản C, thanh niên A Nhiếp Hòa muốn đảnh lễ Phật nhưng hội chúng la lớn tỏ vẻ kinh ngạc và thán phục. Đức Phật biết tâm họ nên bảo thanh niên hãy trở về chỗ ngồi, dạy rằng chỉ cần tâm anh ta vui mừng là đủ. Rồi đức Phật giảng pháp làm cho anh ta hoan hỷ, thích thú, phấn chấn. Bản P chỉ nói rằng Assalàyana thốt lên rằng thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, rồi xin đức Phật nhận mình làm đệ tử từ nay cho đến trọn đời.

Trong NC 64, kinh P 99, Subha,có thêm một cuộc gặp gỡ giữa Subha và bà la môn Jànussonì, bà la môn hỏi Subha từ đâu đến và hỏi về trí tuệ của Sa-môn Gotama. Sự trả lời và những lời ca tụng của Subha đã khiến bà la môn xuống khỏi chiếc xe bạch mã, trật vai áo, chắp tay hướng về đức Thế tôn và bảo rằng thật là lợi ích lớn, thật là tốt cho vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) xứ Kosala vì có Như lai (Tathàgata) sống trong vương quốc của nhà vua. Bản C bỏ cuộc gặp gỡ này.

c) Đối phó với các ngoại đạo khác :

Trong NC 10, theo kinh C 99, Khổ ấm, các Tỳ-kheo sau khi ngọ trai xong đã tụ họp tại giảng đường vì một vài công việc. Tại đây có một số lớn tín đồ ngoại đạo đến chất vấn họ. Trong kinh P13, Đại khổ uẩn, thì các Tỳ-kheo khi vào thành Xá Vệ (Sàvatthi) khất thực, thấy hãy còn sớm nên đến trú xứ của các du sĩ (paribbàjakas), và cuộc đàm luận đã xảy ra.

Trong NC48, Hsu-hsien-t'i(du sĩ Màgandiya) trông thấy đệm cỏ của Phật ngồi trong nhà bà la môn P'o-lo-p'o (Bhàradvàjagotta) thì rất khó chịu và lên án đức Phật là một người phá hoại (Huai-pai-ti: )(70) . Bà la môn Bà La Bà (P'o-lo-p'o) cảnh cáo du sĩ Hsu-hsien-t'ođừng có nói xấu đức Phật, nhưng du sĩ nói rằng ông cũng sẽ nói như vậy ngay trước mặt Sa-môn Cồ Đàm. Trong kinh C 153,Man nhàn đề, đức Phật lúc ấy đang ngồi thiền trong một ngôi rừng xa; với thiên nhĩ, Ngài nghe được lời ấy nên đi đến nhà Bà la môn Bà-la-bà kia trải tọa cụ ngồi kiết già. Khi bà la môn ra chào, đức Phật hỏi có phải thật ông ta có đàm thoại với du sĩ về đệm cỏ của Ngài không. Bà la môn nói ông muốn báo cho Phật biết nhưng Phật đã biết trước rồi. Ngay lúc ấy du sĩ đến, và cuộc đàm luận xảy ra. Bản P bỏ tất cả chi tiết Phật mang theo tọa cụ và trải ngồi, đẹp đẽ và rực rỡ như trăng sao; nhưng thêm rằng du sĩ Bhàradvàjagotta bị dao động lông tóc dựng ngược khi nghe nói đức Phật đã biết được tư tưởng của mình. Trong bản C, sau khi đức Phật giảng pháp, du sĩ đạt được Pháp nhãn ly trần vô cấu. Rồi ông ta xin Phật cho phép xuất gia học đạo và thọ giới Tỳ-kheo. Rồi đức Phật truyền giới cho ông ta, nói rằng: "Lành thay, Tỷ kheo, hãy sống đời sống phạm hạnh." Sau khi xuất gia làm tỷ-kheo, Hsu-hsien-t'i đắc quả A-la-hán. Bản P bỏ chi tiết du sĩ Màgandiya được Pháp nhãn; nhưng thêm sự tán thán của Màgandiya như thường lệ và xin quy y Tam bảo của ông ta. Ở đây cũng vậy, Màgandiya xin đức Phật cho ông ta thọ giới Tỳ-kheo. Phật bảo những người thuộc giáo phái khác cần trải qua bốn tháng thử thách, nhưng Phật biết rõ sự khác nhau giữa những con người, và Ngài đã cho phép Màgandiyaxuất gia làm Tỳ-kheo. Bản P cũng nói Màgandiya đắc quả A-la-hán nhưng với nhiều chi tiết hơn, và kết luận rằng Trưởng lão Màgandiya trở thành một vị A-la-hán nữa.

Trong NC số 52, Bệ Ma Na Tu (C: Pei-mo-na-hsiu; P: Vekhanassa) nói với đức Phật về dung sắc "vanna" tối thượng. (Danh từ Pàli vanna,dịch là dung sắc, được sử dụng ở đây với hai nghĩa, màu sắc và giai cấp xã hội, nhưng danh từ dung sắc trong Hoa ngữ thì rõ ràng không có hai nghĩa như thế). Nhưng đức Phật nêu lên sự trống rỗng của một quan điểm như vậy. Bản C thêm một đoạn trong đó Bệ Ma Na Tu tỏ thái độ hối hận im lặng hổ thẹn cúi đầu. Khi Bệ Ma Na Tu ca tụng sự giải thích của Phật, Phật ngăn ông lại, bảo rằng vì thuộc vào một quan điểm khác, ông ta không thể hiểu được lời giảng dạy của Ngài, Bệ Ma Na Tu phẫn nộ mạ lỵ đức Phật. Kinh Pali Vekhanassacũng tương tự nhưng bỏ chi tiết Phật ngăn lại. Rồi Phật dùng ba ví dụ (bản P chỉ có một) làm sáng tỏ giáo lý của Ngài và cuối cùng cảm hóa được Bệ Ma Na Tu. Ở đây bản C nói Bệ Ma Na Tu đắc Pháp nhãn vô cấu và xin Phật xuất gia. Sau khi xuất gia, ông nỗ lực tinh tiến và đắc quả A-la-hán. Trong bản P, Vekhanassa tán thán sự giảng dạy của Phật như thường lệ, xin quy y Tam bảo, xin đức Phật nhận ông làm đệ tử tại gia.

5. Phật thuyết pháp cho đệ tử:

Có 28 NC rơi vào loại này:
- Giảng cho một Tỳ-kheo, NC 5;
- Cho một số Tỳ-kheo, NC 22,74;
- Cho Tôn giả La Vân (C: Lo-yun; P: Ràhula), NC 40;
- Cho Man Đồng Tử (C: Man-tun-tzu; P: Màlunkyaputta), NC 41,42;
- Cho A-na-luật-đà (C: A-na-lu-t'o; P: Anurudha), Nan Đề (C: Nan-t'i; P: Nandiya), Kim Tỳ La (C: Chin-p'i-lo; P: Kimbila), NC 25,45,83;
- Cho Ma-ha-nam (Mahànàma), NC 11;
- Cho Mou-li-p'o-ch'un-na(Moliyaphagguna), NC 18;
- Cho Bạt-đà-hòa-lợi (C: Po-t'o-ho-li; P: Bhaddàli), NC 43;
- Cho Ưu-đà-di (C: Wu-t'o-i; P: Udàyì), NC 44;
- Cho A Nan, NC 53, 55, 67, 72, 76, 78, 98;
- Cho A Nan và chú tiểu Chu Na (C: Chouna; P: Cunda), NC 66;
- Cho A Nan và nhiều Tỳ-kheo, NC 77;
- Cho Lại-tra-hòa-la (C: Lai-cha-ho-lo; P: Ratthapàla), NC 54;
- Cho Fou-mi(Bhùmija), NC 81;
- Cho Lu-i-ch'iang-ch'i (Lomasakangiya), NC 88;
- Cho San-mi-t'i (Samiddhi), NC 90;
- Cho Fu-chia-lo-so-li (Pukkusàti), NC 94;
- Cho Đại Chu Na (C: Ta-chou-na; P: Mahàcunda), NC 7;
- Cho chú tiểu A-i-na-ho-t'i(Aciravata), NC 80.

a) Cho một vị Tỳ-kheo:

Trong NC 5, (P6,kinh Ước nguyện = C 105,kinh Nguyện) có một Tỳ-kheo trong lúc ngồi nơi vắng vẻ, đã tư duy về lợi ích lớn của Phật đối với mình, đã rời chỗ ngồi đứng lên đi đến nơi Phật. Đức Thế tôn sau khi trông thấy Tỳ-kheo này, đã nhân vì ông mà thuyết pháp cho các Tỳ-kheo. Bản P bỏ hoàn cảnh đặc biệt này. Phật thuyết pháp không có một dẫn nhập nào cả.

b) Cho một số Tỳ-kheo:

Trong NC 22 (P26, Thánh cầu = C204,La ma) , Phật đang ở Lộc Mẫu giảng đường (Lu-tzu-mu). Vào buổi chiều, Ngài rời khỏi tòa ngồi đứng lên, từ trên lầu đi xuống và bảo Trưởng lão A Nan cùng đi tắm ở sông A-i-lo-p'o-t'i (Aciravati). Rồi Trưởng lão A-nan cầm chìa khóa đi đến các Tỳ-kheo đang ở trong những chòi của họ và bảo họ đi đến nhà bà la môn La Ma (C: Lo-mo; P: Rammaka). Khi ấy đức Phật và Trưởng lão A Nan xuống sông tắm. Sau khi tắm xong, Phật lên khỏi nước, lau khô thân thể và mặc y. Bản P khởi đầu với đức Phật ở tại Xá Vệ, vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Rồi đức Phật đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Nhiều Tỳ-kheo đi đến Tôn giả A Nan, thưa rằng họ muốn được trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, vì đã lâu họ không có được cơ hội ấy. Tôn giả A Nan bảo họ đi đến nhà bà la môn Rammaka. Khi Phật khất thực về và dùng bữa xong, Ngài cùng Trưởng lão A Nan đi đến Pubbàràma ở vườn của Lộc Mẫu (Migaàramàtu) để nghỉ ban ngày. Vào buổi chiều Phật ra khỏi độc cư thiền tịnh rồi cùng với Trưởng lão A Nan đi đến Pubbakotthaka để ngâm chân tay. Sau khi tắm rửa, Phật ra khỏi nước, đứng trên bờ với một tấm y (cìvara) độc nhất để phơi tay chân. Rồi theo lời yêu cầu của Tôn giả A Nan, Phật đi đến nhà Lo-mo (Rammaka) để thuyết pháp.

c) Cho Tôn giả La Vân (C: Lo-yun; P: Ràhula) :

Trong NC 40, C14, La vân kinh, khi đêm đã tàn, vào sáng sớm Phật đi vào thành Vương Xá (Wang-shê) khất thực. Sau khi ăn xong, Ngài đi đến rừng Suối nóng, nơi có Tôn giả La Vân. Tôn giả La Vân trông thấy Phật từ xa đến, đi ra đón Ngài, cầm lấy y bát, trải tọa cụ và lấy nước rửa chân. Đức Phật rửa chân xong, ngồi trên chỗ ngồi của La Vân đã soạn sẵn. Trong P61, Ambalatthikàràhulovàda,đức Phật vào buổi chiều ra khỏi độc cư thiền tịnh, đi đến Ambalatthikà, nơi Tôn giả Ràhula ở. Tôn giả Ràhula, khi thấy đức Phật từ xa đến, đã sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân nhưng không đi ra đón Ngài và đỡ lấy y bát. Đức Phật ngồi trên chỗ đã soạn và rửa chân. Để quở trách Tôn giả La Vân, đức Phật đã chỉ một ít nước còn trong chậu, rồi đổ nó đi, lật úp cái chậu và lật ngửa trở lại, và cứ mỗi lần như thế Ngài răn dạy Tôn giả. Bản P thêm một thái độ thứ năm của đức Phật là chỉ ra sự trống rỗng trong cái chậu lật ngửa và tuyên bố rằng cũng trống rỗng như thế là hạnh Sa-môn của người cố ý nói dối mà không biết hổ thẹn.

d) Cho Tôn giả Man Đồng Tử (C: Man-tun-tzu; P: Màlunkyaputta) : NC 41, NC 42:

Trong NC 42 (P64,Mahàmàlunkya, Đại kinh Màlunkya = C205, Ngũ hạ phần kết), đức Phật quở trách Man-đồng-tử về sự hiểu sai của ông đối với năm kiết sử trói buộc con người vào đọa xứ và Man-đồng-tử tỏ thái độ hối hận. Khi ấy Tôn giả A Nan đang đứng sau đức Phật và quạt cho Ngài, đã yêu cầu đức Phật giải thích năm kiết sử, và đức Phật đã chấp thuận lời yêu cầu của Tôn giả A Nan. Trong bản P, đức Phật không công khai quở trách Màlunkyaputta. Cũng không có thái độ hối hận của Màlukyaputta, không có chi tiết về Tôn giả A Nan đứng sau lưng Phật và quạt cho Ngài.

e) Cho Tôn giả A-na-luật-đà (C: A-na-lu-t'o; P: Anuruddha), Nan Đề (C: Nan-t'i; P: Nandiya) và Kim Tỳ La (C:Chin-p'i-lo; P: Kimbila): NC 25, 45, 83:

Không có nhiều khác biệt giữa hai bản trong NC 25 (P31, Tiểu kinh rừng Sừng bò=C 185, Ngưu giác sa la lâm kinh) và NC 45 (P68, Nalakapàna = C77, Sa kê đế tam tộc tánh tử kinh).

Trong NC 83, theo bản C 72,Trường thọ vương bản khởi kinh,muốn giảng hòa các Tỳ-kheo ở Câu Xá Di (C: Chu-shê-mi; P: Kosambì), Phật đã kể câu chuyện dài về sự tha thứ của vua Phạm chí (C:Fan-mo-ta-to; P: Brahmadatta) cho vua Trường thọ (C: Ch'ang-shou; P: Dìghìti), nhưng câu chuyện này không có ảnh hưởng gì các Tỳ-kheo ở Câu Xá Di. Khi ấy đức Thế tôn đọc lên một bài kệ cho thấy rõ sự vô vọng, ngu ngốc của gây gỗ và xúc phạm nhau. Kinh P128 không giống. Kinh này cũng nói các Tỳ-kheo ở Kosambì (Câu Xá Di) tranh chấp nhau, đã thương nhau với binh khí miệng lưỡi, nhưng thêm rằng một Tỳ-kheo đến tường thuật sự việc với đức Thế tôn và Ngài đã đến khuyên bảo họ đừng gây nhau. Ba lần đức Phật khuyên bảo, và cả ba lần đều có một Tỳ-kheo yên cầu Ngài đừng can thiệp vì họ sẽ chịu trách nhiệm về cuộc gây gổ này. Ở đây bản P bỏ câu chuyện về vua Phạm chí. Theo bản C, đức Thế tôn, sau khi đọc bài kệ đã vận thần thông bay lên không để đi đến làng Bà-la-lâu-la (P'o-lo-lou-lo). Tại đấy có một Tỳ-kheo tên Bà Cửu (C: P'o-chiu; P: Bhagu) đêm ngày chuyên tâm thiền định và Phật đã giảng pháp cho ông. Sau đó Ngài vào rừng Hộ Tự (Hu-szu) ngồi kiết già dưới một gốc cây, tại đó Ngài gặp một con voi chúa cũng đi tìm sự cô tịch để thoát ly những huyên náo của đàn voi. Bản P chỉ nói đức Phật gặp Tỳ-kheo Bhagu, không nói gặp con voi; cũng không có chi tiết đức Phật bay trên không. Phần còn lại hai bản gần giống nhau.

f) Cho Tôn giả Ma-ha-nam (C: Mo-ho-nan; P Mahànàma) :

NC 11: (P14, Tiểu kinh khổ uẩn = C100, Khổ ấm kinh):

Hai bản gần giống nhau.

g) Cho Moliya (C: Mou-li-p'o-ch'un-na; P: Moliyaphagguna):

NC 18: (P21, Ví dụ cái cưa = C193, Mâu lê phá quần na):

Hai bản gần giống nhau.

h) Cho Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi (C: P'o-t'o-ho-li; P: Bhaddàli) :

NC 43: (P 65, Bhaddàli= C 194, Bạt-đà-hòa-lợi) :

Hai bản gần giống nhau.

i) Cho Ưu-đà-di (C: Wu-t'o-i; P: Udàyì) :

NC 44: (P 66 Ví dụ con chim cáy = C192, Ca lâu ô đà di):

Không có gì khác nhau lắm giữa hai bản kinh. Trong khi bản C nói về một Tỳ-kheo nào đó đi khất thực về đêm, bản P nói rõ chính là Ưu-đà-di.

j) Cho Tôn giả A Nan:

NC 53, 55, 67, 72, 76, 78, 98:

Trong NC 53, (P81,Ghatikara= C63,Bệ bà lăng kỳ), NC 67 ( P106, Bất động lợi ích = C75, Tịnh bất động đạo kinh), hai bản gần giống nhau. Trong NC 55, kinh C67,Đại thiên nại lâm, dịch từ Ta-t'iencó nghĩa là "Mahàdeva: Đại-thiên" trong khi P83, kinh Makhàdeva Makhàdeva.

Trong NC 72, (P115,Bahudhàtuka= C181,Đa giới kinh), Tôn giả A Nan trong lúc ngồi thiền đã có được tri kiến rằng tất cả sợ hãi, rối ren, tai nạn, sầu ưu đều do vô minh, không do trí tuệ. Tôn giả trình bày ý tưởng ấy với đức Phật và Ngài đồng ý, đưa ra một định nghĩa về một Tỳ-kheo ngu si và một Tỳ-kheo có trí tuệ. Bản P bỏ chi tiết Tôn giả A Nan ngồi thiền, thuật ý tưởng của mình cho đức Phật và sự chấp thuận của đức Phật. Ở đây đức Phật gọi các Tỳ-kheo và dạy rằng mọi sợ hãi, rắc rối, tai nạn đến với người ngu, không phải với người trí. Rồi Ngài khuyên các Tỳ-kheo hãy tu tập để trở thành có trí tuệ nhờ trạch pháp. Ở đây bản P thêm Trưởng lão A Nan hỏi đức Phật đến mức nào thì đủ để gọi là một Tỳ-kheo có trí nhờ trạch pháp.

Trong NC 78, (P123, Acchariyabbhutadhamma= C32, Vị tằng hữu pháp), Tôn giả A Nan sau khi ra khỏi thiền định vào buổi chiều đi đến đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên và kể ra những đức tính kỳ diệu của đức Phật. Trong bản P, một số đông Tỳ-kheo sau khi khất thực về ăn xong, tụ họp trong giảng đường và ca tụng đức Như lai (Tathàgata) thật kỳ diệu, có thần thông, biết được chư Phật về trước. Tôn giả A Nan xác nhận lời các Tỳ-kheo nói chư Như lai có nhiều đức tính kỳ diệu. Câu chuyện này được Phật cắt ngang lúc Ngài vừa ra khỏi độc cư thiền tịnh. Ngài hỏi các Tỳ-kheo đang đàm luận về điều gì, họ trình lại với Phật, khi ấy Phật bảo Tôn giả A Nan kể lại những đức tính kỳ diệu của đức Thế tôn.

Trong NC 98, ( P148, Chachakka = C86, kinh Thuyết xứ ), Tôn giả A Nan vào buổi chiều ra khỏi thiền định, đưa các Tỳ-kheo trẻ cùng đi đến đảnh lễ Phật và hỏi đức Thế tôn làm thế nào để dạy dỗ, khích lệ các Tỳ-kheo trẻ. Rồi Đức Phật giảng nhiều pháp môn cho những tỷ kheo trẻ. Bản P hoàn toàn không có chi tiết Tôn giả A Nan và các Tỳ-kheo trẻ, chỉ nói đức Phật cho gọi các Tỳ-kheo rồi giảng pháp.

k) Cho Tôn giả A Nan và chú tiểu Chu Na (C: Chou-na; P: Cunda) :

NC 66: ( P104, kinh Làng Soma= C196,Châu na kinh).

l) Cho Tôn giả A Nan và nhiều Tỳ-kheo:

NC 77: (P122, Mahàsunnatà= C191, Đại không kinh):

Cả hai bản dịch gần giống nhau trong NC 66, 77.

m) Cho Lại-tra-hòa-la (C: Lai-cha-ho-lo; P: Ratthapàla) :

NC 54: (P82, Ratthapàla= C132, Lại-tra-hòa-la kinh):

Câu chuyện Lại-tra-hòa-la không giống nhau trong hai bản. Lại-tra-hòa-la nghe đức Phật thuyết pháp, xin xuất gia, đức Phật từ chối vì chưa có phép cha mẹ, cha mẹ không bằng lòng cho xuất gia, Lại-tra-hòa-la tuyệt thực để gây áp lực đối với cha mẹ, cha mẹ nhượng bộ, Lại-tra-hòa-la xuất gia thọ giới và đắc quả A-la-hán, tất cả những chi tiết này đều giống nhau trong hai bản. Khi ấy Tôn giả Lại-tra-hòa-la vào sáng sớm cầm y bát đi vào làng Thâu Lô Tra (Yu-lu-cha) để khất thực, nghĩ đến đức Thế tôn khen ngơi hạnh tuần tự khất thực nên ông đi từng nhà và đến nhà cha, lúc ấy người cha đang tỉa râu tóc, khi trông thấy Tôn giả ông nói: "Bọn Sa-môn trọc đầu này chuyên làm việc hắc ám, không có con, không người kế tự, những kẻ phá hoại gia đình ta. Ta có một đứa con trai yêu quý, nhưng chúng đã đem đi mất và cạo trọc đầu nó, đừng cho Sa-môn này cái gì để ăn cả." Thế là Lại-tra-hòa-la không nhận được một sự bố thí nào từ nhà cha mình, ngoại trừ lời chưởi rủa. Khi ấy một người tớ gái đem ra một rỗ đầy thức ăn thối để đổ vào đống rác. Lại-tra-hòa-la trông thấy cô ta bèn yêu cầu đổ thức ăn ấy vào bát của mình. Khi người tớ gái đem đồ ăn đổ vào bát khất thực, cô nhận ra ngài nhờ giọng nói và chân tay. Cô đi vào báo cho người cha, được tin ông hết sức vui mừng. Tay phải cầm áo, tay trái vuốt râu tóc, ông vội vàng đi đến chỗ Lại-tra-hòa-la đang ngồi tựa vào một bức tường để ăn thức ăn đã thối. Người cha hỏi con trai sao có thể ăn được thức ăn thối ấy khi con ông vốn có thân thể mềm mại và đã quen với mỹ vị cao lương. Ông cũng hỏi con trai sao không đi vào nhà cha mẹ mình. Lại-tra-hòa-la trả lời ông có vào nhà cha mẹ, nhưng không nhận được gì ở đấy, ngoại trừ lời nguyền rủa. Người cha xin lỗi con trai, kính cẩn đưa ông vào nhà, trải chỗ và mời ngồi. Sau đó ông báo tin cho mẹ Lại-tra-hòa-la và bảo bà dọn cơm cho con. Bà vui vẻ đi làm thức ăn. Rồi bà chất một đống lớn những đồng tiền ra giữa sân, lớn đến nỗi một người đứng bên này không trông thấy người đứng bên kia. Rồi bà đi đến Lại-tra-hòa-la mà bảo đống tiền này là của mẹ dành cho ông, còn tiền của cha dành cho ông thì vô số, không thể đếm hàng trăm, hàng ngàn. Tất cả tiền này dành cho ông nếu ông hoàn tục. Lại-tra-hòa-la khuyên mẹ hãy đem tiền ấy đổ xuống sông vì chính do tiền này mà người ta trải qua đau khổ, tuyệt vọng. Khi ấy bà mẹ biết không thể đem tiền mà dụ ông hoàn tục. Rồi bà bảo những người vợ trước kia của ông mặc đồ đẹp và trang sức các chuỗi đeo cổ, đi đến nơi ông, ôm chân ông mà nói: "Hỡi người chồng tệ bạc, có những tiên nữ nào đẹp hơn chúng tôi để cho ông vì họ mà đi tu?" Những bà vợ cũ của Lại-tra-hòa-la theo lời chỉ dẫn của mẹ chồng. Nhưng Lại-tra-hòa-la gọi họ bằng chị và bảo ông xuất gia không phải vì tiên nữ nào hết, chỉ vì để được Phật pháp, và bây giờ mục đích của ông đã thành tựu. Những bà vợ đứng lên khóc lóc bảo rằng họ không phải chị nhưng Lại-tra-hòa-la lại gọi họ bằng chị. Khi ấy Lại-tra-hòa-la yêu cầu cha mẹ dọn đồ ăn ra vì đã đến giờ, chớ có phiền nhiễu ông nữa. Khi ấy cha mẹ ông đứng lên, đưa nước cho ông rửa tay và tự tay mình bồi tiếp những thức ăn mỹ vị. Sau khi ăn xong, Tôn giả Lại-tra-hòa-la giảng pháp cho cha mẹ, làm họ vui mừng hoan hỷ phấn chấn. Rồi ngài đứng lên đọc một bài kệ. Bản P hơi khác. Khi Ratthapàla đi đến Thullakotthita, bản P thêm rằng ông ở lại trong vườn nai của vua Kuru. Trong khi đi khất thực, Ratthapàla đi từng nhà, nhưng bản P bỏ chi tiết ông nghĩ đến đức Phật thường khen ngợi sự tuần tự khất thực. Khi Ratthapàla vào nhà cha mẹ, người cha đang chải tóc ở giữa gian phòng có cửa. Trong bản C, người cha mắng các Tỳ-kheo là bọn chuyên làm việc đen tối, không con cái, không kế tự, phá hoại gia đình mình. Bản P chỉ nói ông ta bảo đứa con trai yêu quý độc nhất đã bỏ nhà đi tu vì những Sa-môn trọc đầu này, và thế là Trưởng lão Ratthapàla tại nhà cha mẹ đã không nhận được của bố thí cũng không nhận được lời từ chối mà nhận được lời nguyền rủa. Ở đây thức ăn người nữ tỳ đem đổ là đồ ăn thừa của ngày hôm trước. Trong khi bản C nói người tớ gái đi vào báo thẳng với người cha, bản P nói nàng báo tin trước cho người mẹ và bà này kể lại với chồng. Bản P thêm rằng bà mẹ của Ratthapàla khi được tin ông trở về đã nói với người tớ gái rằng nếu tin này là đúng thì cô ta sẽ thoát vòng nô lệ. Bản P không nói đến thái độ của người cha vui mừng trước tin tức ấy. Khi người cha của Ratthapàla trông thấy con trai mình tựa lưng vào bức tường để ăn đồ ăn còn thừa ngày trước, ông đã hỏi : "Có thật là con đang ăn đồ thừa đấy không? Con hãy nên đi vào nhà của con." Và Ratthapàla đã trả lời rằng ông không có nhà vì đã xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Ông đã đi đến nhà gia chủ nhưng không nhận được bố thí hay sự từ chối mà nhận được sự nguyền rủa. Khi ấy người cha mời ông vào nhà nhưng Ratthapàla từ chối, nói rằng đã ăn xong. Khi ấy người cha mời ông đến để ăn bữa trưa ngày hôm sau, và ông đã im lặng nhận lời. Trong bản C, chính bà mẹ đã chất tiền thành từng đống và bảo các bà vợ cũ của ông trang sức. Trong bản P, người cha làm những việc ấy. Trong bản C, người mẹ đem tiền ra dụ rồi đến các bà vợ; nhưng trong bản P, người cha sử dụng cả hai phương pháp cùng một lúc. Trước hết ông chất một đống lớn tiền vàng và che khuất nó sau một bình phong. Rồi ông bảo các bà vợ trước của Ratthapàlatrang sức đẹp đẽ. Khi thức ăn đã sẵn sàng, ông cho mời Tôn giả và khi Ratthapàla ngồi xuống, ông mở cho thấy đống tiền vàng và bảo Ratthapàlarằng một đống của mẹ, một đống của cha, một đống của ông nội. Chàng có thể thừa hưởng của cải và thực hành những việc phước. Bởi thế ông yêu cầu con trai hãy từ bỏ đời sống phạm hạnh, trở về đời sống thế tục, hưởng thụ của cải và hành thiện. Sự trả lời của Ratthapàla, vai trò các bà vợ cũ cũng gần như trong bản C, ngoại trừ trong bản P, các bà vợ té xỉu xuống đất khi nghe Ratthapàla gọi họ bằng chị. Bản P bỏ chi tiết Ratthapàla giảng pháp cho cha mẹ. Theo bản C, Lại-tra-hòa-la bay về rừng Thâu Lô Tra (Yu-lu-cha) ngang qua hư không, đi vào rừng ngồi trên tọa cụ. Lúc ấy vua Câu Lao Bà (Chu-lao-p'o) ngồi với đình thần trong cung, đang ca tụng Lại-tra-hòa-la và tỏ ý muốn gặp Tôn giả. Rồi vua ra lệnh cho quan săn bắn sửa soạn rừng Thâu Lô Tra để đi săn. Khi viên quan đi vào rừng, trông thấy Tôn giả Lại-tra-hòa-la bèn trở về tâu vua, vua đi gặp Tôn giả. Khi Tôn giả thấy vua đến, ngài mời vua ngồi. Vua trả lời, mặc dù nơi này là sở hữu của vua, vua vẫn muốn được Tôn giả mời ngồi, và Tôn giả Lại-tra-hòa-la mời vua ngồi xuống. Vua hỏi phải chăng Tôn giả đi tu vì thiếu tiền, nếu vậy vua sẵn sàng cung cấp tất cả tiền bạc cần thiết để Lại-tra-hòa-la hoàn tục hưởng dục lạc, bố thí và làm các việc phước. Khi ấy Tôn giả bảo vua đã hiến cho mình những vật bất tịnh, không phải là tịnh pháp. Khi vua hỏi thế nào là hiến tịnh pháp, Tôn giả bảo vua nên nói xứ sở và thần dân của vua được hạnh phúc, không sợ hãi, không xáo trộn, không lo lắng, không bị làm nô lệ. Khi ấy vua nói muốn hiến cho Tôn giả tịnh pháp, không phải vật bất tịnh. Bản P không nói Ratthapàla bay trở về ngang qua hư không. Tôn giả chỉ trở về vườn Nai của vua Kuru, ngồi dưới một cây để nghỉ ban ngày. Bản P không nói vua Chu-lao-p'ongồi với đình thần trong cung, khen ngợi Tôn giả Ratthapàla và ngỏ ý muốn gặp ngài, mà chỉ nói vua sai người săn nai đi sửa soạn khu đất trong vườn Nai để vua đi ngắm cảnh. Người săn nai đến trông thấy Tôn giả đang ngồi dưới cây, về tâu vua, và vua sai thắng xe để đi gặp Tôn giả. Khi vua gặp Tôn giả, vua chào và mời Tôn giả ngồi trên tấm thảm lót lưng voi, nhưng Tôn giả từ chối và mời vua hãy ngồi lên đấy vì ngài đã có tọa cụ riêng. Ở đây bản P bỏ đoạn vua dụ Tôn giả từ bỏ đời sống phạm hạnh, như được tìm thấy trong bản C. Rồi vua hỏi những lý do đã khiến Ratthapàla sống đời phạm hạnh, và Tôn giả giải thích cho vua những lý do đã khiến ngài trở thành tu sĩ.

n) Giảng cho Tôn giả Phù Di (C: Fou-mi; P: Bhumija):

NC81: ( P126, Bhùmija= C173, kinh Phù Di ):

Tôn giả Phù Di ở trong thiền thất vô sự. Một buổi sáng, ông sửa soạn đi vào thành Vương Xá khất thực. Rồi ông hoãn việc khất thực mà đi đến nhà vương tử Kỳ Bà Tiên Na (Ch'i-p'o-hsien-na). Ở đấy, Tôn giả được vương tử chào đón một cách kính cẩn, mời ngồi và xin phép được hỏi Tôn giả. Sau khi được cho phép, vương tử đặt những câu hỏi và Tôn giả trả lời. Rồi vương tử mời Tôn giả ăn trưa, tự tay mang nước đến và phục vụ ngài với những thực phẩm hảo hạng. Sau khi ăn xong, vương tử ngồi xuống trên một chỗ ngồi thấp để lắng nghe thuyết pháp. Tôn giả thuyết pháp làm cho vương tử hoan hỷ, thỏa mãn, phấn chấn tinh thần bằng nhiều cách thuyết pháp. Khi bài pháp đã xong, Tôn giả đi đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ Ngài và kể lại cuộc đàm thoại với vương tử. Bản P bỏ chi tiết Tôn giả sửa soạn đi khất thực, hoãn việc khất thực, sự chào đón tôn kính của vương tử và xin phép đặt câu hỏi. Bản P chỉ nói Bhùmija vào buổi sáng đắp y cầm bát đi đến trú xứ vương tử Jayasenavà ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Rồi vương tử đến chào ngài và hỏi những câu hỏi. Trong khi kinh C nói dông dài về chuyện vương tử mời dùng cơm, phục vụ Tôn giả với những đồ ăn thượng hạng, Tôn giả thuyết pháp cho vương tử; kinh P chỉ nói vương tử cúng dường Tôn giả cơm nấu với sữa. Sau khi kể lại cho đức Phật nghe cuộc đàm thoại này, bản P nói Tôn giả hỏi đức Phật, có phải khi được hỏi và trả lời như thế là ông đã nói đúng những gì Thế tôn đã dạy, không xuyên tạc lời Thế tôn. Và đức Phật hỏi Tôn giả vì sao không nói cho vương tử nghe về bốn ví dụ.

o) Giảng cho Tôn giả Lu-i-ch'iang-ch'i (Lomasakangiya):

NC88: (P134, Lomasakangiiya, Nhất dạ hiền giả = C166, Thích trung thiền thất tôn) :

Có một việc khác nhau quan trọng cần chú ý giữa hai bản dịch. Bản C nói đức Phật giảng bài kệ về Bạt địa la đế (C: Pa-ti-lo-ti; P: Bhadde-karatta) tại thành Vương Xá, trong rừng Trúc, ở vườn Ca Lan Đà (Chia-lan-to), nhưng bản P nói đức Phật giảng bài kệ này tại cõi trời 33, giữa thiên chúng, ở gốc cây Pàricchattaka, trên Pandukambalasilà.

p) Giảng cho Tôn giả San-mi-t'i (Samiddhi):

NC 90: (P136, Đại nghiệp phân biệt = C171, Phân biệt đại nghiệp kinh):

Trong bản C, chính Tôn giả A Nan có tà kiến của Samiddhi và bị Phật quở. Nhưng trong bản P Tôn giả Ưu-đà-di (Udàyì) có tà kiến như Samiddhi và bị đức Phật quở trách.

q) Giảng cho Tôn giả Fu-chia-lo-so-li (Pukkusàti):

NC94: (P140, Giới phân biệt = C162,Phân biệt lục giới kinh):

Theo bản C, sau khi đức Phật giảng xong, Tôn giả Pukkusàtiđắc Pháp nhãn. Rồi ông thú nhận lỗi lầm đã gọi Phật bằng bạn và Phật nhận sự sám hối của ông. Ở đây bản P hoàn toàn khác. Tôn giả Pukkusàti cũng sám hối, và sau khi sám hối, còn xin đức Phật xuất gia làm Tỳ-kheo, nhưng đức Phật từ chối vì Tôn giả không có y bát sẵn sàng. Trong lúc đi tìm y bát, Tôn giả bị bò húc chết. Những Tỳ-kheo đưa tin ấy đến Phật và bạch hỏi về cảnh giới tương lai của Pukkusàti. Đức Phật trả lời Pukkusàti đã đoạn trừ năm kiết sử, đã hóa sinh và đạt Niết-bàn (Nibbàna) ngay ở đấy, không còn trở lui đời này. Tất cả những chi tiết này không có trong bản C.

r) Giảng cho Đại Châu Na (C: Ta-chou-na; P: Mahàcunda) :

NC7: (P8, Đoạn giảm = C91, Châu na vấn kiến kinh) :

Hai bản kinh gần giống nhau.

s) Giảng cho sa di A-i-na-ho-t'i (Aciravata):

NC80: (P125, Dantabhùmi= C198,Điều ngự địa):

Hai bản dịch không có gì khác nhau đáng chú ý.

6. Đức Phật thuyết pháp cho tu sĩ và những người khác :

Có 10 NC rơi vào loại này:
- Giảng cho Kiều-đàm-di (Ch'u-t'an-mi) : NC96: (P142,Dakkhinà-vibhanga = C180,Cù đàm di kinh);
\
- Giảng cho bà la môn Sinh Văn (Shêng-wên): NC23: (P27, Ví dụ dấu chân voi = C146, Tượng tích dụ kinh) ;
- Giảng cho Po-li-to (Potaliya) : NC38: (P54,Potaliya= C203, Bổ lợi đa kinh);

- Giảng cho Tiễn Mao (Chien-mao): NC49: (P77,Mahàsakuludàyi = C207, kinh
Tiễn mao);

- Giảng cho vua Ba-tư-nặc (Po-ssu-ni) : NC56: (P87,Piyajàtika= C216,Ái sinh); NC58: (P89,Dhammacetiya = C213, Pháp trang nghiêm); NC59: (P90,Kannakatthala= C 212, Nhất thiết trí kinh);

- Giảng cho bà la môn Phạm Ma (Fan-mo): NC60: (P91, Brahmàyu = C161, kinh Phạm ma)

- Giảng cho bà la môn Toán số Mục-kiền-liên (Suan-shu-mu-chien-lien) : NC68 : (P107,Ganakamoggallàna= C144, Toán số Mục-kiền-liên kinh);

- Giảng cho Anh-vũ-ma-nạp Đô-đề-tử (Ying-wu-mo-na-tu-t'i-tzu): NC89: (P135, Tiểu nghiệp phân biệt = C170, Anh vũ kinh).

a) Giảng cho Kiều-đàm-di (C: Ch'u-t'an-mi; P: Gotamì),NC96: Hai bản gần giống nhau.

b) Giảng cho bà la môn Sinh Văn ((C: Shêng-wên; P: Jànussonì),NC23:

Tỳ Lô (Pei-lu), một tín đồ ngoại đạo sau khi nghe đức Thế Tôn giảng trở về gặp bà la môn Sinh Văn đang đi trong một cỗ xe toàn trắng với 500 đệ tử ra khỏi thành Xá Vệ để đến một nơi vắng vẻ và đọc kinh điển. Bản P bỏ đoạn Tỳ Lô đi đến đức Phật và được Ngài thuyết pháp, đề cập trực tiếp bà la môn Jànussonì sáng sớm ngồi trong xe do ngựa trắng kéo, gặp du sĩ Pilotika từ xa đến và nói chuyện. Phần còn lại hai bản gần giống nhau.

c) Giảng cho Bổ Lợi Đà (C: Pu-li-to; P:Potaliya),NC38:

Theo bản C, gia chủ Bổ Lợi Đà vận y phục trắng sạch, đầu quấn khăn trắng, chống gậy, cầm dù, mang giày thế tục đi ngao du. Khi gặp Phật, đầu tiên ông bỏ cây gậy, tháo giày, rồi mở dãi khăn trắng ra. Trong bản P, Potaliya được mô tả là ăn mặc bảnh bao, đi giày cầm dù, nhưng không có những chi tiết khác. Ông không bộc lộ những vẻ cung kính bên ngoài như được thấy trong bản C. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, Potaliya được con mắt pháp thanh tịnh, lặp lại ba lần xin quy y Tam bảo và được nhận làm đệ tử tại gia. Bản P không nói Potaliya đắc Pháp nhãn. Ông chỉ bày tỏ sự tán thán như thường lệ và xin quy y Tam bảo, xin được nhận làm đệ tử Phật.

d) Giảng cho Tiễn Mao (C: Chien-mao; P: Sakuludàyì),NC49:

Trong khi bản C nói Phật sau khi ăn xong đi đến vườn chim công, bản P nói Phật vào thành Vương Xá (Ràjagaha) khất thực, nhưng thấy còn quá sớm nên Ngài đi đến vườn chim công. Bản P bỏ chi tiết Sakuludàyi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp vai chừa ra một bên, chắp tay hướng về Phật, nhưng thêm rằng Sakuludàyi lấy một ghế thấp ngồi bên cạnh. Sau khi Phật thuyết pháp, Tiễn Mao ca tụng bài pháp của đức Phật vi diệu, hy hữu, làm ông khoan khoái, như mật ngọt, như nước mưa trên trời rơi xuống thấm khắp những vùng đất cao và thấp. Rồi ông xin quy y Tam bảo và xin đức Phật nhận ông làm đệ tử. Đoạn này không có trong bản P.

e) Giảng cho vua Ba-tư-nặc (C: Po-ssu-ni; P: Pasenadi),NC 56, 58, 59:

Cả hai bản gần giống nhau, chỉ có thêm bớt vài chi tiết nhỏ. Trong NC56, theo kinh C216, Ái sinh, vua Ba-tư-nặc sai bà la môn Na Lị Ương Già (C: Na-li-yang-chia; P: Nàlijangha) đi đến đức Phật, trước hết hỏi thăm sức khỏe của Ngài, rồi hỏi quan điểm của Ngài. Trong kinh P90, Piyajàtika,hoàng hậu Mallikà phái bà la môn Nàlijangha đi đến đức Phật, trước hết đảnh lễ và hỏi thăm sức khỏe, sau xin Ngài giải thích quan điểm của Ngài.

f) Giảng cho Bà la môn Phạm Ma (C: Fan-mo; P: Brahmàyu),NC 60:

Hai kinh gần giống nhau. Những dị biệt sau đây cần chú ý: Về lưỡi dài rộng, theo kinh C161, trùm khắp mặt đức Phật, trong kinh P91, đức Phật đưa lưỡi ra sờ đến hai mang tai, hai lỗ mũi và bao trùm khắp mặt và trán. Trong kinh C, Ưu Đa La (Yu-to-lo) xin phép bà là môn Phạm Ma xuất gia với Sa-môn Cù Đàm (Ch'u-t'an) và bà la môn đồng ý. Và Ưu Đa La thọ đại giới với đức Phật. Những chi tiết này không có trong bản P. Trong bản C, bà la môn Phạm Ma muốn đảnh lễ đức Phật, nhưng chúng đông gia chủ và bà la môn hô lớn lời hoan nghênh và thán phục. Đức Phật biết tâm của hội chúng, bảo Phạm Ma hãy trở về chỗ ngồi. Rồi Ngài thuyết pháp cho ông, làm cho ông hoan hỷ, phấn khởi, hài lòng. Sau khi đức Phật thuyết pháp, Phạm Ma được Pháp nhãn. Rồi ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu dưới chân đức Phật, xin quy y Tam bảo và xin đức Phật nhận ông làm đệ tử. Trong bản P, bà la môn thực sự đảnh lễ Phật, sửa thượng y chừa lại một vai, hôn quanh chân Phật, dùng hai tay vuốt khắp chân Phật và cho biết tên của ông, nhưng không bị chúng hội ngăn chận.

g) Giảng cho Toán số Mục-kiền-liên (C: Suan-shu-mu-chien-lien; P: Ganakamoggallàna),NC 68: Hai bản gần giống nhau.

h) Giảng cho Anh-vũ-ma-nạp Đô-đề-tử (C: Ying-wu-mo-na-tu-t'i-tzu; P: Subha mànava Todeyyaputta),NC 89: Kinh C170 khởi sự với câu chuyện về con chó, đời trước là cha của Đô Đề (Todeyya), trong khi P135 hoàn toàn loại bỏ chi tiết này.

7. Sự thảo luận giữa các Tỳ-kheo

Có 3 NC thuộc về loại này :
NC20 : (P24, Trạm xe = C9,Thất xa), kể cuộc đàm luận giữa Tôn giả Xá-lợi-tử và Mãn-từ-tử (Man-tz'u-tzu).

NC26: (P32, Đại kinh rừng Sừng boø= C185,Ngưu giác lâm kinh), nói đến một cuộc luận bàn giữa các Tôn giả Xá-lợi-tử, Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca-chiên-diên, A-na-luật-đà (A-na-lu-t'o), Ly-bà-đa (Li-yueh-to) và A Nan.

NC30: (P43, Mahàvedalla = C211, Đại-câu-thi-la kinh), kể cuộc pháp đàm giữa Tôn giả Xá-lợi-tử và Đại-câu-thi-la (Ta-chu-ch'ih-lo).

a) Giữa Xá-lợi-tử và Mạn Từ Tử,NC20:

Hai bản gần giống nhau.

b) Giữa Xá-lợi-tử, Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca-chiên-diên, A-na-luật-đà, Ly-bà-đa và A Nan,NC26:

Bản C nói đến bảy Tôn giả, nhưng bản P chỉ nói sáu, bỏ Đại Ca-chiên-diên (Mahàkaccàna). Trong bản C, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên nói đến vị Tỳ-kheo nào thiện xảo về đàm luận pháp A tỳ đàm (Abhidharma), vị Tỳ-kheo ấy sẽ chói sáng khu rừng Sừng bò. Nhưng trong bản P, câu trả lời này được đặt vào miệng của Đại Mục-kiền-liên (Mahàmoggallàna). Trong bản C, câu trả lời của Đại Mục-kiền-liên nói đến vị Tỳ-kheo nào giỏi về năng lực thần thông.

c) Pháp đàm giữa Xá-lợi-tử và Đại-câu-thi-la (Ta-chu-ch'ih-lo),NC 30:

Trong bản C, Tôn giả Xá-lợi-tử đặt câu hỏi cho Tôn giả Đại-câu-thi-la và Đại-câu-thi-la trả lời câu hỏi. Trong bản P, Đại-câu-thi-la (Mahàkotthita) hỏi và Xá Lợi Phất trả lời.

8. Những bài pháp do đệ tử Phật nói:

Có 14 NC thuộc về loại này. Tôn giả Xá-lợi-tử thuyết pháp trong NC4, 24, 46, 63, 97. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thuyết pháp trong NC12, 36. Tôn giả A Nan thuyết bốn bài pháp trong NC37, 57, 69, 86. Tôn giả A-na-luật-đà giảng một bài pháp trong NC82. Tỳ-kheo ni Pháp Lạc nói một bài pháp trong NC31 và Tôn giả Bạc-câu-la (Po-chu-lo) nói một bài pháp trong NC 79.

a) Do Tôn giả Xá-lợi-tử thuyết:

NC4: (P5, Vô uế = C87,Uế phẩm kinh);
NC24: (P25, Dụ dấu chân voi = C178, Tượng tích dụ kinh);

NC46: (P69, Gulissàni = C26, Cù ni sư kinh);

NC63: (P97, Dhànanjàni = C27, Phạm chí Đà nhiên kinh);

NC97: (P143, Anàthapindikovàda = C28, Giáo hóa bệnh kinh);

Không có gì khác nhau nhiều giữa hai bản trong NC4, NC24, NC46. Nhưng có nhiều khác nhau trong NC63, nói đến sự gặp gỡ giữa Tôn giả Xá-lợi-tử và bà la môn Đà Nhiên (T'o-jan). Sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-tử mang y cầm bát vào thành Xá Vệ khất thực. Sau khi khất thực, ngài đến nhà bà la môn Đà Nhiên, lúc ấy Đà Nhiên vừa ra khỏi nhà đi đến bờ sông để hành hạ dân chúng. Khi thấy Tôn giả Xá-lợi-tử từ xa, ông ta đứng dậy khỏi chỗ ngồi (?), mặc y phục để lộ một vai, chắp tay chào đón Tôn giả, đưa Tôn giả vào nhà, sửa soạn chỗ và mời Tôn giả ngồi xuống, rồi cúng dường thực phẩm cho Tôn giả trong đồ đựng bằng vàng. Nhưng Tôn giả từ chối. Ba lần bà la môn năn nỉ, và Tôn giả từ chối cả ba lần. Bản P không hẳn vậy, nói bà la môn Dhànanjàni đang ở ngoài thành vắt sữa bò trong một chuồng bò. Bản này bỏ các chi tiết: bà la môn đứng dậy khỏi chỗ ngồi, mặc y chừa một vai, đưa Tôn giả vào nhà, sai sửa soạn chỗ ngồi, dâng thực phẩm trong bát bằng vàng. Bản P chỉ nói rằng khi trông thấy Tôn giả Xá Lợi Phất từ xa, bà la môn Dhànanjàni đi đến mời Tôn giả uống sữa chờ đến khi có thức ăn, nhưng Tôn giả từ chối bảo rằng ngài đã ăn xong, và mời bà la môn cùng đi đến dưới một gốc cây. Phần còn lại hai bản gần giống nhau. Trong NC97, cả hai bản kinh nói đến Cấp Cô Độc (Kei-ku-tu) bị ốm, yêu cầu Tôn giả Xá-lợi-tử đến giảng pháp cho ông. Tôn giả đến giảng pháp cho Cấp Cô Độc. Nhưng trong bản C, Tôn giả Xá-lợi-tử bảo Cấp Cô Độc đừng sợ hãi vì ông ta có đức tin lớn, có giới, đa văn, bố thí, trí tuệ, chánh kiến, mục tiêu chân chính, và do vậy khổ và ưu sẽ chấm dứt, vô thượng an lạc sẽ khởi lên, do điều này người ta có thể đạt đến cõi Nhất lai hay Bất hoàn; và Cấp Cô Độc đã đắc quả Dự lưu. Trong bản P, Tôn giả Xá Lợi Phất khuyên Cấp Cô Độc (Anàthapindika) đừng bám víu cái gì. Và sau khi Tôn giả Xá Lợi Phất giảng xong, Cấp Cô Độc đã khóc. Sau khi Tôn giả ra đi, Cấp Cô Độc chết và được tái sinh lên cõi trời Đâu Suất. Ở đây hai bản khác nhau khá xa. Rồi theo bản C, Cấp Cô Độc được khỏi bệnh, kể lại cho Tôn giả nghe lần đầu tiên ông gặp đức Phật, lắng nghe Ngài thuyết pháp, thấy đựơc bốn chân lý, mua vườn Kỳ Viên (C: Shêng-lin; P: Jetavana) và dâng cúng cho đức Phật. Nhưng bản P nói rằng sau khi Cấp Cô Độc chết và tái sinh lên cõi trời Đâu suất (Tusita), vị thiên Cấp Cô Độc còn trẻ, chói sáng vườn Kỳ Viên với hào quang của mình, đi đến đức Phật, chào Ngài và đọc một bài kệ tán thán Phật, Pháp và Tôn giả Xá Lợi Phất. Rồi vị trời trẻ Cấp Cô Độc biến mất tại chỗ.

b) Những bài kinh do Đại Mục-kiền-liên thuyết (Ta-mu-chien-lien):

NC12: (P15, Tư lượng = C89,Tỳ-kheo thỉnh);
NC36: (P50, Màratajjaniya= C131, Hàng ma kinh):

Hai bản gần giống nhau.

c) Do A Nan thuyết:

NC 37: (P52, Bát thành = C217, Bát thành kinh);
NC 57: (P88, Bahitika = C214,Bệ ha đề);

NC 69: (P108, Gopakamoggàllana = C145, Cù mặc Mục-kiền-liên kinh);

NC 86: (P132, A nan nhất dạ hiền giả = C167, A nan thuyết):

Không có nhiều dị biệt giữa hai bản trong NC 37, 57, 86. Nhưng trong NC69, bản C nói vào lúc ấy quan đại thần Vũ Thế (C: Yu-chih; P: Vassakàra) xứ Ma-kiệt-đà (C: Mo-chieh-t'o; P: Magadha) đang chỉnh đốn thành Vương Xá để chống lại dân Bạt Kỳ (P'o-ch'i). Nhưng trong bản P, vua A Xà Thế (Ajàtasttu) xứ Ma-kiệt-đà chỉnh đốn thành Vương Xá chống lại vua Pajjota. Phần còn lại gần giống nhau.

d) Do A-na-luật-đà (C: A-na-lu-t'o; P: Anuruddha) giảng:

NC82: (P127, A na luật = C79 ,Hữu thắng thiên):
Hai bản gần giống nhau.

e) Do Tỳ-kheo ni Pháp Lạc (C: Fa-lo; P: Dhammadinnà) giảng :

NC31: (P44, Tiểu kinh Phương quảng= C210, Pháp lạc Tỳ-kheo ni kinh):
Ở đây bản C nói Tỳ Xá Khư (C: P'i-shê-ch'u; P: Visakhà) là nữ đệ tử danh tiếng của thành Xá Vệ đi đến Tỳ-kheo ni Pháp Lạc tham vấn về Pháp. Theo bản P, Visàkha là chồng cũ của Pháp Lạc. Theo bản C, Tỳ-kheo ni Pháp Lạc đến Phật thuật lại sự thuyết pháp của bà, trong khi bản P nói chính cư sĩ Visàkha đến Phật thuật lại cuộc đàm thoại.

f) Do Bạc-câu-la (C: Po-chu-lo; P: Bakkula) thuyết :

NC79: (P124, Bakkula = C34, Bạc-câu-la kinh):
Ở đây bản P thêm tên của người hỏi Tôn giả Bakkula Acela Kassapa nhưng bỏ chi tiết ông ta là một người ngoại đạo. Sau khi Tôn giả Bakkula thuyết pháp, bản P thêm một đoạn dài, trong đó Acela Kassapa xin Tôn giả Bakkula cho ông xuất gia thọ đại giới. Sau khi thọ giới không lâu Acela Kassapa đắc quả A-la-hán, rồi sau một thời gian Tôn giả Bakkula cầm chìa khóa và thông báo cho các Tỳ-kheo khác biết mình sắp nhập Niết-bàn ngày hôm ấy, và Tôn giả Bakkula nhập Niết-bàn trong khi đang ngồi giữa chúng hội. Những chi tiết này không có trong bản C.


NHẬN XÉT CHUNG

Điểm qua vai trò của các nhân vật trong 98 kinh được so sánh, ta thấy rõ ràng có một nguồn gốc chung cho cả hai bản C và P, từ đó những nhà kết tập chọn những tài liệu và dữ kiện cho bản kinh của họ, nhưng không thiếu những dị biệt về chi tiết, và điều này hoặc do sự chọn lựa của các nhà kết tập hoặc do đặc điểm của các bộ phái mà họ tiêu biểu.
Như về phương diện nhân vật, trong NC15, kinh C 115,Mật hoàn du,ïnói chính Phật dẫn ví dụ về viên mật; trong kinh P18, nói Tôn giả A Nan dẫn. Trong NC 10, kinh C 99,Khổ ấm, kể một số đông tín đồ ngoại đạo đến gặp các Tỳ-kheo trong giảng đường khi họ đang tụ hội sau bữa ăn trưa. Nhưng trong P13, Đại kinh khổ uẩn, các Tỳ-kheo sau khi vào thành Xá Vệ khất thực, thấy còn sớm nên đi đến trú xứ của các du sĩ và cuộc đàm thoại bắt đầu. Trong NC 26, C184 nói Đại Ca-chiên-diên (Ta-chia-chan-yen) trả lời Tỳ-kheo thiện xảo về luận thuyết (Abhidharma) (sẽ làm sáng chói khu rừng), nhưng theo kinh P32, đó là câu trả lời của Đại Mục-kiền-liên (Mahàmoggallàna) ; trong khi ở kinh C, Đại Mục-kiền-liên trả lời là Tỳ-kheo thiện xảo về thần thông. Như vậy bản C ở đây trung thực và đáng tin cậy hơn, vì Đại Ca-chiên-diên (Mahàkaccàna) nổi tiếng là chuyên môn về luận nghị, Mục-kiền-liên nổi tiếng là chuyên môn về thần thông. Chúng ta trích dẫn ở đây một nhận xét của tiến sĩ Anesaki(71): "Trong kinh P, Gosinga(72), chúng ta thấy nói đến sáu đệ tử của đức Phật; trong bản C tương đương có thêm một người nữa là Ca-chiên-diên (Katyàyana) . Trong cuộc đàm luận giữa những Tỳ-kheo ấy, Mục-kiền-liên ở bản P đóng vai trò một đệ tử tinh thông về các nguyên lý của pháp và phân tích pháp. Trong bản C, vai trò này do Ca-chiên-diên đóng, và Mục-kiền-liên (Maudgalyàyana) là một người nổi tiếng về thần thông. Khi so sánh điều này với những tài năng của các đệ tử như được nói trong kinh Tăng chi bộ (Anguttara) I,14, chúng ta có thể thấy rằng bản C phù hợp với truyền thống chung. Vì như trong kinh Tăng chi I nói, Mục-kiền-liên là người thần thông (iddhimantànam) đệ nhất, Ca-chiên-diên (Kaccàna) là 'người thiện xảo về nói pháp và phân tích ý nghĩa' (sankhittena bhàsitassa vitthàrena attham vibhajantànam). Kinh Tăng-nhất-A-hàm (Ekottara) C cũng nói như vậy. Có thể sự khác nhau này chứng tỏ rằng không phải bản P luôn luôn thuần túy và nguyên chất hơn bản C."

Trong NC31, ta thấy một bất đồng khác nữa. Ở đây bản kinh C 210 nói đến tín nữ Tỳ Xá Khư ở thành Xá Vệ đi đến hỏi pháp Tỳ-kheo ni Pháp Lạc. Nhưng kinh P44 nói Visàkha là một nam cư sĩ, chồng cũ của Dhammadinnà. Trong Từ điển Tên riêng(D.P.P.N)(73)cũng nói Visàkha là chồng của Dhammadinnà. Ông là một thương gia giàu của thành Vương Xá, sau khi chứng quả Bất hoàn (Anàgàmì) , lối hành xử của ông đối với vợ hoàn toàn đổi khác. Khi ông tặng bà tất cả tài sản, trả lại tự do cho bà, bà xin được gia nhập tăng đoàn. Khi bà đắc quả A-la-hán, bà trở về Vương Xá. Visàkha đến thăm bà và hỏi bà nhiều câu hỏi liên hệ đến giáo lý Phật, và bà trả lời tất cả các câu hỏi ấy.(74)Cuộc đàm thoại của họ được ghi lại trong kinh Tiểu phương quảng (Cullavedallasutta). Sau đó Visàkha đến viếng đức Phật, thuật lại cuộc đàm thoại của họ và được nghe đức Phật tán thán Dhammadinnà. Như vậy có thể rằng những nhà kết tập kinh C đã nhầm lẫn tên Visàkha.

Trong NC30, kinh C 211 nói Tôn giả Xá-lợi-tử (Shê-li-tzu) đặt câu hỏi cho Tôn giả Đại-câu-thi-la (Ta-chu-ch'ih-lo) và ông này trả lời; nhưng theo P 43 thì Đại-câu-thi-la (Mahàkotthita) hỏi, Tôn giả Xá Lợi Phất (Sàriputta) trả lời. Lại trong NC56, kinh C 16 nói vua Ba-tư-nặc (Po-ssu-ni) phái một người bà la môn đến hỏi Phật về ý nghĩa giáo lý Ngài, trong khi kinh P 87 nói hoàng hậu Mallikà gởi sứ giả đến. Chúng ta cũng chú ý rằng trong NC53, theo kinh C63, Bệ bà lăng kỳ, vua Hiệp Bệ (Chia-pei) sai mang 500 xe bò đầy gạo trắng và đủ thứ thực phẩm của vua dùng để đến cúng dường Nan Đề Bà La (Nan-t'i-po-lo) . Nhưng Nan Đề Bà La từ chối, nói rằng vua có nhiều trách nhiệm lớn đối với quốc gia, và sự tốn kém của vua đã khá nặng nề nên ông không thể nhận. Nhưng bản P 81 nói vua Kikì sai chở 500 xe lúa, gạo vàng và cà ry đến cho người thợ gốm Ghatìkàra; ở đây người thợ gốm nhận quà và nói vua có nhiều phận sự, chừng ấy quà đã đủ cho anh ta. Như vậy những sự tường thuật mâu thẫn này cho chúng ta thấy hoặc do những nhà kết tập không nhớ kỹ, hoặc vì câu chuyện đã quá xa mờ trong dĩ vãng, nên những nhà kết tập chỉ còn nhớ mang máng, mơ hồ.

Về việc cải đạo của những người thuộc giáo phái khác sau khi nghe Phật thuyết pháp, ta thấy các chi tiết giống nhau giữa hai bản kinh trong các NC sau:

NC64: (P99, kinh Subha = C152, Anh vũ kinh);
NC23: (P27,Tiểu kinh dụ dấu chân voi = C146, Tượng tích dụ);
NC60: (P91, Brahmàyu = P161,Phạm ma);
NC68: (P107,Ganakamoggallàna= C144, Toán số Mục-kiền-liên);
NC89: (P135, Tiểu nghiệp phân biệt = C170, Anh vũ kinh).

Nhưng những chi tiết không giống trong các NC :

NC6: (P7,Ví dụ tấm vải = C93, Thủy tịnh Phạm chí);
NC61: (P93, Assalàyana= C151, Phạm chí A nhiếp hòa);
NC62: (P96, Esukari= C150, Uất sậu ca la);
NC48: (P75,Màgandiya= C153,Man nhàn đề);
NC52: (P80, Vekhanassa = C209, Bệ ma na tu);
NC38: (P54, Potaliya = C203, Bổø lợi đà kinh);
NC49: (P77,Mahàsakulùdayi = C207, Tiễn mao kinh);
NC56: (P87, Ái sinh= C216, Ái sinh kinh);
NC63: (P97,Dhananjàni= C27,Phạm chí Đà nhiên).

Trong NC6, bà la môn Thủy Tịnh (Shui-Ching) trong kinh C93 xin quy y Tam bảo và xin đức Phật nhận ông làm đệ tử tại gia. Nhưng kinh P 37 thêm rằng bà la môn Sundarika Bhàradvàjaxin đức Phật xuất gia thọ đại giới. Sau khi được phép, ông nỗ lực tinh cần tu tập và cuối cùng đắc quả A-la-hán. Trong NC 48, theo bản C 153, sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, Man Nhàn Đề (Hsu-hsien-t'i) đạt đến Pháp nhãn ly trần vô cấu. Ông được đức Phật cho xuất gia và đắc quả A-la-hán. Nhưng bản kinh P75 không nói Màgandiyađắc pháp nhãn ngay tại chỗ. Kinh này thêm lời tán thán của Màgandiyanhư thường lệ, xin quy y Tam bảo, xin đức Phật xuất gia. Ở đây Phật nói Màgandiya vì thuộc ngoại đạo đáng lẽ cần qua bốn tháng thử thách, nhưng Phật biết căn tánh khác nhau của các hạng người nên ngài cho phép Màgandiyaxuất gia. Ở đây bản P cũng nói Màgandiya đắc quả A-la-hán nhưng với nhiều chi tiết hơn.

Chúng ta nhận thấy rằng bản C thích trình bày những thần thông của Phật, trong khi bản P không nhắc tới, như trong NC 27, sau khi Phật thuyết pháp, kinh C 201, Trà đế,còn thêm, lúc ấy ba vạn thế giới rung động. Trong NC83, kinh C72, Trường thọ vương bản khởi,đức Thế tôn sau khi đọc lên bài kệ, đã vận thần thông bay ngang hư không và đến làng Bà-la-lâu-la (P'o-lo-lou-lo) trong khi kinh P128,Tùy phiền não,không nói. Cũng vậy trong NC54, kinh C132, Lại-tra-hòa-la,nói Tôn giả Lại-tra-hòa-la bay về rừng Thâu Lô Tra (Yu-lu-cha). trong khi kinh P82 quên chi tiết ấy. Bản C cũng ưa nói đến Tôn giả A Nan đứng sau đức Phật quạt cho Ngài hoặc hầu đức Phật tay cầm phất trần, trong khi bản P hoàn toàn không nhắc đến những chi tiết ấy như ở NC15, NC42, NC67, NC96, NC22. Đôi khi một trong hai bản thêm một chi tiết. Như trong NC35, bản P49,Brahmanimantanika,thêm tên bà la môn là Baka. Trong NC44, kinh P66, Latukìkopana, tên của Tỳ-kheo là Udàyì; trong NC39, kinh P56,Upàli, tên người thợ nhuộm là Rattapàni. Những tên này không có trong bản C. Đôi khi bản P thêm một chi tiết. Như trong NC64, P99, kinh Subha,thêm cuộc gặp gỡ giữa Subha và bà la môn Jànussonì. Trong NC94, kinh P140, Giới phân biệt,thêm rằng Pukkusàtixin đức Phật xuất gia thọ giới, nhưng đức Phật từ chối vì ông không có y bát. Trong khi đi tìm y bát, ông bị bò húc chết. Đôi khi, ta để ý điều ngược lại là bản C cho nhiều chi tiết hơn. Như trong NC3, C88, Cầu pháp kinh, đức Thế tôn đau lưng muốn nằm nghỉ, gấp tư y Uất đa la tăng (yu-to-lo-sêng) trải lên giường, cuộn tròn y Tăng già lê (sêng-chia-li) làm thành cái gối và nằm xuống bên hông phải hai chân duỗi ra chồng lên nhau. Nhưng bản P chỉ nói rằng đấng Thiện thệ đứng lên khỏi chỗ ngồi và đi vào tinh xá. Trong NC89, kinh C170, Anh vũ kinh, thêm câu chuyện về con chó của Anh-vũ-ma-nạp Đô-đề-tử (Ying-wu-mo-na-tu-t'i-tzu), trong NC83, kinh C72, Trường thọ vương bản khởi kinh, thêm câu chuyện về Phạm-ma-đạt-đa (C: Fan-mo-ta-to; P: brahmadatta), về đức Phật làm bạn với voi.

Như vậy những điểm tương đồng mà ta thấy được ở đây chứng tỏ có một nguồn chung các dữ liệu mà hai bản C và P đều theo, những điểm dị biệt biểu lộ đặc tính của mỗi bộ phái hoặc lỗi lầm của những người kết tập. Chúng cũng chứng tỏ rằng vào thời gian kết tập, nhiều dữ kiện quá mờ nhạt lẫn lộn nên đã đưa đến những tường thuật mâu thuẫn trong hai bản kinh C và P.

 


(69)Câu này được tìm thấy trong kinh Hữu học P 53, Sekhasutta, do Tôn giả Aønanda giảng.
(70)Lời giải thích này theo các nhà luận giải Pàli. Nhưng nguyên ngữ Pàli Bhunahu tương đương với từ Sanskrit Bhruna-ha, người giết bào thai, dịch sát từ này.
(71)JRAS, 1901, p. 899.
(72)Treckner 212 f.
(73)ii, p. 898.
(74)MA, I, 514 f; Thig A 15, 19.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn