Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

NC31-39

26/03/201105:16(Xem: 3233)
NC31-39

SO SÁNH KINH TRUNG A-HÀM CHỮ HÁN
VÀ KINH TRUNG-BỘ CHỮ PÀLI
Hòa thượng Thích Minh Châu (1961) - Thích Nữ Trí Hải dịch Việt (1998)
Nguyên tác: Bhiksu Thich Minh Chau (1961), "A Comparative Study of the Chinese Madhyama Agama and the Pali Majjhima Nikaya", Ph.D. Thesis, Bihar University, India

Phần Ba

15 MẪU NGHIÊN CỨU TỶ GIẢO
GIỮA CÁC KINH P VÀ C TƯƠNG ĐƯƠNG

NC31

C210: Pháp Lạc Tỳ-kheo ni kinh
P44: Tiểu kinh Phương Quảng

A. Toát yếu kinh C

C: Cư sĩ Tỳ Xá Khư đi đến Tỳ-kheo ni Pháp Lạc mà hỏi một loạt những câu hỏi về các đề tài khác nhau, và Tỳ-kheo ni Pháp Lạc trả lời. Những câu trả lời của bà được cư sĩ Tỳ Xá Khư khen ngợi. Rồi Tỳ-kheo ni Pháp Lạc đi đến đức Thế Tôn thuật lại cuộc đàm thoại với cư sĩ Tỳ Xá Khư. Đức Phật đồng ý tất cả những câu trả lời của bà và khen ngợi Tỳ-kheo ni.

P: Gần giống; nhưng bản P đề cập cư sĩ Visàkha là một nam cư sĩ, trước kia là chồng của Dhammadinnà, và chính Visàkha đã thuật lại cuộc đàm thoại với đức Phật chứ không phải Tỳ-kheo ni.

B. Nhan đề kinh

C: Pháp lạc Tỳ-kheo ni kinh, bản kinh nói về Tỳ-kheo ni danh hiệu là Pháp Lạc, người mà nam cư sĩ Tỳ Xá Khư đặt nhiều câu hỏi.

P:Tiểu kinh Phương quảng,bản kinh về Vedalla, đề cập nhiều đề tài khác nhau, được Visàkha nêu lên. Nó mang cùng tên với bản kinh P trước đấy, nhưng thay chữ đạibằng tiểu.

C. Nơi thuyết kinh

C: Xá Vệ, Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.

P: Vương Xá thành, vườn trúc Ca Lan Đà.

D. Nội dung kinh

I. Hoàn cảnh đưa đến sự thuyết kinh:

C: "Lúc bấy giờ nam cư sĩ Tỳ Xá Khư đi đến chỗ Tỳ-kheo ni Pháp Lạc, đảnh lễ dưới chân, ngồi qua một bên và hỏi: 'Thưa Tôn giả, tôi xin phép hỏi một số vấn đề.' Tỳ-kheo ni Pháp Lạc trả lời: 'Cư sĩ cứ hỏi nếu muốn. Sau khi nghe xong tôi sẽ suy nghĩ.' "

P: Nói Visàkha là một nam cư sĩ chứ không phải là nữ cư sĩ như trong kinh C. Ông ta đặt câu hỏi cho Tỳ-kheo ni Pháp Lạc ngay, không xin phép trước.

II. Những loạt câu hỏi:

Hai bản kinh có nhiều điểm khác nhau về những câu hỏi được nêu lên. Trong bản C, có 30 câu hỏi, bản P có 34 câu. Những câu hỏi tương đương trong cả hai bản lên đến 22 câu. Trong bản C, có tám câu hỏi không có trong P; và bản P có chín câu không có trong C. Trong số tám câu hỏi không có trong P, có sáu câu đã có trong kinh C 211. Trong số chín câu hỏi có trong P mà C không có, có ba câu đã có trong kinh C 211.

1/- 22 câu hỏi tương đương trong cả hai bản là: C1 = P1,C2 = P6, C3 = P7, C4 = P3, C5 = P5, C6 = P8, C7 = P9, C9 = P10, C12 = P11, C17 = P15, C18 = P17, C19 = P20, C20 = P21, C21 = P22, C22 = P23 và 24, C23 = P25,26,27; C24 = P28 (C25 = P28), C25 = P29, C27 = P30, C28 = P31, C29 = P32, C30 = P34.

2/- 8 câu hỏi có trong C, không có trong P: C8, C10, C11, C13, C14, C15, C16, C26. Sáu câu hỏi sau đây đã có trong các kinh C và P trước: C10 = C15, C11 = P18, C13 = C20, C14 = C21, C15 = C22, C16 = C23.

3/- 9 câu hỏi trong P không có trong C: P2,4,12,13, 14,16,18,19,33. Trong số chín câu hỏi này có ba câu đã tìm thấy trong kinh trước: P16 = C24, P18 = C25, P19 = C26.

Những chỗ gạch dưới chỉ cho các bản kinh C và P trước đấy.

a) Những câu hỏi về tự thân và các uẩn:

C1 = P1:

C: Tỳ Xá Khư hỏi: "Thưa Tôn giả, tự thân được gọi là tự thân. Thế nào gọi là tự thân?" Tỳ-kheo ni Pháp Lạc trả lời: "Đức Thế Tôn nói về năm uẩn tăng trưởng là tự thân, sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn tăng trưởng (năm thạnh uẩn). Đấy là những gì đức Thế Tôn nói về năm thạnh uẩn." Tín nữ Tỳ Xá Khư nghe xong khen ngợi nói: "Lành thay thưa Tôn giả." Khen xong tín nữ hoan hỷ lãnh thọ.

P: Gần giống. Câu hỏi giống nhưng trả lời hơi khác. C: 5 thạnh uẩn = P: 5 thủ uẩn. C: Đây là những gì đức Thế Tôn nói về năm thạnh uẩn = P: Năm thủ uẩn này được đức Như lai gọi là tự thân hay thân kiến.

C2 = P6:

C: (Cách đặt câu hỏi và trả lời cũng giống như các câu hỏi còn lại).

Hỏi: Làm thế nào thân kiến sinh khởi? Đáp: Kẻ vô văn phàm phu không yết kiến các bậc đa văn, không biết pháp các bậc thánh, không thuần thục pháp các bậc thánh. Kẻ ấy thấy sắc pháp là linh hồn, thấy linh hồn có sắc, thấy sắc ở trong linh hồn, thấy linh hồn ở trong sắc. (Cũng vậy với bốn uẩn còn lại). Đây gọi là thân kiến.

P: Gần giống. C: kẻ vô văn phàm phu... pháp các bậc thánh = P: kẻ phàm phu không học, không yết kến các bậc thánh, không am tường thánh pháp, không thuần thục về thánh pháp; không yết kiến bậc chân nhân, không am tường pháp của bậc chân nhân, không thuần thục pháp của bậc chân nhân. C: linh hồn = P: tự ngã.

C3 = P7:

C: Hỏi: Làm thế nào thân kiến không sinh khởi? Đáp: (Ngược lại với câu trả lời trên).

P: Cũng nhận xét như trong câu hỏi trước .

C4 = P3:

C: Làm thế nào thân đi đến hủy diệt? Đáp: Sắc thạnh uẩn được tận diệt không dư tàn, được từ bỏ, vứt đi, được dập tắt, không làm ô nhiễm kẻ khác, chấm dứt, dừng lại, biến mất. Các thạnh uẩn thọ, tưởng, hành thức được tận diệt không dư tàn,.... biến mất. Đây gọi là sự chấm dứt của tự thân.

P: Gần giống. Hỏi: Tự thân diệt được gọi là tự thân diệt. Thế nào đức Thế Tôn gọi là tự thân diệt? Đáp: Sự chấm dứt không còn ái luyến, sự từ bỏ, tẩy trừ, giải thoát, đây gọi là tự thân diệt, được đức Thế Tôn nói đến.

C5 = P5:

C: Hỏi: Uẩn được gọi là uẩn. Thạnh uẩn được gọi là thạnh uẩn. Uẩn và thạnh uẩn là một hay là khác? Đáp: Có khi uẩn và thạnh uẩn là một, có khi là khác. Thế nào uẩn và thạnh uẩn là một? Khi sắc pháp có ô nhiễm, có chấp thủ; khi thọ, tưởng, hành, thức có ô nhiễm, có chấp thủ, khi ấy uẩn được gọi là thạnh uẩn. Thế nào là uẩn không phải là thạnh uẩn? Khi sắc pháp không có ô nhiễm, không có chấp thủ; khi thọ, tưởng, hành. thức không có ô nhiễm, không có chấp thủ, khi ấy uẩn không phải là thạnh uẩn.

P: Không giống hẳn. Hỏi: Có phải thủ đồng nghĩa với năm thủ uẩn hay thủ khác với năm thủ uẩn? Đáp: Thủ không là một với năm thủ uẩn, nhưng cũng không khác với năm thủ uẩn. Khi có tham ái và chấp thủ trong năm thủ uẩn, khi ấy có thủ. C: thạnh uẩn = P: thủ uẩn.

Trong loạt câu hỏi này, có hai câu trong P không có trong C:

P2: Hỏi: Tập khởi của thân gọi là tập khởi của thân. Gì là tập khởi của tự thân được đức Thế Tôn nói đến? Đáp: Bất cứ gì có khát ái đưa đến tái sinh, liên hệ đến hỷ và tham, tìm hỷ lạc chỗ này chỗ kia, như dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Đây gọi là tập khởi của tự thân, được đức Thế Tôn nói đến.

P4: Hỏi: Con đường đưa đến chấm dứt tự thân được gọi là con đường đưa đến chấm dứt tự thân. Thế nào được gọi là con đường đưa đến chấm dứt tự thân do đức Thế Tôn dạy? Đáp: Thánh đạo tám ngành này được gọi là con đường đưa đến chấm dứt tự thân do đức Thế Tôn dạy, đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

b) Những câu hỏi về thánh đạo tám ngành:

C6 = P8:

C: Hỏi: Gì là thánh đạo tám ngành? Đáp: Thánh đạo tám ngành là chánh kiến cho đến chánh định, đây gọi là thánh đạo tám ngành.

P: Gần giống. Bản P kể cả tám pháp.

C7 = P9:

C: Hỏi: Thánh đạo tám ngành có phải là một pháp hữu vi không? Đáp: Thánh đạo tám ngành là một pháp hữu vi.

P: Gần giống.

C8 = P không có:

C: Có bao nhiêu nhóm? Đáp có ba nhóm: nhóm giới, định và tuệ.

C9 = P10:

C: Thánh đạo tám ngành bao gồm ba nhóm, hay là ba nhóm bao gồm tám thánh đạo? Đáp: Thánh đạo tám ngành không bao gồm ba nhóm, mà ba nhóm bao gồm tám thánh đạo. Chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, ba yếu tố này được bao gồm trong nhóm thánh giới; chánh niệm, chánh định, hai pháp này bao gồm trong nhóm thánh định; chánh kiến, chánh tư duy, chánh phương tiện, ba pháp này bao gồm trong nhóm thánh tuệ. Bởi vậy thánh đạo tám ngành không bao gồm ba nhóm, mà ba nhóm bao gồm thánh đạo tám ngành.

P : Gần giống, nhưng hình thức câu hỏi đặt ra hơi khác. Hỏi: Ba nhóm được bao gồm trong thánh đạo tám ngành, hay thánh đạo tám ngành được bao gồm trong ba nhóm? Một dị biệt quan trọng ở đây là bản P bao gồm chánh tinh tiến vào trong nhóm định, còn bản C bao gồm chánh phương tiện vào trong nhóm tuệ.

c) Những câu hỏi về diệt (Niết-bàn), sơ thiền và định:

C10 = P không có:

C: Hỏi: Diệt có đối hay không? Đáp: Diệt không có đối.

C11 = P không có:

C: Hỏi: Sơ thiền có bao nhiêu thiền chi? Đáp: Sơ thiền có năm thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm. Đây gọi là năm thiền chi.

P: Không có ở đây, nhưng đã có trong kinh trước số 43, P18.

C12 = P11:

C: Hỏi: Định là gì? Gì là định tướng? Gì là sức mạnh của định? Gì là hiệu lực của định? Gì là sự tu tập định? Đáp: Khi thiện tâm trở nên chuyên nhất thì gọi là định. Định tướng là bốn chánh niệm. Sức mạnh của định là bốn chánh đoạn. Hiệu lực của định là bốn thần thông. Khi người ta tu tập các thiện pháp này, dấn mình vào việc tu tập, với sự tinh cần nỗ lực, đây gọi là tu tập định.

P: Gần giống. Hỏi: Gì là định? Gì là định tướng? Gì là định tư cụ? (điều kiện của định). Gì là sự tu tập định? Đáp: Nhất tâm gọi là định; bốn niệm xứ gọi là định tướng; bốn chánh cần là tư cụ của định; sự tu tập, huấn luyện, thực hành liên tục các pháp này gọi là tu tập định.

d) Những câu hỏi về chết, diệt định, định vô tưởng:

(Xin xem đoạn trước nói về định trong C211).

e) Những câu hỏi về cảm thọ:

C20 = P21:

C: Hỏi: Có bao nhiêu cảm thọ? Đáp: Có ba loại thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Chúng khởi lên do duyên gì? Do duyên hưởng thụ mạnh mẽ, chúng khởi lên.

P: Gần giống; nhưng bỏ phần cuối "do duyên gì chúng khởi lên".

C: hưởng thụ mạnh mẽ = P: xúc.

C21 = P22:

C: Hỏi: Gì là lạc thọ? Gì là khổ thọ? Gì là bất khổ bất lạc thọ? Đáp: Khi lạc thọ khởi lên do hưởng thụ mạnh mẽ thì thân và tâm hưởng một cảm giác khả ái, dễ chịu, đây gọi là lạc thọ. Khi khổ thọ khởi lên do hưởng thụ mạnh mẽ, thì thân và tâm trải qua một cảm giác khó chịu, bất lạc, đây gọi là khổ thọ. Khi cảm thọ bất khổ bất lạc khởi lên do hưởng thụ mạnh mẽ, thì thân và tâm kinh nghiệm một cảm giác không vui không khổ, không đáng ưa cũng không đáng ghét, đây gọi là bất khổ bất lạc thọ.

P: Gần giống. Định nghĩa ở đây giản dị hơn: bất cứ cảm thọ thân và tâm nào dễ chịu, khả ái, thì gọi là lạc thọ....

C22 = P23,24:

C: Hỏi: Lạc thọ, gì là lạc? Gì là sự bất lạc của nó? Gì là sự vô thường của nó? Gì là sự nguy hiểm của nó? Gì là khuynh hướng tiềm ẩn trong nó (tùy miên)? (cũng câu hỏi tương tự đối với khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ). Đáp: Lạc thọ khi sinh khởi, khi đang trú, đó là khía cạnh lạc của nó; khi nó biến hoại, đấy là khía cạnh khổ của nó; tính vô thường là nguy hiểm của nó; tham ái là khuynh hướng tiềm tàng trong nó. Đối với khổ thọ, khi nó khởi lên, khi đang trú, đó là khía cạnh khó chịu của nó; khi nó thay đổi thì đó là khía cạnh dễ chịu của nó; vô thường là sự nguy hiểm của nó, sân hận là khuynh hướng tiềm ẩn trong nó; đối với bất khổ bất lạc thọ, khi nó không được biết đến, đấy là sự khó chịu của nó, khi nó được biết đến, đấy là khía cạnh dễ chịu của nó, vô thường là sự biến hoại của nó, vô minh là khuynh hướng tiềm tàng trong nó.

P23: Không giống hẳn, ở đây nói đơn giản hơn. Hỏi: Đối với lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ? Đối với khổ thọ, cái gì khổ, cái gì lạc? Đối với bất khổ bất lạc thọ, cái gì khổ, cái gì lạc? Đáp: Đối với lạc thọ, trú là lạc, biến hoại khổ. Đối với khổ thọ, trú khổ, biến hoại lạc. Đối với bất khổ bất lạc thọ, biết là lạc, không biết là khổ. Ở đây cách giải thích trong hai bản không giống nhau về cảm thọ bất khổ bất lạc.

P24: Về khuynh hướng tiềm ẩn (anusaya, tùy miên) trong ba cảm thọ, câu trả lời giống với bản C.

C23 = P25,26,27:

C: Hỏi: Có phải tất cả lạc thọ đều có tham tiềm ẩn? Có phải tất cả khổ thọ đều có sân tiềm ẩn? Có phải tất cả bất khổ bất lạc thọ đều có vô minh tiềm ẩn? Đáp: Không phải tất cả lạc thọ đều có tham tiềm ẩn. Không phải tất cả khổ thọ đều có sân tiềm ẩn. Không phải tất cả bất khổ bất lạc thọ đều có vô minh tiềm ẩn. Thế nào không phải tất cả lạc thọ đều có tham tiềm ẩn? Khi một Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ lạc do viễn ly sanh, đây gọi là lạc thọ không có tham tiềm ẩn. Vì sao? Vì thiền này phá hủy tham. Thế nào không phải tất cả khổ thọ đều có sân tiềm ẩn? Khi một người theo đuổi phúc lạc của giải thoát cao cả, trong sự nỗ lực của vị ấy có khởi lên một khổ thọ, đây gọi là khổ thọ không có sân tiềm ẩn. Tại sao? Vì thiền này phá hủy sân. Thế nào là không phải tất cả bất khổ bất lạc thọ đều có vô minh tiềm ẩn? Với sự chấm dứt lạc, chấm dứt khổ, chấm dứt hỷ và ưu đã cảm thọ trước kia, vị ấy chứng trú thiền thứ tư được thuần tịnh nhờ chánh niệm, bất khổ bất lạc. Đây gọi là cảm thọ bất khổ bất lạc nhưng không có vô minh tiềm ẩn. Vì sao? Vì thiền này phá hủy vô minh.

P25,26,267: Đoạn kinh C bao gồm cả ba câu hỏi trong bản P. Câu hỏi số 25 trong bản P giống với câu hỏi số 23 trong C, nhưng nó chỉ trả lời không. Trong P26, câu hỏi là: Cái gì cần từ bỏ trong lạc thọ, trong khổ thọ và trong bất khổ bất lạc thọ? Và câu trả lời là: Trong lạc thọ cần từ bỏ tham, trong khổ thọ cần từ bỏ sân, trong bất khổ bất lạc thọ cần từ bỏ si. Trong P27, câu hỏi là: Có phải tham sân si cần được từ bỏ trong tất cả lạc thọ, khổ thọ, và bất khổ bất lạc thọ không? Câu trả lời gần giống như trong C. C: Tại sao thế? Vì thiền này phá hủy tham = P: Do thiền này tham ái được phá hủy nên không có tham tùy miên ở đây. C: Khi một người theo đuổi hạnh phúc giải thoát cao cả, trong sự nỗ lực của họ có khởi lên một khổ thọ, đây gọi là khổ thọ không có sân tiềm ẩn = P : Vị Tỳ-kheo nghĩ : "Sau khi đạt đến cảnh giới này, ta sẽ trú trong cảnh giới mà các bậc thánh đã chứng và trú." Đối với Tỳ-kheo đã lập một lời nguyện như vậy, khi bất lạc khởi lên do lời thệ nguyện này mà sân được phá hủy, không có sân tùy miên ở đây. Về câu trả lời đối với cảm thọ bất khổ bất lạc cũng giống như trong C. Nó chỉ thêm rằng "không có vô minh tùy miên ở đây."

f) Những câu hỏi về đối (patibhàga đối xứng và đối nghịch):

C24 = P28:

C: Hỏi: Lạc thọ đối với cái gì? Đáp: Khổ thọ là đối với lạc thọ.

P: Giống nhau.

C25 = P29:

C: Hỏi: Gì là đối nghịch của khổ thọ? Đáp: Lạc thọ là đối nghịch với khổ thọ.

P: Giống nhau.

C26 = P không có:

C: Hỏi: Gì là đối nghịch với lạc thọ, với khổ thọ? Đáp: Bất khổ bất lạc thọ là đối nghịch với lạc thọ và khổ thọ.

C27 = P30:

C: Hỏi: Cái gì là đối nghịch với bất khổ bất lạc thọ? Đáp: Vô minh là đối nghịch với bất khổ bất lạc thọ.

P: Giống nhau.

C29 = P32:

C: Hỏi: Gì là đối xứng với minh trí? Đáp: Niết-bàn là đối với minh trí.

P: Câu hỏi giống nhau nhưng trả lời khác. Bản P trả lời: giải thoát là đối với vô minh. Ở đây bản P thêm một câu hỏi nữa: "Giải thoát lấy gì đối?" Đáp: "Giải thoát lấy Niết-bàn làm đối".

C30 = P34:

C: Hỏi: Niết-bàn lấy gì làm đối? Đáp: Ngươi muốn hỏi một câu hỏi vô giới hạn. Nhưng điều ngươi hỏi không vượt ngoài hiểu biết của ta. Niết-bàn không có đối, Niết-bàn không có khuyết điểm của sự rối ren, tất cả mọi rối ren đều đã được trừ khử. Chính do ý nghĩa (mục đích) này mà người ta sống đời phạm hạnh dưới đức Thế Tôn.

P: Câu hỏi giống nhưng trả lời khác. Trả lời: Câu hỏi của ngươi vượt ngoài giới hạn. Không thể nào nắm được phạm vi của câu hỏi. Đời sống phạm hạnh là để hòa nhập vào Niết-bàn, nhắm vào Niết-bàn, chấm dứt trong Niết-bàn. Nếu muốn, ngươi có thể đến đức Thế Tôn mà hỏi ý nghĩa này. Những gì đức Thế Tôn giải đáp, hãy như vậy mà thọ trì.

Trong bản P có ba câu hỏi không có trong C. Đó là câu 12, 13,14

P12: Hỏi: Có bao nhiêu loại hành? Đáp: Có ba loại hành: thân hành, ngữ hành, ý hành.

P13: Hỏi: Gì là thân hành, gì là ngữ hành, gì là ý hành? Đáp:Thở vô thở ra là thân hành; tầm tứlà ngữ hành; tưởng và thọ là ý hành.

P14: Hỏi: Thế nào thở vô thở ra là thân hành? Thế nào tầm tứ là ngữ hành? Thế nào tưởng và thọ là ý hành? Đáp: Thở vô thở ra thuộc về thân, liên hệ đến thân, nên gọi là thân hành.Trước hết phải suy nghĩ, tức là tầm và tứ, rồi người ta mới nói thành lời, cho nên tầm tứ thuộc về ngữ hành.Thọ và tưởng là những yếu tố tâm lý, là những pháp liên hệ đến tâm nên gọi là ý hành.

III. Cuộc đàm thoại được thuật lại với đức Phật:

C: "Rồi tín nữ Tỳ Xá Khư sau khi nghe Tỳ-kheo ni Pháp Lạc nói pháp, sau khi khéo thọ trì, nắm vững, tụng thuộc và khéo tu tập, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ dưới chân Tỳ-kheo ni Pháp Lạc, nhiễu quanh bà ba vòng rồi ra đi. Tỳ-kheo ni Pháp Lạc, sau khi tín nữ Tỳ Xá Khư đi không bao lâu, liền đến đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân đức Phật, ngồi xuống một bên và tường thuật với Ngài toàn thể cuộc đàm thoại với tín nữ Tỳ Xá Khư. Bà chắp tay hướng về đức Phật mà nói, bạch đức Thế Tôn con đã nói như vậy, đã trả lời như vậy. Con có xuyên tạc lời của đức Thế Tôn không? Con có nói đúng pháp không, con có nói phù hợp với pháp không? Y cứ vào pháp, có điểm nào trong lời nói của con trái ngược với pháp, có gì đáng chất vấn, có gì lỗi lầm không? Đức Thế Tôn trả lời: 'Này Tỳ-kheo, những gì ngươi đã nói, những gì ngươi trả lời, không phỉ báng ta. Ngươi đã nói đúng pháp, phù hợp với pháp, không có gì trái ngược, không có gì đáng chất vấn, không có gì lầm lỗi. Nếu tín nữ Tỳ Xá Khư dùng câu như vậy, lời như vậy đến hỏi ta, ta cũng sẽ dùng nghĩa như vậy, câu như vậy, lời như vậy để giải đáp cho tín nữ Tỳ Xá Khư. Ý nghĩa này là những gì ngươi đã nói. Ngươi nên thọ trì trong tâm. Vì sao? Vì lời này phù hợp với ý nghĩa.' "

P: Không giống hẳn. Ở đây bản P chỉ nói Visàkha hoan hỷ tín thọ lời Tỳ-kheo ni Dhammadinnà và cám ơn bà. Trong bản P, chính nam cư sĩ Visàkha đi đến Phật thuật lại cuộc đàm thoại với ngài. Bản P chỉ nói rằng Phật khen Tỳ-kheo ni Pháp Lạc là đa văn, có đại trí tuệ, và Ngài nói rằng nếu nam cư sĩ đi đến Ngài mà hỏi những câu ấy, Ngài cũng sẽ trả lời y như Tỳ-kheo ni Dhammadinnà đã trả lời. Rồi Ngài khuyên Visàkha thọ trì ý nghĩa ấy.

E. Phần kết

C: Đức Phật nói như vậy. Tỳ-kheo ni Pháp lạc và các Tỳ-kheo, sau khi nghe lời đức Phật, hoan hỷ phụng hành.

P: Nam cư sĩ Visàkha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

NC39

C133: Ưu bà lợi kinh
P56: Kinh Upàli

A. Toát yếu kinh C

C: Trường Khổ Hạnh đàm luận với đức Phật, trong đó ông trình bày lý thuyết của Kiền Tử về hình phạt và vai trò nổi bật của thân phạt trong bất cứ hành vi quấy nào. Ngược lại đức Phật trình bày lý thuyết của Ngài về nghiệp và vai trò nổi bật của ý nghiệp trong bất cứ hành vi quấy nào. Trường Khổ Hạnh thuật lại cuộc đàm thoại với Kiền Tử khi có mặt gia chủ Upàli. Khi ấy Upàli được Kiền Tử chấp thuận cho đi đến phản bác quan điểm của đức Phật. Nhưng đức Phật, bằng vài ví dụ, đã cảm hóa được Upàli theo lý thuyết của Ngài, và ông trở thành đệ tử Ngài. Sau đó Upàli trở về công bố đức tin mới của ông, từ bỏ niềm tin cũ đối với Ni Kiền. Kiền Tử, sau khi nghe tin này, đã đích thân đến nhà Upàli, và khi được ông ta cho biết ông đã cải đạo, Kiền Tử đã hộc máu nóng và chết tại Pàvà sau đó.

P : Gần giống nhưng bỏ cái chết của Kiền Tử.

B. Nhan đề kinh

C: Ưu bà lợi kinh,bản kinh nói về Ưu Ba Ly, một người trước đây là đệ tử của Ni Kiền, sau trở thành đệ tử đức Phật.

P: Kinh Upàli, giống như C.

C. Nơi thuyết kinh

C: Na Lan Đà, trong rừng Pàvàrikamba.

P: Nàlandà, Pàvàrikambavana.

D. Nội dung kinh

I. Cuộc đàm thoại giữa Trường Khổ Hạnh và đức Phật:

C: Trường Khổ Hạnh đi đến nơi đức Phật, trao đổi với Ngài và ngồi qua một phía. Đức Phật hỏi ông: "Có bao nhiêu hành vi Ni Kiền Tử chủ trương để diệt trừ ác nghiệp?" Trường Khổ Hạnh trả lời rằng Kiền Tử không nói hành vi để diệt trừ ác hành mà nói phạt. Rồi ông tiếp tục giải thích có ba loại hình phạt, thân phạt, ngữ phạt và ý phạt, ba loại không giống nhau, và thân phạt có vai trò quan trọng nhất trong sự diệt trừ tội ác. Khi ấy đức Phật trình bày lý thuyết của Ngài về nghiệp để diệt trừ tội ác, về ba loại nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp; mà ý nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự diệt trừ tội ác. Đức Phật và Trường Khổ Hạnh đều nhắc lại ba lần chủ trương của mình; rồi Trường Khổ Hạnh bỏ đi.

P: Gần giống; thêm: Phật nói với Trường Khổ Hạnh: "Có chỗ ngồi; nếu muốn, mời ông hãy ngồi." Rồi Trường Khổ Hạnh lấy một ghế thấp và ngồi xuống. Câu hỏi của đức Phật ở đây hơi khác: "Có bao nhiêu nghiệp Ni Kiền Tử chủ trương, trong sự diễn tiến ác hành, trong sự thực thi tội ác?" C: phạt = P: danda(roi). C: thân phạt đóng vai trò quan trọng nhất trong sự diệt trừ ác hành = P: thân phạt sản sanh nhiều phi công đức hơn. C: ý phạt đóng vai trò quan trọng trong việc diệt trừ ác nghiệp = P: ý phạt đóng vai trò quan trọng trong việc diễn tiến ác nghiệp. Giải thích của C gần với quan điểm Kỳ na giáo hơn.

II. Trường Khổ Hạnh thuật lại với Kiền Tử, và Ưu Ba Ly xin đi luận chiến với đức Phật:

C: Trường Khổ Hạnh thuật lại toàn bộ cuộc đàm thoại với Kiền Tử, ông này khen như sau: "Tốt lắm, tốt lắm, ông đã làm tròn phận sự đệ tử đối với bậc đạo sư. Ông là người có hành động thông minh, khôn ngoan, có quyết định chắc chắn, bảo đảm, vô úy, đã đạt đến tự chủ, một người biện luận đại tài, người đã có được cây cờ vinh quang, đã đạt đến cảnh giới bất tử và trú trong đó. Vì sao? Vì ông đã trình bày cho Sa-môn Cồø Đàm thấy rằng, thân phạt đóng vai trò quan trọng nhất trong sự diệt trừ ác hành, trong sự không làm ác hành. Ngữ phạt không như vậy. Ý phạt là phần yếu kém nhất. Ngữ phạt và ý phạt không thể so sánh với thân phạt, cái mạnh nhất."

Khi ấy Upàli đang ở trong chúng hội cùng với 500 gia chủ. Ông chắp tay hướng về Kiền Tử và hỏi Trường Khổ Hạnh, có phải ông ta thực đã ba lần làm cho Sa-môn Cồ Đàm xác định vấn đề ấy. Khi Trường Khổ Hạnh trả lời phải, Upàli nói rằng ông ta có thể đè bẹp Sa-môn Cồø Đàm trong vấn đề này, lôi đi xềnh xệch. Rồi Upàli đưa ra bốn (?) ví dụ chỉ rõ ông sẽ lôi kéo Sa-môn Cồ Đàm trong cuộc tranh luận như thế nào: như một người mạnh nắm lấy bờm một con cừu đực mà lôi kéo thỏa thích; như một người mạnh nắm một tấm áo lông cừu, đập nó để giũ bụi; như một con voi chúa 60 tuổi, có ngà lớn, chân và thân khỏe mạnh, được một người đem đi tắm, rửa mông, lưng, bụng, vòi, đầu, và cho nó chơi trong nước. Kiền Tử tin tưởng Upàli sẽ thành công trong cuộc bài bác Sa-môn Cồ Đàm và giục ông ta ra đi. Nhưng Trường Khổ Hạnh lo sợ hậu quả của cuộc đàm thoại này và nói: "Sa-môn Cồø Đàm biết một chú thuật để dụ dẫn người ta trở thành Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, tín đồ nam nữ cư sĩ. Tôi sợ rằng gia chủ Upàli sẽ bị Sa-môn Cồ đàm dụ dỗ và trở thành đệ tử của ông ta." Ba lần Trường Khổ Hạnh bày tỏ nỗi lo sợ của ông, cả ba lần Kiền Tử trấn an bảo rằng, có thể có chuyện Sa-môn Cồø Đàm trở thành đệ tử của Upàli, nhưng không thể có chuyện Upàli thành đệ tử Cồ Đàm. Cuối cùng ông ta để cho Upàli đến thách đấu với đức Phật. Gia chủ Upàli đảnh lễ dưới chân Kiền Tử, đi quanh ông ta ba vòng, rồi ra đi.

P: Gần giống. Ni Kiền Tử khen ngợi Trường Khổ Hạnh như sau: "Lành thay, lành thay, Trường Khổ Hạnh đã trả lời Sa-môn Cồø Đàm. Đấy là một đệ tử đa văn, đã khéo hiểu giáo lý của bậc thầy mình. Làm sao một ý phạt nhỏ nhoi có thể bì kịp thân phạt to lớn? Quả thế, thân phạt đáng trách hơn, trong việc diễn tiến, thi hành việc ác. Ý phạt và ngữ phạt không bằng." Trong bản P, Upàli lập lại lời khen của Kiền Tử đối với Trường Khổ Hạnh và bày tỏ ý muốn đi thách đấu với đức Phật. Bốn ví dụ không giống nhau hẳn. Ví dụ thứ nhất cũng như trong bản C. Ví dụ thứ hai khác: "Như một người làm việc trong quán rượu nhúng một chiếc chiếu lớn trong một cái hồ sâu, cầm lấy bốn góc mà kéo." Ví dụ thứ ba cũng không giống: "Như một người chủ quán rượu mạnh mẽ, nắm lấy một góc của đồ lọc mà lắc qua lắc lại." Ví dụ thứ tư nói đến một con voi 60 tuổi, nhào vào trong một ao sâu và chơi trò phun nước. Sự lo sợ của Trường Khổ Hạnh giống nhau trong hai bản.

III. Sự đàm thoại giữa Upàli và đức Phật:

1) Sự gặp gỡ giữa Upàli và đức Phật:

C: Rồi Upàli đi đến nơi đức Phật, trao đổi lời chào hỏi với Ngài, ngồi qua một bên và khởi sự hỏi về câu chuyện giữa Trường Khổ Hạnh và đức Phật. Khi biết được đề tài cuộc đàm thoại, Upàli lập lại lời ca tụng mà ông đã thốt lên để ca tung Trường Khổ Hạnh trước đấy. Khi ấy đức Phật hỏi Upàli, nếu ông sẵn sàng muốn thảo luận để tìm hiểu chân lý, thì đức Phật cũng sẽ sẵn sàng để nói chuyện với ông. Upàli chấp thuận và cuộc đàm thoại bắt đầu.

P: Gần giống. C: trao đổi sự chào hỏi = P: bhagavantam abhivàdetvà.

2) Luận cứ của đức Phật:

Ví dụ 1: C1 = P2:

C: Giả sử có một người theo phái Ni Kiền đến, người ấy thích bố thí, hoan hỷ trong hạnh bố thí, không ham chơi đùa giải trí, tuyệt đối trong sạch và luôn luôn hành trì chú thuật. Nếu trong khi đi qua đi lại, người ấy giết rất nhiều sinh vật lớn nhỏ, sự sát sinh này có đem lại quả báo cho người ấy không? Upàli đáp: "Nếu người ấy cố ý giết, thì là một trọng tội; nhưng nếu người ấy làm một cách vô ý thức thì không phải là trọng tội." Khi ấy đức Phật bảo Upàli hãy suy nghĩ cẩn thận trước khi trả lời, vì những gì ông vừa nói trái ngược với những gì ông nói trước, những gì ông nói trước trái ngược với những gì ông vừa nói, trong khi Upàli đã hứa giữa chúng hội là sẽ thảo luận y cứ trên sự thật.

P: Bản P cũng nói một Ni Kiền Tử được chế ngự trong bốn cách chế ngự, nghĩa là, từ bỏ tất cả các loại nước chưa đun sôi, chỉ sử dụng nước đã đun sôi (hoặc đã từ bỏ tất cả ác hành), đã tránh tất cả ác hành, đã thực hiện tất cả sự chế ngự. Ni kiền tử ấy trong lúc đi lui đi tới, giết nhiều sinh vật nhỏ. Phần còn lại giống nhau. Ở đây bản P thêm : "Ý hành này thuộc về hình phạt nào?", và khi Upàli trả lời nó thuộc về ý phạt, đức Phật bảo ông phải suy nghĩ cẩn thận trước khi trả lời. Bản P thêm Upàli bảo, mặc dù đức Thế Tôn có nói gì, đối với ông ta thân phạt vẫn đáng trách hơn, trong sự diễn tiến và thực thi các việc ác.

Ví dụ 2: C2 = P1:

C: Nếu có một Ni Kiền đi đến, chỉ uống nước sôi, kiêng cử nước lạnh. Trong khi cần uống nước lạnh vì không có nước sôi, ông đã chết vì kiêng nước lạnh. Nơi tái sinh của ông ta sẽ là chỗ nào? Upàli trả lời, có một cõi trời gọi là "Ý trước". Nếu Ni Kiền ấy chết vì tâm ý còn ràng buộc, ông ấy sẽ được tái sinh trong cõi trời ấy. (Phần còn lại về lời cảnh cáo của Phật cũng như trong ví dụ thứ nhất).

P: Gần giống. Bản P thêm rằng Ni Kiền Tử ấy bị đau nặng. C: Ý trước = P: Manosattà. Phần còn lại cũng như trước.

Ví dụ 3: C3 = P3:

C: Giả sử có một người cầm một con dao. Người ấy nói ông muốn giết trong một ngày tất cả dân chúng thành Na Lan Đà, làm chúng biến thành một khối thịt, một đống thịt. Phật hỏi Upàli, người ấy có thể làm được như ý muốn không? Upàli trả lời không thể, vì Na Lan Đà là một nơi phồn thịnh đông dân cư, người ấy chỉ có nhọc xác một cách vô ích, không thể nào giết hết dân chúng của Na Lan Đà, biến chúng thành một khối thịt. Rồi đức Phật hỏi, nếu một Sa-môn, Bà-la-môn đến, người này có đại thần lực, vị ấy có thể do một tâm sân hận, biến toàn tỉnh Na Lan Đà ra tro hay không? Upàli trả lời, không chỉ một Na Lan Đà mà đến hai, ba, bốn Na Lan Đà, người ấy cũng có thể làm ra tro tất cả các xứ sở và dân chúng, với một tâm sân hận. Ở đây Upàli cũng được đức Phật cảnh cáo như trong ví dụ trước.

P: Gần giống, nhưng với nhiều chi tiết hơn. Nó thêm: "Trong một phút chốc, trong một giây lát. Không những một người mà 20, 30, 40, 50 người cũng không thể nào giết hết được dân chúng thành Na Lan Đà, biến chúng thành một đống thịt". Về trường hợp một Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông lực, bản P cũng gần giống, nhưng thêm: Sa-môn, Bà-la-môn ấy không chỉ làm cho một thành Na Lan Đà mà 10, 20, 30, 40, 50 Na Lan Đà hóa thành tro bụi với một tâm sân hận.

Ví dụ 4: C4 = P4:

C: Đức Phật hỏi Upàli, ông có nghe về nơi hoang vu lớn, rừng con sơn dương lui tới, nơi vắng vẻ của những con nai, nơi thanh bình, nơi rừng hoang, đã trở thành rừng hoang vắng vẻ? Khi Upàli trả lời có, đức Phật hỏi Upàli, ai đã làm cho những nơi vắng vẻ ấy trở thành nơi vắng vẻ? Upàli giữ im lặng, đức Phật thúc giục ông ta phải trả lời vì không phải là lúc giữ im lặng, và vì ông ta đã hứa thảo luận căn cứ trên sự thật. Upàli sau một lúc im lặng đã trả lời rằng, không phải vì ông ta muốn giữ im lặng, mà vì ông ta đang nghĩ đến một chuyện. Ông đang nghĩ rằng, Ni Kiền thật điên rồ và ngu si, không biết gì cả, đã lừa dối mình một thời gian dài, đã giục mình đi đến Sa-môn Cồø Đàm để trình bày vai trò ưu thắng của thân phạt trong sự không làm ác nghiệp. Nhưng nhờ đàm thoại với Sa-môn Cồ Đàm, ông ta đã vỡ lẽ rằng, do một tâm niệm sân hận của các vị trời, mà những nơi hoang vu này lại trở thành hoang vu.

P: Không giống. Cũng câu hỏi được Phật đặt ra cho Upàli, nhưng ở đây bốn khu rừng tên là Dandaka, Kàlinga, Mejjha và Màtanga trở thành khu rừng vì một tâm niệm giận dữ của các vị có thần thông trong rừng ấy. Phần còn lại cũng giống như trong ví dụ thứ nhất.

III. Upàli theo đức Phật:

1) Upali quy y Tam bảo lần thứ nhất:

C: Upàli bạch đức Phật rằng, bây giờ ông đã hiểu, đã biết, và ông công bố xin quy y Tam bảo, xin đức Phật nhận ông làm một đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến lúc mạng chung.

P: Ở đây Upàli trả lời rằng, ngay từ ví dụ đầu tiên, ông đã thỏa mãn với lời giải thích của Phật, nhưng ông giả vờ đóng vai chống đối Ngài để được nghe thêm nhiều giải thích khác nhau của Phật. Rồi ông ca tụng sự giải thích của Phật là kỳ diệu, tuyệt hảo như thường lệ, và công bố xin quy y Tam bảo, xin đức Phật nhận ông làm cư sĩ.

2) Quy y Tam bảo lần thứ hai:

C: Đức Phật khuyên Upàli hãy giữ im lặng, đừng công bố ồn ào vì bậc thượng nhân xem sự yên lặng là thù thắng. Upàli sau khi nghe lời khuyên này lại càng hoan hỷ hơn nữa, càng hài lòng với đức Thế Tôn, vì nếu ông ta xin làm đệ tử các Sa-môn, Bà-la-môn khác, họ sẽ trương cờ lọng ra mà công bố cho toàn thể Na Lan Đà biết là ông đã thành đệ tử của họ. Nhưng đức Phật lại khuyên ông giữ im lặng, đừng công bố gì cả. Rồi Upàli lại tuyên bố rằng từ nay trở đi, ông sẽ không để cho Ni Kiền vào nhà ông, ông chỉ mời bốn chúng đệ tử của đức Thế Tôn, nhưng đức Phật bảo Upàli rằng, Ni Kiền từ lâu đã được ông cùng gia đình tôn trọng, cung kính, nên bây giờ nếu họ đến, ông phải cho họ chút gì tùy theo khả năng của ông. Sau khi nghe lời khuyên ấy, Upàli bảo rằng, ông lại càng hoan hỷ và hài lòng với đức Thế Tôn hơn nữa, vì trước đây ông đã nghe nói đức Thế Tôn tuyên bố chỉ nên bố thí cho ngài và các đệ tử của Ngài mới có công đức lớn; bố thí cho người khác và đệ tử của người khác sẽ không đem lại công đức lớn. Khi ấy đức Phật dạy Ngài chưa bao giờ nói vậy, những gì Ngài thật sự nói ra là, nên bố thí cho tất cả mọi người tùy theo ý thích của mình. Bố thí cho những người không tinh tấn sẽ không đem lại quả báo lớn; bố thí cho những người có tinh tấn sẽ mang lại quả báo lớn. Khi ấy Upàli nói rằng, ông thề không làm gì cả, ông biết nên cho hay không nên cho các Ni Kiền. Rồi lần thứ hai ông công bố xin quy y Tam bảo và xin Phật nhận ông làm cư sĩ.

P: Không giống, ở đây đức Phật không khuyên Upàli nên giữ im lặng, mà khuyên ông trước khi làm gì hãy suy nghĩ kỹ. Khi nghe lời khuyên ấy Upàli tuyên bố ông càng hoan hỷ với đức Thế Tôn hơn nữa, vì nếu ông trở thành đệ tử người khác, họ sẽ trương cờ lên mà công bố cho toàn thể Nàlandà biết Upàli là đệ tử của họ. Ở đây bản P nói ngay rằng, Upàli xin quy y Tam bảo lần thứ hai, xin được làm đệ tử. Phần còn lại trong đoạn này ở bản C được để vào đoạn sau ở bản P.

3) Quy y Tam bảo lần thứ ba:

C: Rồi đức Thế Tôn thuyết pháp cho Upàli, khuyên bảo, làm cho ông phấn chấn, hoan hỷ, dùng nhiều cách để giảng pháp cho ông. Sau khi khuyên bảo, khích lệ, làm cho ông hoan hỷ, đức Phật giảng pháp theo cách mà chư Phật lần đầu tiên thuyết chánh pháp, làm cho người nghe hoan hỷ, như pháp thoại về bố thí, về giới, về sự sanh lên cõi trời, quở trách dục vọng đầy nguy hiểm, quở trách sinh tử là bất tịnh, ca tụng sự ly dục là thù thắng, chánh đáng và trong sạch. Đức Thế Tôn sau khi thuyết pháp cho ông như vậy, biết rằng tâm của Upàli được hoan hỷ, thỏa mãn, mềm mại, nhu nhuyến, được nâng cao, được nhất tâm, hết hoài nghi, hết chướng ngại, có thể đón nhận diệu pháp một cách mạnh mẽ. Rồi giống như chư Phật thuyết giảng tinh túy chân chính của Pháp, đức Thế Tôn giảng cho Upàli về khổ, nguồn gốc khổ, sự chấm dứt khổ và con đường chấm dứt khổ. Như một tấm lụa trắng (?) có thể ăn màu nhuộm dễ dàng, Upàli ngay tại chỗ ngồi, đã thấy được bốn chân lý cao cả khổ, tập, diệt, đạo. Thế là Upàli thấy pháp, được pháp, thực chứng pháp bạch tịnh, diệt trừ hoài nghi, vượt qua do dự, không có ai hơn ông, không còn lung lay, đã trú trong sự chứng quả, trở nên vô úy đối với pháp của đức Thế Tôn. Rồi Upàli đứng lên khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ đức Thế Tôn và lần thứ ba ông xin quy y Tam bảo, xin Phật nhận ông làm đệ tử.

P: Lý do thúc đẩy Upàli xin quy y lần thứ ba cũng giống như lý do được đặt ở đoạn trước trong bản C. Bản P bỏ lời tuyên bố của Upàli rằng, từ nay trở đi không sẽ không cho Ni Kiền Tử nào vào nhà ông, và chỉ đón tiếp bốn hạng đệ tử của đức Phật. Ở đây đức Phật khuyên Upàli nên bố thí cho các Ni Kiền Tử vì từ lâu gia đình ông đã giúp đỡ cho họ. Lời khuyên này làm cho Upàli càng hài lòng, hoan hỷ với đức Thế Tôn, vì ông đã nghe nói Sa-môn Cồ Đàm bảo rằng chỉ nên bố thí cho Ngài và đệ tử của Ngài, đừng bố thí cho người khác và đệ tử người khác; sự bố thí cho Ngài và đệ tử của Ngài sẽ có quả báo lớn; bố thí cho người khác và đệ tử người khác không đem lại quả báo lớn. Ở đây bản P bỏ lời phủ nhận của đức Phật. C: Upàli thề không làm gì cả, ông biết nên bố thí hay không nên bố thí cho các Ni Kiền = P: Upàli nói ông biết thời để làm việc ấy. Trong bản P, sau khi Upàli quy y Tam bảo lần thư ba, đức Phật thuyết pháp cho ông. Bản P bỏ: "Đức Thế Tôn khuyên bảo, làm cho ông phấn chấn, hoan hỷ....thuyết pháp cho ông." C: Phật giảng pháp theo cách mà chư Phật lần đầu tiên giảng diệu pháp, làm hoan hỷ những người nghe = P: Phật thuyết pháp theo thứ tự. C: như là pháp thoại về bố thí...thù thắng, chánh đánh và trong sạch = P: như là câu chuyện về bố thí, về giới, về cõi trời, về nguy hiểm của dục lạc, sự hạ liệt, ô nhiễm của nó; và về lợi lạc của xuất ly. C: Đức Thế Tôn sau khi giảng pháp cho ông như vậy, biết tâm Upàli đã được hoan hỷ, hài lòng, mềm mại, dễ sử dụng, nâng cao, nhất tâm, hết hoài nghi, hết chướng ngại, có thể mạnh mẽ tiếp nhận chánh pháp = P: Khi đức Thế Tôn biết tâm Upàli đã sẵn sàng, nhu nhuyến, hết chướng ngại, sung sướng, hoan hỷ. C: Như chư Phật đã giảng tinh yếu chân chính của Pháp, đức Thế Tôn cũng giảng về khổ, tập, diệt, đạo = P: Rồi Ngài giảng cho Upàli các pháp mà các bậc giác ngộ đã khám phá: khổ, tập, diệt, đạo. C: Như một tấm lụa trắng sẽ ăn màu một cách dễ dàng, ngay tại chỗ Upàli thấy được chân lý khổ, tập, diệt, đạo. Như vậy Upàli thấy pháp, được pháp, chứng ngộ pháp bạch tịnh, diệt trừ hoài nghi, vượt qua do dự, không có ai hơn, không còn do dự, đã an trú trong sự chứng ngộ quả, trở thành vô úy đối với pháp của đức Thế Tôn = P: Như một tấm vải sạch không còn vết đen, sẽ ăn màu nhuộm dễ dàng, cũng vậy gia chủ Upàli ngay tại chỗ ngồi, khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu : "Cái gì phải bị sinh thì cũng phải bị diệt." Như vậy gia chủ Upàli đã thấy pháp, đã chứng pháp, đã biết pháp, đã đi sâu vào pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã tẩy trừ sự do dự, đã đạt đến tịnh trí trong giáo lý của đấng đạo sư mà không cần người khác dẫn dắt. Ở bản C, sự chứng đắc của Upàli khiến ông công bố lời xin quy y Tam bảo lần thứ ba, nhưng ở bản P chỉ nói rằng Upàli thưa Thế Tôn, ông còn có nhiều việc phải làm.

IV. Upàli dặn dò người gác cổng - Kiền Tử đến thăm và thái độ của Upàli:

1) Upàli dặn dò người gác cổng:

C: Upàli sau khi đã khéo thọ trì lời dạy của đức Thế Tôn, cúi đầu dưới chân Phật, nhiễu quanh Ngài ba vòng, rồi về nhà. Tại đây ông bảo người gác cổng, bây giờ ông đã thành đệ tử của đức Thế Tôn, và từ nay trở đi, không được cho phép các Ni Kiền vào nhà ông. Chỉ có bốn hạng đệ tử của đức Phật được vào nhà, nếu các Ni Kiền đến, người gác cổng nên bảo họ đứng chờ bên ngoài cổng và hãy mang đồ ăn ra cho họ.

P: Gần giống. Trong khi bản C sử dụng một danh từ chung là Ni Kiền, bản P còn thêm các Ni Kiền nam và nữ.

2. Sự viếng thăm của Kiền Tử:

C: Tin tức về thái độ của Upàli đến tai Trường Khổ Hạnh; ông này đi đến Kiền Tử, thuật lại vấn đề cho ông ta và phàn nàn rằng, giáo chủ đã không để ý đến lời cảnh cáo của ông ta, nhưng Kiền Tử vẫn không tin mẩu tin ấy, vẫn nói rằng không thể nào có chuyện Upàli trở thành đệ tử Sa-môn Cồ Đàm, mà Sa-môn Cồ Đàm trở thành đệ tử Upàli thì có. Rồi ông sai Trường Khổ Hạnh đi đến nhà Upàli để thăm dò sự việc tận mắt. Trường Khổ Hạnh đi đến nhà Upàli, khám phá tiếng đồn là chân thật và về thuật lại cho Kiền Tử, nhưng Kiền Tử vẫn không tin. Ông cùng 500 đồ chúng đi đến nhà Upàli, gặp người gác cổng và người này đã thuật lại cho ông lời dặn dò của Upàli. Kiền Tử nói rằng ông không đến xin đồ ăn mà muốn gặp Upàli. Khi ấy người gác cổng bảo Kiền Tử hãy đợi ngoài cổng, để ông ta vào báo tin cho Upàli biết có Kiền Tử đến thăm.

P: Gần giống, với vài dị biệt nhỏ. Trong khi bản C nói một đám đông 500 Ni Kiền, bản P chỉ nói một số lớn Ni Kiền Tử, còn lại cũng giống nhau, với những dị biệt đã thấy ở trước.

3) Thái độ của Upàli và phản ứng của Kiền Tử:

a) Cách đón tiếp của Upàli:

C: Khi người gác cổng báo tin cho Upàli biết có Kiền Tử đem 500 đồ chúng đến thăm, Upàli ra lệnh cho gác cổng sửa soạn chỗ ngồi trong đại sảnh ở giữa. Khi chỗ ngồi đã sẵn, Upàli đi vào tòa đại sảnh chính giữa, ngồi lên chỗ ngồi đẹp nhất, cao nhất, sạch nhất đã soạn sẵn, và bảo người gác cổng đi gọi Kiền Tử và đồ đệ vào. Ông nói: Tôn giả, có chỗ ngồi đó, nếu muốn, xin ngài cứ ngồi." Khi ấy Kiền Tử bảo Upàli tại sao ông cư xử như vậy, ngồi kiết già như một Sa-môn, không khác tí nào. Upàli trả lời rằng, ông có những đồ vật, nếu muốn bố thí ông sẽ bố thí, nếu không muốn bố thí ông sẽ không bố thí. Những ghế ngồi này của ông ta, nên ông bảo: "Có chỗ ngồi đấy, nếu ông muốn ngồi, xin hãy ngồi."

P: Gần giống, với vài dị biệt nhỏ. Bản P thêm rằng trước đấy, mỗi khi Nàtaputta đến, Upàli thường đi ra đón ông, và giành chỗ ngồi cao nhất, tốt nhất cho ông, rồi dùng thượng y của mình để phủi bụi chỗ ấy. Bản P bỏ lời khiển trách của Nàtaputta về Upàli cư xử như một Sa-môn và câu trả lời của Upàli.

b) Cuộc đàm thoại giữa Kiền Tử và Upàli:

C: Kiền Tử khiển trách Upàli đã bị Sa-môn Cồ Đàm chinh phục, mặc dù Upàli đã định chinh phục Cồ Đàm; cũng như một người đi vào rừng để được mắt mà khi trở về lại mất cả hai con mắt; hoặc như người khát nước đi đến hồ rồi lại trở về vẫn còn khát. Upàli dẫn một ví dụ để trả lời Kiền Tử. Giả sử có một Bà-la-môn có người vợ trẻ có bầu. Chị ta bảo người ấy ra chợ mua một món đồ chơi cho đứa con sắp sanh, người Bà-la-môn bảo, nàng hãy đợi cho đến khi sanh con, nếu nó là con trai, anh ta sẽ mua đồ chơi cho con trai; nếu nó là con gái, sẽ mua đồ chơi con gái, nhưng bà vợ trẻ năn nỉ ba lần, và ba lần Bà-la-môn cố lý luận với nàng. Nhưng vì quá yêu vợ, cuối cùng ông hỏi bà thích loại đồ chơi gì. Bà bảo ông đi mua một con khỉ nhỏ. Khi người chồng mua về một con khỉ con, bà không thích màu lông của nó nên bảo chồng đem nó đến thợ nhuộm nhuộm thành màu vàng và đập giũ cho bóng. Người thợ nhuộm nói với ngưòi chồng, con khỉ này có thể nhuộm vàng, nhưng không thể đập cho bóng láng. Rồi ông đọc một bài kệ:

"Con khỉ có thể ăn màu nhuộm, nhưng không thể bị đập;

Nếu bị đập, nó sẽ chết; rốt cuộc không thể nào đập nó.

Cái túi đựng những đồ bất tịnh này có mùi thối;

Con khỉ đầy những bất tịnh.

Cũng thế lý thuyết Ni Kiền không thể chịu đựng nổi sự tra tầm, không thể được đem ra nghiền ngẫm và quán sát.

Nó có thể nhuộm kẻ ngu nhưng không bậc trí."

Khi ấy Upàli ví giáo lý của Phật như một tấm vải hàng Ba La Nại có thể ăn màu nhuộm đẹp nhất, mà cũng có thể đập cho bóng láng. Giáo lý của đức Như lai có thể chịu đựng sự tra tầm, có thể được nghiền ngẫm và quán sát. Nó có thể nhuộm (ảnh hưởng đến) bậc trí, nhưng không thể nhuộm người ngu.

P: Không giống hẳn. Nó thêm Nàtaputta gọi Upàli là đã điên rồ, ngu si khi bị vướng vào cuộc tranh luận lớn lao ấy. Ví dụ thứ nhất không giống. Nó nói đến một người làm nghề đi hoạn súc vật (andàhàrako?) và trở về chính mình lại bị hoạn. Ví dụ thứ hai giống ví dụ đầu trong bản C. Ví dụ về Bà-la-môn và cô vợ giống bản C, nhưng được đặt sau lời cáo buộc của Nàtaputta rằng Upàli đã bị Sa-môn Cồ Đàm dụ dỗ, trong khi ở bản C thì đặt ở trước. Bản P thêm rằng, người chồng đã già, cao tuổi, và tên người thợ nhuộm là Rattapàni. C: đập nó, làm cho nó láng bóng = P: đập xung quanh và cả hai mặt cho thật láng. Trong bản P, người thợ nhuộm không dùng bài kệ để trả lời Bà-la-môn. Ông ta chỉ nói rằng nó có thể ăn màu nhuộm, nhưng không thể đập và làm cho bóng láng cả hai mặt. C: Lý thuyết của Ni Kiền không thể chịu đựng sự tra tầm, không thể được nghiền ngẫm và quán sát; nó có thể nhuộm kẻ ngu chứ không người trí = P: Lý thuyết của Ni Kiền Tử ngu si, chỉ có thể nhuộm người ngu chứ không bậc trí, nó không thể đứng vững trước sự tra tầm, không thể được làm cho bóng láng. Trong ví dụ hai, bản P nói đến cũng người Bà-la-môn ấy vào một lúc khác đem một cặp áo quần đến cho Rattapàni nhờ nhuộm và đập, làm cho láng, trong khi bản C nói đến một ví dụ riêng.

c) Một cáo buộc khác từ Kiền Tử:

C: Kiền Tử cáo buộc Upàli đã bị bùa chú của Sa-môn Cồ Đàm dụ dỗ. Upàli trả lời rằng thần chú của Cồ Đàm thật tốt đẹp, vô cùng tốt đẹp, nó sẽ làm cho cha mẹ ông ta, vợ con, tôi tớ của ông ta, vua của xứ Na Lan Đà và tất cả chúng sinh trong những thế giới với chư thiên, ma, phạm, Sa-môn và Bà-la-môn, từ nhân loại cho đến chư thiên sẽ được thần chú dụ dỗ này làm cho hạnh phúc, an ổn và lợi lạc lâu dài.

P: Gần giống. C: bị thần chú dụ dỗ của Sa-môn Cồ Đàm dụ = P: bị dụ dỗ bởi huyễn thuật của Sa-môn Cồ Đàm. C: rất tốt, vô cùng tốt đẹp = P: rất lành, rất thiện. Bản C nói, cha mẹ ông ta, vợ con, tôi tớ của ông ta, vua của xứ Na Lan Đà và tất cả chúng sanh trong các thế giới với chư thiên, ma, phạm, Sa-môn và Bà-la-môn, từ nhân loại cho đến chư thiên = P: những huyết thống thân yêu, tất cả sát đế lợi và Bà-la-môn, thương gia, thợ thuyền, chúng sanh trong các cõi trời, cõi ma, cõi phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, trời và người.

Bài kệ của Upàli: xem ở trước, chương 7 (các bài kệ).

E. Phần kết

Ở đây bản C có phần kết thông thường, bản P không có.

CHƯƠNG III : VAI TRÒ CÁC NHÂN VẬT TRONG KINH
- NHỮNG CÁCH THUYẾT PHÁP

Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu so sánh 98 kinh, đề cập vai trò của các nhân vật khác nhau trong những kinh này cũng như những cách thuyết pháp. Ở đây chúng ta chỉ giới hạn việc nghiên cứu vào thái độ, oai nghi cử chỉ của những nhân vật trong kinh, còn giáo lý trong đó sẽ được đề cập rộng rãi trong những chương kế tiếp.
Các kinh có thể phân loại thành tám cách thuyết:
1- Phật thuyết pháp không có lý do nào rõ rệt;
2- Phật thuyết pháp để điều chỉnh một tà kiến của đệ tử hay người khác;
3- Phật thuyết pháp vắn tắt rồi một trong những đệ tử của Ngài khai diễn;
4- Phật thuyết pháp để đối đáp với những tông phái phi Phật giáo;
5- Phật thuyết pháp cho những Tỳ-kheo đệ tử;
6- Phật thuyết pháp cho các đệ tử cư sĩ của Ngài hoặc cho những người khác;
7- Những đệ tử của Phật tụ họp để bàn luận Phật pháp;
8- Một trong những đệ tử của Phật giảng toàn thể kinh.

1. Đức Phật thuyết pháp không có lý do rõ rệt:

Đôi khi đức Phật gọi các Tỳ-kheo đến rồi giảng pháp không có lý do rõ rệt cũng không do một cơ hội đặc biệt nào. Ở đây những người nghe phần lớn là Tỳ-kheo, tên của họ không được kể ra. Trong số 98 kinh NC, có 22 kinh được xếp vào loại này: NC 1, 2, 8, 9, 13, 14, 16, 17, 21, 28, 29, 32, 33, 34, 70, 71, 73, 75, 84, 85, 91, 93.

2. Đức Phật thuyết pháp để điều chỉnh một tà kiến nơi những đệ tử hoặc người khác:

Đôi khi một vài đệ tử Phật có tà kiến. Những Tỳ-kheo bạn cố sửa đổi nhưng không thành công, bởi vậy vấn đề được đưa đến trước đức Phật và Ngài triệu tập những người có lỗi để quở trách và nêu lên những lỗi lầm của họ. NC số 19, 27, 35, 47 thuộc về loại này.
Trong NC 27, C201, kinh Trà đế,nói đức Phật hỏi các Tỳ-kheo trước, rồi quở trách Tỳ-kheo Trà Đế (Ch'a-ti), và vị này hối hận. Trong P38, Ái tận đại kinh,Tỳ-kheo Sàti hối hận trước, rồi các Tỳ-kheo khác đáp câu hỏi của Phật. Bản C thêm: "Đức Phật thuyết kinh này xong, ba vạn thế giới chấn động ba lần."

Trong NC 35, một vị Phạm thiên trên cõi trời có tà kiến rằng cõi Phạm thiên là trường cửu. P49 thêm tên của vị Phạm thiên ấy là Baka. Trong C78, Phạm thiên thỉnh Phật, Phật biến mất khỏi Xá Vệ, Shêng-lin, Kei-ku-tu để đi đến cõi Phạm thiên. Trong P49, đức Thế tôn biến mất từ rừng Subhaga tại Ukkatthïà và hiện ra trong cõi Phạm thiên. Bản C nói khi đức Phật nhận ra Ác ma (Màra), thì Ác ma bị thua và biến mất tại chỗ, nhưng bản P ghi rằng Phật nêu lên cho Ác ma thấy rằng có thể Phạm thiên (Brahmà) và quyến thuộc của ông ta ở trong tầm tay của Ác ma, nhưng Phật thì không. Sự đấu phép thần thông của Phật và Ác ma cũng không giống nhau. Trong bản C, Phạm thiên dùng tất cả năng lực thần thông để cố ẩn nấp chỗ này chỗ kia nhưng đức Thế tôn đều thấy được ông ta, bởi thế ông không thể trốn mà phải trở lại trong Phạm thiên giới. Trong bản P, Phạm thiên Baka không thể biến mất trước mặt đức Phật. Trong bản C, Phật phóng hào quang chiếu khắp các Phạm thiên giới, và ẩn trong đó, làm cho Phạm thiên và quyến thuộc chỉ có thể nghe Ngài nói mà không thể trông thấy Ngài. Trong bản P, khi đức Phật biến mất, Ngài làm cho Phạm thiên, tùy tùng (Brahmaparisà) và quyến thuộc (Brahmapàrisajja) không trông thấy Ngài mà chỉ nghe Ngài nói bài kệ:

"Bị vướng vào hữu, ta đi tìm phi hữu.
Vì đã thấy nguy hiểm của hữu,
Ta không thích thú đối với hữu,
Và không dục hỷ trong đó."

Phạm thiên, tùy tùng và quyến thuộc của Phạm thiên sửng sốt kinh ngạc.

3. Phật thuyết pháp vắn tắt rồi một trong những đệ tử của Ngài khai diễn:

Tôn giả Xá-lợi-tử khai diễn lời Phật trong NC số 3, 95; Tôn giả Ca-chiên-diên (C:Chia-chan-yen; P: Mahàkaccàna) trong NC 15, 87, 92.
a) Tôn giả Xá-lợi-tử khai diễn:

Trong NC 3, C88, Cầu Pháp kinh,nói có nhiều đại đệ tử cư trú gần am tranh của Phật, như Tôn giả Xá-lợi-tử, Mục-kiền-liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca-chiên-diên, A-na-luật-đà (A-na-lu-t'o), Lệ Việt (Li-yueh), A Nan, nhưng P3, Thừa tự Pháp,bỏ mục này. Trong bản C, đức Thế tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-tử hãy giảng rộng lời Ngài dạy vì đức Phật đau lưng cần nghỉ ngơi chút đỉnh. Đoạn Ngài gấp tư y Uất đa la tăng (C: Yu-to-lo-sêng; P: Uttarà-sanga) mà trải lên giường, cuộn tròn y Tăng già lê (C: Sêng-chia-li; P: Sanghàti) làm thành một cái gối và nằm xuống hông bên phải, hai ống chân xếp chồng lên nhau, thiền định về quang tướng với chánh niệm tỉnh giác và luôn luôn nghỉ đến lúc thức dậy (69). Nhưng bản P chỉ nói rằng bậc Thiện thệ (Sugata) từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá. Trong bản C, Thượng tọa Xá-lợi-tử yêu cầu các Tỳ-kheo giải thích lời dạy vắn tắt của Phật, và hai Tỳ-kheo cố trả lời nhưng không thỏa đáng. Trong bản P, không có lời vắn tắt của Phật và sự trả lời của các Tỳ-kheo, mặc dù Tôn giả Xá Lợi Phất cũng đặt câu hỏi ấy. Sau khi Tôn giả Xá-lợi-tử giải thích xong, đức Thế tôn đã bớt đau lưng, cảm thấy dễ chịu, bèn ngồi dậy khoanh chân kiết già và ca ngợi Tôn giả Xá-lợi-tử. Những chi tiết này không có trong bản P.

Trong NC số 95, bản C nói Tôn giả Xá-lợi-tử đọc một bài kệ tóm tắt bài giảng của Ngài, còn bản P bỏ bài kệ nhưng lập lại lời công bố của sự chuyển Pháp luân tại Ba La Nại, Chư thiên đọa xứ, vườn Nai, lúc mở đầu kinh.

b) Tôn giả Ca-chiên-diên (Ta-chia-chan-yen) khai diễn:

Trong NC 15, đức Phật gặp một người gậy cầm tay tên Sakya muốn hỏi mục đích của giáo lý Ngài. Sự trả lời của đức Phật không làm ông ta thỏa mãn, ông ta không chấp thuận cũng không bác bỏ, đã cất cao đầu và bỏ đi. Trong bản P, bỏ câu "không chấp thuận không bác bỏ", nhưng thêm rằng "ông ta thụt lưỡi, nhíu mày tạo nên ba đường nhăn và tựa mình trên cây gậy". Trong bản C, chính đức Phật đưa ra ví dụ viên mật trong khi bản C lại nói là Tôn giả A Nan. Bản P bỏ chỗ nói Tôn giả A Nan đứng sau lưng đức Phật tay cầm phất trần. Bản P cũng bỏ lời đức Phật khích lệ các Tỳ-kheo ở cuối kinh.

Trong NC 87, Tôn giả San-mi-t'i(Samiddhi) đi đến suối nóng để tắm, khi tắm xong, ông ta gặp một vị tiên có dung sắc hoan hỷ đến đảnh lễ ngài và hỏi ngài có biết bài kệ Nhất dạ hiền giả (C: Pa-ti-lo-ti; P: Bhadde-karatta). Vị Tỳ-kheo nói không biết, vị tiên bảo rằng đức Thế tôn có biết bài kệ rồi khuyên Tỳ-kheo nên đi đến xin Thế Tôn giải thích. Rồi vị tiên đảnh lễ vị Tỳ-kheo, đi quanh ông ba vòng rồi biến mất. Bản Pali thêm rằng vị tiên chiếu sáng cả Tapodà với hào quang rực rở của mình nhưng bỏ qua chyện hỏi vị tỷ kheo về câu kệ và lời khuyên của vị tiên đi đến Thế Tôn. Bàn Pali chỉ đề cập rằng vị tiên khuyên vị tỷ-kheo nên học, tinh thông và ghi nhớ câu kệ đó ở trong lòng. Rồi vị tiên biến mất mà không có đảnh lễ và đi quanh vị tỷ-kheo ba vòng. Bản C nói tên của vị trời này là Chêng-tien, một vị binh tướng trong cõi trời 33, nhưng bản P bỏ chi tiết ấy.

4. Đức Phật thuyết pháp để đối phó các tông phái ngoại đạo :

Trong NC 39 và NC 65, đức Phật bác bỏ quan điểm của Ni Kiền Tử (Jainas); trong NC 6 và NC 61, 62, 64, Ngài bác bỏ lý thuyết và thực hành của những người bà la môn; và trong NC 10, 48, 50, 51, 52, Ngài đối phó với những du sĩ (paribbàjakas).
a) Đối phó với Ni Kiền Tử :

Trong NC 39, Ch'ang-k'u-hsing (Dìghatapassi), Ni Kiền Tử bện tóc có một cuộc đàm luận với Phật, trong đó ông ta trình bày lý thuyết của Ni Kiền Tử (Ch'in-tzu) về hình phạt và vai trò chính yếu của thân phạt trong bất cứ hành vi tội lỗi nào. Nhưng đức Phật trình bày lý thuyết của Ngài về nghiệp và vai trò chính yếu của ý nghiệp trong bất cứ tà hạnh nào. Ni Kiền Tử bện tóc thuật lại cuộc đàm thoại ấy cho thầy của mình (Ch'in-tzu) trước mặt Ưu Ba Ly (Yu-p'o-li). Trong khi ở bản P, Ưu Ba Ly (Upàli) lặp lại lời ca tụng của Ni Kiền Tử (Nàtaputta) tán dương Bện tóc (Dìgha-tapassi) và tỏ ý sẵn sàng đến đối chất với đức Phật, bản C thêm rằng Ưu ba ly cùng đi với 500 cư sĩ trong hội chúng. Ông ta chắp tay hướng về Ni Kiền Tử và hỏi Bện tóc có phải ông ta đã thực sự hạ Sa-môn Cồ Đàm (Ch'u-t'an) ba lần trong vấn đề này. Khi Bện tóc trả lời phải, Ưu Ba Ly nói : vậy thì ông ta cũng có thể đánh bại Sa-môn Cồ Đàm trong vấn đề này và kéo ông ta xuống. Khi ấy Ưu Ba Ly đến thách thức đức Phật, trước sự chấp thuận của vị thầy Ni Kiền Tử và trước sự sợ hãi, bất đồng của Bện tóc. Đức Phật với bốn ví dụ đã làm cho Ưu Ba Ly đổi ý và theo quan điểm của Ngài. Trong ví dụ thứ tư, khi đức Phật hỏi ai đã khiến cho những nơi thanh tịnh này trở thành thanh tịnh, theo bản C, Ưu Ba Ly im lặng một lát, và khi đức Phật hỏi lại một lần nữa, ông ta đã trả lời rằng, không phải ông muốn giữ im lặng, mà chính ông đang nghĩ đến một điều. Ông nghĩ rằng Ni Kiền Tử (Ni-chien) thật điên rồ, ngu si và đã lừa bịp ông ta trong một thời gian dài. Trong bản P, Ưu Ba Ly (Upàli) trả lời ngay rằng những khu rừng này Kandaka, Kàlinga, Mejjha Màtanga trở thành rừng là do những ý tưởng sân hận của những vị trông coi những khu rừng đó. Ở cuối bài kinh, bản C thêm rằng Ưu Ba Ly đạt đến Pháp nhãn ly trần vô cấu, còn Ni Kiền Tử hộc máu tươi, phải đi đến Po-ho (Pàvà) và bệnh chết ở đấy. Bản P bỏ chi tiết về cái chết của Ni Kiền Tử và chỉ nói ông ta hộc ra máu tươi.

b) Đối phó với cách tu và quan điểm của các bà la môn :

Trong NC 6, đức Phật bác bỏ tập tục tắm nước thiêng của những người bà la môn, được xem là để rửa sạch tội lỗi. Kinh C93,Thủy tịnh Phạm chí,nhắc đến bà la môn Thủy Tịnh (Shui-ching) ngay ở đầu kinh, trong khi P7, Ví dụ tấm vải,chỉ nói đến sự hiện diện của bà la môn Sundarika-bhàradvàja vào cuối bản kinh. Trong bản C, vị bà la môn ấy xin quy y Tam bảo và xin Phật nhận ông làm đệ tử. Nhưng trong bản P, Sundarika Bhàradvàja xin đức Phật cho ông được xuất gia và thọ đại giới. Khi lời yêu cầu của ông được chấp thuận, ông nỗ lực tinh cần tu tập và cuối cùng đã đắc quả A-la-hán.

Trong NC 61, kinh C151, Phạm chí A nhiếp hòa,nói rằng một số đông bà la môn tại Chu-sa-lo (Kosala) tụ tập trong giảng đường và đang bàn bạc lời công bố của Sa-môn Cồ Đàm (Ch'u-t'an) về sự thanh tịnh của bốn giai cấp, trong khi họ tuyên bố rằng chỉ có giai cấp bà la môn là cao nhất và thanh tịnh nhất. Họ chọn thanh niên bà la môn tên A Nhiếp Hòa (A-shê-ho-lo-yen-to) đến chất vấn đức Phật. Nhưng kinh P93, Assalàyana,nói rằng 500 bà la môn thuộc nhiều vùng khác nhau đến Xá Vệ vì một vài công việc, và họ chỉ nhắc đến lời công bố của Sa-môn Cồ Đàm về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Có thêm rằng thanh niên Assalàyanamới 16 tuổi, đầu tóc cạo. Trong bản C, thanh niên A Nhiếp Hòa nhận lời bằng cách im lặng, trong khi ở bản P, Assalàyana nói rằng quả thật Sa-môn Gotama nói phù hợp với pháp (dhamma), và thật khó mà tranh luận với người nào nói đúng pháp, và anh ta cũng không thể tranh luận với Sa-môn Gotama. Tuy thế anh ta cũng sẽ ra đi như được yêu cầu. Sau khi nghe những luận cứ của đức Phật, theo bản C, thanh niên A Nhiếp Hòa muốn đảnh lễ Phật nhưng hội chúng la lớn tỏ vẻ kinh ngạc và thán phục. Đức Phật biết tâm họ nên bảo thanh niên hãy trở về chỗ ngồi, dạy rằng chỉ cần tâm anh ta vui mừng là đủ. Rồi đức Phật giảng pháp làm cho anh ta hoan hỷ, thích thú, phấn chấn. Bản P chỉ nói rằng Assalàyana thốt lên rằng thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, rồi xin đức Phật nhận mình làm đệ tử từ nay cho đến trọn đời.

Trong NC 64, kinh P 99, Subha,có thêm một cuộc gặp gỡ giữa Subha và bà la môn Jànussonì, bà la môn hỏi Subha từ đâu đến và hỏi về trí tuệ của Sa-môn Gotama. Sự trả lời và những lời ca tụng của Subha đã khiến bà la môn xuống khỏi chiếc xe bạch mã, trật vai áo, chắp tay hướng về đức Thế tôn và bảo rằng thật là lợi ích lớn, thật là tốt cho vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) xứ Kosala vì có Như lai (Tathàgata) sống trong vương quốc của nhà vua. Bản C bỏ cuộc gặp gỡ này.

c) Đối phó với các ngoại đạo khác :

Trong NC 10, theo kinh C 99, Khổ ấm, các Tỳ-kheo sau khi ngọ trai xong đã tụ họp tại giảng đường vì một vài công việc. Tại đây có một số lớn tín đồ ngoại đạo đến chất vấn họ. Trong kinh P13, Đại khổ uẩn, thì các Tỳ-kheo khi vào thành Xá Vệ (Sàvatthi) khất thực, thấy hãy còn sớm nên đến trú xứ của các du sĩ (paribbàjakas), và cuộc đàm luận đã xảy ra.

Trong NC48, Hsu-hsien-t'i(du sĩ Màgandiya) trông thấy đệm cỏ của Phật ngồi trong nhà bà la môn P'o-lo-p'o (Bhàradvàjagotta) thì rất khó chịu và lên án đức Phật là một người phá hoại (Huai-pai-ti: )(70) . Bà la môn Bà La Bà (P'o-lo-p'o) cảnh cáo du sĩ Hsu-hsien-t'ođừng có nói xấu đức Phật, nhưng du sĩ nói rằng ông cũng sẽ nói như vậy ngay trước mặt Sa-môn Cồ Đàm. Trong kinh C 153,Man nhàn đề, đức Phật lúc ấy đang ngồi thiền trong một ngôi rừng xa; với thiên nhĩ, Ngài nghe được lời ấy nên đi đến nhà Bà la môn Bà-la-bà kia trải tọa cụ ngồi kiết già. Khi bà la môn ra chào, đức Phật hỏi có phải thật ông ta có đàm thoại với du sĩ về đệm cỏ của Ngài không. Bà la môn nói ông muốn báo cho Phật biết nhưng Phật đã biết trước rồi. Ngay lúc ấy du sĩ đến, và cuộc đàm luận xảy ra. Bản P bỏ tất cả chi tiết Phật mang theo tọa cụ và trải ngồi, đẹp đẽ và rực rỡ như trăng sao; nhưng thêm rằng du sĩ Bhàradvàjagotta bị dao động lông tóc dựng ngược khi nghe nói đức Phật đã biết được tư tưởng của mình. Trong bản C, sau khi đức Phật giảng pháp, du sĩ đạt được Pháp nhãn ly trần vô cấu. Rồi ông ta xin Phật cho phép xuất gia học đạo và thọ giới Tỳ-kheo. Rồi đức Phật truyền giới cho ông ta, nói rằng: "Lành thay, Tỷ kheo, hãy sống đời sống phạm hạnh." Sau khi xuất gia làm tỷ-kheo, Hsu-hsien-t'i đắc quả A-la-hán. Bản P bỏ chi tiết du sĩ Màgandiya được Pháp nhãn; nhưng thêm sự tán thán của Màgandiya như thường lệ và xin quy y Tam bảo của ông ta. Ở đây cũng vậy, Màgandiya xin đức Phật cho ông ta thọ giới Tỳ-kheo. Phật bảo những người thuộc giáo phái khác cần trải qua bốn tháng thử thách, nhưng Phật biết rõ sự khác nhau giữa những con người, và Ngài đã cho phép Màgandiyaxuất gia làm Tỳ-kheo. Bản P cũng nói Màgandiya đắc quả A-la-hán nhưng với nhiều chi tiết hơn, và kết luận rằng Trưởng lão Màgandiya trở thành một vị A-la-hán nữa.

Trong NC số 52, Bệ Ma Na Tu (C: Pei-mo-na-hsiu; P: Vekhanassa) nói với đức Phật về dung sắc "vanna" tối thượng. (Danh từ Pàli vanna,dịch là dung sắc, được sử dụng ở đây với hai nghĩa, màu sắc và giai cấp xã hội, nhưng danh từ dung sắc trong Hoa ngữ thì rõ ràng không có hai nghĩa như thế). Nhưng đức Phật nêu lên sự trống rỗng của một quan điểm như vậy. Bản C thêm một đoạn trong đó Bệ Ma Na Tu tỏ thái độ hối hận im lặng hổ thẹn cúi đầu. Khi Bệ Ma Na Tu ca tụng sự giải thích của Phật, Phật ngăn ông lại, bảo rằng vì thuộc vào một quan điểm khác, ông ta không thể hiểu được lời giảng dạy của Ngài, Bệ Ma Na Tu phẫn nộ mạ lỵ đức Phật. Kinh Pali Vekhanassacũng tương tự nhưng bỏ chi tiết Phật ngăn lại. Rồi Phật dùng ba ví dụ (bản P chỉ có một) làm sáng tỏ giáo lý của Ngài và cuối cùng cảm hóa được Bệ Ma Na Tu. Ở đây bản C nói Bệ Ma Na Tu đắc Pháp nhãn vô cấu và xin Phật xuất gia. Sau khi xuất gia, ông nỗ lực tinh tiến và đắc quả A-la-hán. Trong bản P, Vekhanassa tán thán sự giảng dạy của Phật như thường lệ, xin quy y Tam bảo, xin đức Phật nhận ông làm đệ tử tại gia.

5. Phật thuyết pháp cho đệ tử:

Có 28 NC rơi vào loại này:
- Giảng cho một Tỳ-kheo, NC 5;
- Cho một số Tỳ-kheo, NC 22,74;
- Cho Tôn giả La Vân (C: Lo-yun; P: Ràhula), NC 40;
- Cho Man Đồng Tử (C: Man-tun-tzu; P: Màlunkyaputta), NC 41,42;
- Cho A-na-luật-đà (C: A-na-lu-t'o; P: Anurudha), Nan Đề (C: Nan-t'i; P: Nandiya), Kim Tỳ La (C: Chin-p'i-lo; P: Kimbila), NC 25,45,83;
- Cho Ma-ha-nam (Mahànàma), NC 11;
- Cho Mou-li-p'o-ch'un-na(Moliyaphagguna), NC 18;
- Cho Bạt-đà-hòa-lợi (C: Po-t'o-ho-li; P: Bhaddàli), NC 43;
- Cho Ưu-đà-di (C: Wu-t'o-i; P: Udàyì), NC 44;
- Cho A Nan, NC 53, 55, 67, 72, 76, 78, 98;
- Cho A Nan và chú tiểu Chu Na (C: Chouna; P: Cunda), NC 66;
- Cho A Nan và nhiều Tỳ-kheo, NC 77;
- Cho Lại-tra-hòa-la (C: Lai-cha-ho-lo; P: Ratthapàla), NC 54;
- Cho Fou-mi(Bhùmija), NC 81;
- Cho Lu-i-ch'iang-ch'i (Lomasakangiya), NC 88;
- Cho San-mi-t'i (Samiddhi), NC 90;
- Cho Fu-chia-lo-so-li (Pukkusàti), NC 94;
- Cho Đại Chu Na (C: Ta-chou-na; P: Mahàcunda), NC 7;
- Cho chú tiểu A-i-na-ho-t'i(Aciravata), NC 80.

a) Cho một vị Tỳ-kheo:

Trong NC 5, (P6,kinh Ước nguyện = C 105,kinh Nguyện) có một Tỳ-kheo trong lúc ngồi nơi vắng vẻ, đã tư duy về lợi ích lớn của Phật đối với mình, đã rời chỗ ngồi đứng lên đi đến nơi Phật. Đức Thế tôn sau khi trông thấy Tỳ-kheo này, đã nhân vì ông mà thuyết pháp cho các Tỳ-kheo. Bản P bỏ hoàn cảnh đặc biệt này. Phật thuyết pháp không có một dẫn nhập nào cả.

b) Cho một số Tỳ-kheo:

Trong NC 22 (P26, Thánh cầu = C204,La ma) , Phật đang ở Lộc Mẫu giảng đường (Lu-tzu-mu). Vào buổi chiều, Ngài rời khỏi tòa ngồi đứng lên, từ trên lầu đi xuống và bảo Trưởng lão A Nan cùng đi tắm ở sông A-i-lo-p'o-t'i (Aciravati). Rồi Trưởng lão A-nan cầm chìa khóa đi đến các Tỳ-kheo đang ở trong những chòi của họ và bảo họ đi đến nhà bà la môn La Ma (C: Lo-mo; P: Rammaka). Khi ấy đức Phật và Trưởng lão A Nan xuống sông tắm. Sau khi tắm xong, Phật lên khỏi nước, lau khô thân thể và mặc y. Bản P khởi đầu với đức Phật ở tại Xá Vệ, vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Rồi đức Phật đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Nhiều Tỳ-kheo đi đến Tôn giả A Nan, thưa rằng họ muốn được trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, vì đã lâu họ không có được cơ hội ấy. Tôn giả A Nan bảo họ đi đến nhà bà la môn Rammaka. Khi Phật khất thực về và dùng bữa xong, Ngài cùng Trưởng lão A Nan đi đến Pubbàràma ở vườn của Lộc Mẫu (Migaàramàtu) để nghỉ ban ngày. Vào buổi chiều Phật ra khỏi độc cư thiền tịnh rồi cùng với Trưởng lão A Nan đi đến Pubbakotthaka để ngâm chân tay. Sau khi tắm rửa, Phật ra khỏi nước, đứng trên bờ với một tấm y (cìvara) độc nhất để phơi tay chân. Rồi theo lời yêu cầu của Tôn giả A Nan, Phật đi đến nhà Lo-mo (Rammaka) để thuyết pháp.

c) Cho Tôn giả La Vân (C: Lo-yun; P: Ràhula) :

Trong NC 40, C14, La vân kinh, khi đêm đã tàn, vào sáng sớm Phật đi vào thành Vương Xá (Wang-shê) khất thực. Sau khi ăn xong, Ngài đi đến rừng Suối nóng, nơi có Tôn giả La Vân. Tôn giả La Vân trông thấy Phật từ xa đến, đi ra đón Ngài, cầm lấy y bát, trải tọa cụ và lấy nước rửa chân. Đức Phật rửa chân xong, ngồi trên chỗ ngồi của La Vân đã soạn sẵn. Trong P61, Ambalatthikàràhulovàda,đức Phật vào buổi chiều ra khỏi độc cư thiền tịnh, đi đến Ambalatthikà, nơi Tôn giả Ràhula ở. Tôn giả Ràhula, khi thấy đức Phật từ xa đến, đã sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân nhưng không đi ra đón Ngài và đỡ lấy y bát. Đức Phật ngồi trên chỗ đã soạn và rửa chân. Để quở trách Tôn giả La Vân, đức Phật đã chỉ một ít nước còn trong chậu, rồi đổ nó đi, lật úp cái chậu và lật ngửa trở lại, và cứ mỗi lần như thế Ngài răn dạy Tôn giả. Bản P thêm một thái độ thứ năm của đức Phật là chỉ ra sự trống rỗng trong cái chậu lật ngửa và tuyên bố rằng cũng trống rỗng như thế là hạnh Sa-môn của người cố ý nói dối mà không biết hổ thẹn.

d) Cho Tôn giả Man Đồng Tử (C: Man-tun-tzu; P: Màlunkyaputta) : NC 41, NC 42:

Trong NC 42 (P64,Mahàmàlunkya, Đại kinh Màlunkya = C205, Ngũ hạ phần kết), đức Phật quở trách Man-đồng-tử về sự hiểu sai của ông đối với năm kiết sử trói buộc con người vào đọa xứ và Man-đồng-tử tỏ thái độ hối hận. Khi ấy Tôn giả A Nan đang đứng sau đức Phật và quạt cho Ngài, đã yêu cầu đức Phật giải thích năm kiết sử, và đức Phật đã chấp thuận lời yêu cầu của Tôn giả A Nan. Trong bản P, đức Phật không công khai quở trách Màlunkyaputta. Cũng không có thái độ hối hận của Màlukyaputta, không có chi tiết về Tôn giả A Nan đứng sau lưng Phật và quạt cho Ngài.

e) Cho Tôn giả A-na-luật-đà (C: A-na-lu-t'o; P: Anuruddha), Nan Đề (C: Nan-t'i; P: Nandiya) và Kim Tỳ La (C:Chin-p'i-lo; P: Kimbila): NC 25, 45, 83:

Không có nhiều khác biệt giữa hai bản trong NC 25 (P31, Tiểu kinh rừng Sừng bò=C 185, Ngưu giác sa la lâm kinh) và NC 45 (P68, Nalakapàna = C77, Sa kê đế tam tộc tánh tử kinh).

Trong NC 83, theo bản C 72,Trường thọ vương bản khởi kinh,muốn giảng hòa các Tỳ-kheo ở Câu Xá Di (C: Chu-shê-mi; P: Kosambì), Phật đã kể câu chuyện dài về sự tha thứ của vua Phạm chí (C:Fan-mo-ta-to; P: Brahmadatta) cho vua Trường thọ (C: Ch'ang-shou; P: Dìghìti), nhưng câu chuyện này không có ảnh hưởng gì các Tỳ-kheo ở Câu Xá Di. Khi ấy đức Thế tôn đọc lên một bài kệ cho thấy rõ sự vô vọng, ngu ngốc của gây gỗ và xúc phạm nhau. Kinh P128 không giống. Kinh này cũng nói các Tỳ-kheo ở Kosambì (Câu Xá Di) tranh chấp nhau, đã thương nhau với binh khí miệng lưỡi, nhưng thêm rằng một Tỳ-kheo đến tường thuật sự việc với đức Thế tôn và Ngài đã đến khuyên bảo họ đừng gây nhau. Ba lần đức Phật khuyên bảo, và cả ba lần đều có một Tỳ-kheo yên cầu Ngài đừng can thiệp vì họ sẽ chịu trách nhiệm về cuộc gây gổ này. Ở đây bản P bỏ câu chuyện về vua Phạm chí. Theo bản C, đức Thế tôn, sau khi đọc bài kệ đã vận thần thông bay lên không để đi đến làng Bà-la-lâu-la (P'o-lo-lou-lo). Tại đấy có một Tỳ-kheo tên Bà Cửu (C: P'o-chiu; P: Bhagu) đêm ngày chuyên tâm thiền định và Phật đã giảng pháp cho ông. Sau đó Ngài vào rừng Hộ Tự (Hu-szu) ngồi kiết già dưới một gốc cây, tại đó Ngài gặp một con voi chúa cũng đi tìm sự cô tịch để thoát ly những huyên náo của đàn voi. Bản P chỉ nói đức Phật gặp Tỳ-kheo Bhagu, không nói gặp con voi; cũng không có chi tiết đức Phật bay trên không. Phần còn lại hai bản gần giống nhau.

f) Cho Tôn giả Ma-ha-nam (C: Mo-ho-nan; P Mahànàma) :

NC 11: (P14, Tiểu kinh khổ uẩn = C100, Khổ ấm kinh):

Hai bản gần giống nhau.

g) Cho Moliya (C: Mou-li-p'o-ch'un-na; P: Moliyaphagguna):

NC 18: (P21, Ví dụ cái cưa = C193, Mâu lê phá quần na):

Hai bản gần giống nhau.

h) Cho Tôn giả Bạt-đà-hòa-lợi (C: P'o-t'o-ho-li; P: Bhaddàli) :

NC 43: (P 65, Bhaddàli= C 194, Bạt-đà-hòa-lợi) :

Hai bản gần giống nhau.

i) Cho Ưu-đà-di (C: Wu-t'o-i; P: Udàyì) :

NC 44: (P 66 Ví dụ con chim cáy = C192, Ca lâu ô đà di):

Không có gì khác nhau lắm giữa hai bản kinh. Trong khi bản C nói về một Tỳ-kheo nào đó đi khất thực về đêm, bản P nói rõ chính là Ưu-đà-di.

j) Cho Tôn giả A Nan:

NC 53, 55, 67, 72, 76, 78, 98:

Trong NC 53, (P81,Ghatikara= C63,Bệ bà lăng kỳ), NC 67 ( P106, Bất động lợi ích = C75, Tịnh bất động đạo kinh), hai bản gần giống nhau. Trong NC 55, kinh C67,Đại thiên nại lâm, dịch từ Ta-t'iencó nghĩa là "Mahàdeva: Đại-thiên" trong khi P83, kinh Makhàdeva Makhàdeva.

Trong NC 72, (P115,Bahudhàtuka= C181,Đa giới kinh), Tôn giả A Nan trong lúc ngồi thiền đã có được tri kiến rằng tất cả sợ hãi, rối ren, tai nạn, sầu ưu đều do vô minh, không do trí tuệ. Tôn giả trình bày ý tưởng ấy với đức Phật và Ngài đồng ý, đưa ra một định nghĩa về một Tỳ-kheo ngu si và một Tỳ-kheo có trí tuệ. Bản P bỏ chi tiết Tôn giả A Nan ngồi thiền, thuật ý tưởng của mình cho đức Phật và sự chấp thuận của đức Phật. Ở đây đức Phật gọi các Tỳ-kheo và dạy rằng mọi sợ hãi, rắc rối, tai nạn đến với người ngu, không phải với người trí. Rồi Ngài khuyên các Tỳ-kheo hãy tu tập để trở thành có trí tuệ nhờ trạch pháp. Ở đây bản P thêm Trưởng lão A Nan hỏi đức Phật đến mức nào thì đủ để gọi là một Tỳ-kheo có trí nhờ trạch pháp.

Trong NC 78, (P123, Acchariyabbhutadhamma= C32, Vị tằng hữu pháp), Tôn giả A Nan sau khi ra khỏi thiền định vào buổi chiều đi đến đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên và kể ra những đức tính kỳ diệu của đức Phật. Trong bản P, một số đông Tỳ-kheo sau khi khất thực về ăn xong, tụ họp trong giảng đường và ca tụng đức Như lai (Tathàgata) thật kỳ diệu, có thần thông, biết được chư Phật về trước. Tôn giả A Nan xác nhận lời các Tỳ-kheo nói chư Như lai có nhiều đức tính kỳ diệu. Câu chuyện này được Phật cắt ngang lúc Ngài vừa ra khỏi độc cư thiền tịnh. Ngài hỏi các Tỳ-kheo đang đàm luận về điều gì, họ trình lại với Phật, khi ấy Phật bảo Tôn giả A Nan kể lại những đức tính kỳ diệu của đức Thế tôn.

Trong NC 98, ( P148, Chachakka = C86, kinh Thuyết xứ ), Tôn giả A Nan vào buổi chiều ra khỏi thiền định, đưa các Tỳ-kheo trẻ cùng đi đến đảnh lễ Phật và hỏi đức Thế tôn làm thế nào để dạy dỗ, khích lệ các Tỳ-kheo trẻ. Rồi Đức Phật giảng nhiều pháp môn cho những tỷ kheo trẻ. Bản P hoàn toàn không có chi tiết Tôn giả A Nan và các Tỳ-kheo trẻ, chỉ nói đức Phật cho gọi các Tỳ-kheo rồi giảng pháp.

k) Cho Tôn giả A Nan và chú tiểu Chu Na (C: Chou-na; P: Cunda) :

NC 66: ( P104, kinh Làng Soma= C196,Châu na kinh).

l) Cho Tôn giả A Nan và nhiều Tỳ-kheo:

NC 77: (P122, Mahàsunnatà= C191, Đại không kinh):

Cả hai bản dịch gần giống nhau trong NC 66, 77.

m) Cho Lại-tra-hòa-la (C: Lai-cha-ho-lo; P: Ratthapàla) :

NC 54: (P82, Ratthapàla= C132, Lại-tra-hòa-la kinh):

Câu chuyện Lại-tra-hòa-la không giống nhau trong hai bản. Lại-tra-hòa-la nghe đức Phật thuyết pháp, xin xuất gia, đức Phật từ chối vì chưa có phép cha mẹ, cha mẹ không bằng lòng cho xuất gia, Lại-tra-hòa-la tuyệt thực để gây áp lực đối với cha mẹ, cha mẹ nhượng bộ, Lại-tra-hòa-la xuất gia thọ giới và đắc quả A-la-hán, tất cả những chi tiết này đều giống nhau trong hai bản. Khi ấy Tôn giả Lại-tra-hòa-la vào sáng sớm cầm y bát đi vào làng Thâu Lô Tra (Yu-lu-cha) để khất thực, nghĩ đến đức Thế tôn khen ngơi hạnh tuần tự khất thực nên ông đi từng nhà và đến nhà cha, lúc ấy người cha đang tỉa râu tóc, khi trông thấy Tôn giả ông nói: "Bọn Sa-môn trọc đầu này chuyên làm việc hắc ám, không có con, không người kế tự, những kẻ phá hoại gia đình ta. Ta có một đứa con trai yêu quý, nhưng chúng đã đem đi mất và cạo trọc đầu nó, đừng cho Sa-môn này cái gì để ăn cả." Thế là Lại-tra-hòa-la không nhận được một sự bố thí nào từ nhà cha mình, ngoại trừ lời chưởi rủa. Khi ấy một người tớ gái đem ra một rỗ đầy thức ăn thối để đổ vào đống rác. Lại-tra-hòa-la trông thấy cô ta bèn yêu cầu đổ thức ăn ấy vào bát của mình. Khi người tớ gái đem đồ ăn đổ vào bát khất thực, cô nhận ra ngài nhờ giọng nói và chân tay. Cô đi vào báo cho người cha, được tin ông hết sức vui mừng. Tay phải cầm áo, tay trái vuốt râu tóc, ông vội vàng đi đến chỗ Lại-tra-hòa-la đang ngồi tựa vào một bức tường để ăn thức ăn đã thối. Người cha hỏi con trai sao có thể ăn được thức ăn thối ấy khi con ông vốn có thân thể mềm mại và đã quen với mỹ vị cao lương. Ông cũng hỏi con trai sao không đi vào nhà cha mẹ mình. Lại-tra-hòa-la trả lời ông có vào nhà cha mẹ, nhưng không nhận được gì ở đấy, ngoại trừ lời nguyền rủa. Người cha xin lỗi con trai, kính cẩn đưa ông vào nhà, trải chỗ và mời ngồi. Sau đó ông báo tin cho mẹ Lại-tra-hòa-la và bảo bà dọn cơm cho con. Bà vui vẻ đi làm thức ăn. Rồi bà chất một đống lớn những đồng tiền ra giữa sân, lớn đến nỗi một người đứng bên này không trông thấy người đứng bên kia. Rồi bà đi đến Lại-tra-hòa-la mà bảo đống tiền này là của mẹ dành cho ông, còn tiền của cha dành cho ông thì vô số, không thể đếm hàng trăm, hàng ngàn. Tất cả tiền này dành cho ông nếu ông hoàn tục. Lại-tra-hòa-la khuyên mẹ hãy đem tiền ấy đổ xuống sông vì chính do tiền này mà người ta trải qua đau khổ, tuyệt vọng. Khi ấy bà mẹ biết không thể đem tiền mà dụ ông hoàn tục. Rồi bà bảo những người vợ trước kia của ông mặc đồ đẹp và trang sức các chuỗi đeo cổ, đi đến nơi ông, ôm chân ông mà nói: "Hỡi người chồng tệ bạc, có những tiên nữ nào đẹp hơn chúng tôi để cho ông vì họ mà đi tu?" Những bà vợ cũ của Lại-tra-hòa-la theo lời chỉ dẫn của mẹ chồng. Nhưng Lại-tra-hòa-la gọi họ bằng chị và bảo ông xuất gia không phải vì tiên nữ nào hết, chỉ vì để được Phật pháp, và bây giờ mục đích của ông đã thành tựu. Những bà vợ đứng lên khóc lóc bảo rằng họ không phải chị nhưng Lại-tra-hòa-la lại gọi họ bằng chị. Khi ấy Lại-tra-hòa-la yêu cầu cha mẹ dọn đồ ăn ra vì đã đến giờ, chớ có phiền nhiễu ông nữa. Khi ấy cha mẹ ông đứng lên, đưa nước cho ông rửa tay và tự tay mình bồi tiếp những thức ăn mỹ vị. Sau khi ăn xong, Tôn giả Lại-tra-hòa-la giảng pháp cho cha mẹ, làm họ vui mừng hoan hỷ phấn chấn. Rồi ngài đứng lên đọc một bài kệ. Bản P hơi khác. Khi Ratthapàla đi đến Thullakotthita, bản P thêm rằng ông ở lại trong vườn nai của vua Kuru. Trong khi đi khất thực, Ratthapàla đi từng nhà, nhưng bản P bỏ chi tiết ông nghĩ đến đức Phật thường khen ngợi sự tuần tự khất thực. Khi Ratthapàla vào nhà cha mẹ, người cha đang chải tóc ở giữa gian phòng có cửa. Trong bản C, người cha mắng các Tỳ-kheo là bọn chuyên làm việc đen tối, không con cái, không kế tự, phá hoại gia đình mình. Bản P chỉ nói ông ta bảo đứa con trai yêu quý độc nhất đã bỏ nhà đi tu vì những Sa-môn trọc đầu này, và thế là Trưởng lão Ratthapàla tại nhà cha mẹ đã không nhận được của bố thí cũng không nhận được lời từ chối mà nhận được lời nguyền rủa. Ở đây thức ăn người nữ tỳ đem đổ là đồ ăn thừa của ngày hôm trước. Trong khi bản C nói người tớ gái đi vào báo thẳng với người cha, bản P nói nàng báo tin trước cho người mẹ và bà này kể lại với chồng. Bản P thêm rằng bà mẹ của Ratthapàla khi được tin ông trở về đã nói với người tớ gái rằng nếu tin này là đúng thì cô ta sẽ thoát vòng nô lệ. Bản P không nói đến thái độ của người cha vui mừng trước tin tức ấy. Khi người cha của Ratthapàla trông thấy con trai mình tựa lưng vào bức tường để ăn đồ ăn còn thừa ngày trước, ông đã hỏi : "Có thật là con đang ăn đồ thừa đấy không? Con hãy nên đi vào nhà của con." Và Ratthapàla đã trả lời rằng ông không có nhà vì đã xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Ông đã đi đến nhà gia chủ nhưng không nhận được bố thí hay sự từ chối mà nhận được sự nguyền rủa. Khi ấy người cha mời ông vào nhà nhưng Ratthapàla từ chối, nói rằng đã ăn xong. Khi ấy người cha mời ông đến để ăn bữa trưa ngày hôm sau, và ông đã im lặng nhận lời. Trong bản C, chính bà mẹ đã chất tiền thành từng đống và bảo các bà vợ cũ của ông trang sức. Trong bản P, người cha làm những việc ấy. Trong bản C, người mẹ đem tiền ra dụ rồi đến các bà vợ; nhưng trong bản P, người cha sử dụng cả hai phương pháp cùng một lúc. Trước hết ông chất một đống lớn tiền vàng và che khuất nó sau một bình phong. Rồi ông bảo các bà vợ trước của Ratthapàlatrang sức đẹp đẽ. Khi thức ăn đã sẵn sàng, ông cho mời Tôn giả và khi Ratthapàla ngồi xuống, ông mở cho thấy đống tiền vàng và bảo Ratthapàlarằng một đống của mẹ, một đống của cha, một đống của ông nội. Chàng có thể thừa hưởng của cải và thực hành những việc phước. Bởi thế ông yêu cầu con trai hãy từ bỏ đời sống phạm hạnh, trở về đời sống thế tục, hưởng thụ của cải và hành thiện. Sự trả lời của Ratthapàla, vai trò các bà vợ cũ cũng gần như trong bản C, ngoại trừ trong bản P, các bà vợ té xỉu xuống đất khi nghe Ratthapàla gọi họ bằng chị. Bản P bỏ chi tiết Ratthapàla giảng pháp cho cha mẹ. Theo bản C, Lại-tra-hòa-la bay về rừng Thâu Lô Tra (Yu-lu-cha) ngang qua hư không, đi vào rừng ngồi trên tọa cụ. Lúc ấy vua Câu Lao Bà (Chu-lao-p'o) ngồi với đình thần trong cung, đang ca tụng Lại-tra-hòa-la và tỏ ý muốn gặp Tôn giả. Rồi vua ra lệnh cho quan săn bắn sửa soạn rừng Thâu Lô Tra để đi săn. Khi viên quan đi vào rừng, trông thấy Tôn giả Lại-tra-hòa-la bèn trở về tâu vua, vua đi gặp Tôn giả. Khi Tôn giả thấy vua đến, ngài mời vua ngồi. Vua trả lời, mặc dù nơi này là sở hữu của vua, vua vẫn muốn được Tôn giả mời ngồi, và Tôn giả Lại-tra-hòa-la mời vua ngồi xuống. Vua hỏi phải chăng Tôn giả đi tu vì thiếu tiền, nếu vậy vua sẵn sàng cung cấp tất cả tiền bạc cần thiết để Lại-tra-hòa-la hoàn tục hưởng dục lạc, bố thí và làm các việc phước. Khi ấy Tôn giả bảo vua đã hiến cho mình những vật bất tịnh, không phải là tịnh pháp. Khi vua hỏi thế nào là hiến tịnh pháp, Tôn giả bảo vua nên nói xứ sở và thần dân của vua được hạnh phúc, không sợ hãi, không xáo trộn, không lo lắng, không bị làm nô lệ. Khi ấy vua nói muốn hiến cho Tôn giả tịnh pháp, không phải vật bất tịnh. Bản P không nói Ratthapàla bay trở về ngang qua hư không. Tôn giả chỉ trở về vườn Nai của vua Kuru, ngồi dưới một cây để nghỉ ban ngày. Bản P không nói vua Chu-lao-p'ongồi với đình thần trong cung, khen ngợi Tôn giả Ratthapàla và ngỏ ý muốn gặp ngài, mà chỉ nói vua sai người săn nai đi sửa soạn khu đất trong vườn Nai để vua đi ngắm cảnh. Người săn nai đến trông thấy Tôn giả đang ngồi dưới cây, về tâu vua, và vua sai thắng xe để đi gặp Tôn giả. Khi vua gặp Tôn giả, vua chào và mời Tôn giả ngồi trên tấm thảm lót lưng voi, nhưng Tôn giả từ chối và mời vua hãy ngồi lên đấy vì ngài đã có tọa cụ riêng. Ở đây bản P bỏ đoạn vua dụ Tôn giả từ bỏ đời sống phạm hạnh, như được tìm thấy trong bản C. Rồi vua hỏi những lý do đã khiến Ratthapàla sống đời phạm hạnh, và Tôn giả giải thích cho vua những lý do đã khiến ngài trở thành tu sĩ.

n) Giảng cho Tôn giả Phù Di (C: Fou-mi; P: Bhumija):

NC81: ( P126, Bhùmija= C173, kinh Phù Di ):

Tôn giả Phù Di ở trong thiền thất vô sự. Một buổi sáng, ông sửa soạn đi vào thành Vương Xá khất thực. Rồi ông hoãn việc khất thực mà đi đến nhà vương tử Kỳ Bà Tiên Na (Ch'i-p'o-hsien-na). Ở đấy, Tôn giả được vương tử chào đón một cách kính cẩn, mời ngồi và xin phép được hỏi Tôn giả. Sau khi được cho phép, vương tử đặt những câu hỏi và Tôn giả trả lời. Rồi vương tử mời Tôn giả ăn trưa, tự tay mang nước đến và phục vụ ngài với những thực phẩm hảo hạng. Sau khi ăn xong, vương tử ngồi xuống trên một chỗ ngồi thấp để lắng nghe thuyết pháp. Tôn giả thuyết pháp làm cho vương tử hoan hỷ, thỏa mãn, phấn chấn tinh thần bằng nhiều cách thuyết pháp. Khi bài pháp đã xong, Tôn giả đi đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ Ngài và kể lại cuộc đàm thoại với vương tử. Bản P bỏ chi tiết Tôn giả sửa soạn đi khất thực, hoãn việc khất thực, sự chào đón tôn kính của vương tử và xin phép đặt câu hỏi. Bản P chỉ nói Bhùmija vào buổi sáng đắp y cầm bát đi đến trú xứ vương tử Jayasenavà ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Rồi vương tử đến chào ngài và hỏi những câu hỏi. Trong khi kinh C nói dông dài về chuyện vương tử mời dùng cơm, phục vụ Tôn giả với những đồ ăn thượng hạng, Tôn giả thuyết pháp cho vương tử; kinh P chỉ nói vương tử cúng dường Tôn giả cơm nấu với sữa. Sau khi kể lại cho đức Phật nghe cuộc đàm thoại này, bản P nói Tôn giả hỏi đức Phật, có phải khi được hỏi và trả lời như thế là ông đã nói đúng những gì Thế tôn đã dạy, không xuyên tạc lời Thế tôn. Và đức Phật hỏi Tôn giả vì sao không nói cho vương tử nghe về bốn ví dụ.

o) Giảng cho Tôn giả Lu-i-ch'iang-ch'i (Lomasakangiya):

NC88: (P134, Lomasakangiiya, Nhất dạ hiền giả = C166, Thích trung thiền thất tôn) :

Có một việc khác nhau quan trọng cần chú ý giữa hai bản dịch. Bản C nói đức Phật giảng bài kệ về Bạt địa la đế (C: Pa-ti-lo-ti; P: Bhadde-karatta) tại thành Vương Xá, trong rừng Trúc, ở vườn Ca Lan Đà (Chia-lan-to), nhưng bản P nói đức Phật giảng bài kệ này tại cõi trời 33, giữa thiên chúng, ở gốc cây Pàricchattaka, trên Pandukambalasilà.

p) Giảng cho Tôn giả San-mi-t'i (Samiddhi):

NC 90: (P136, Đại nghiệp phân biệt = C171, Phân biệt đại nghiệp kinh):

Trong bản C, chính Tôn giả A Nan có tà kiến của Samiddhi và bị Phật quở. Nhưng trong bản P Tôn giả Ưu-đà-di (Udàyì) có tà kiến như Samiddhi và bị đức Phật quở trách.

q) Giảng cho Tôn giả Fu-chia-lo-so-li (Pukkusàti):

NC94: (P140, Giới phân biệt = C162,Phân biệt lục giới kinh):

Theo bản C, sau khi đức Phật giảng xong, Tôn giả Pukkusàtiđắc Pháp nhãn. Rồi ông thú nhận lỗi lầm đã gọi Phật bằng bạn và Phật nhận sự sám hối của ông. Ở đây bản P hoàn toàn khác. Tôn giả Pukkusàti cũng sám hối, và sau khi sám hối, còn xin đức Phật xuất gia làm Tỳ-kheo, nhưng đức Phật từ chối vì Tôn giả không có y bát sẵn sàng. Trong lúc đi tìm y bát, Tôn giả bị bò húc chết. Những Tỳ-kheo đưa tin ấy đến Phật và bạch hỏi về cảnh giới tương lai của Pukkusàti. Đức Phật trả lời Pukkusàti đã đoạn trừ năm kiết sử, đã hóa sinh và đạt Niết-bàn (Nibbàna) ngay ở đấy, không còn trở lui đời này. Tất cả những chi tiết này không có trong bản C.

r) Giảng cho Đại Châu Na (C: Ta-chou-na; P: Mahàcunda) :

NC7: (P8, Đoạn giảm = C91, Châu na vấn kiến kinh) :

Hai bản kinh gần giống nhau.

s) Giảng cho sa di A-i-na-ho-t'i (Aciravata):

NC80: (P125, Dantabhùmi= C198,Điều ngự địa):

Hai bản dịch không có gì khác nhau đáng chú ý.

6. Đức Phật thuyết pháp cho tu sĩ và những người khác :

Có 10 NC rơi vào loại này:
- Giảng cho Kiều-đàm-di (Ch'u-t'an-mi) : NC96: (P142,Dakkhinà-vibhanga = C180,Cù đàm di kinh);
\
- Giảng cho bà la môn Sinh Văn (Shêng-wên): NC23: (P27, Ví dụ dấu chân voi = C146, Tượng tích dụ kinh) ;
- Giảng cho Po-li-to (Potaliya) : NC38: (P54,Potaliya= C203, Bổ lợi đa kinh);

- Giảng cho Tiễn Mao (Chien-mao): NC49: (P77,Mahàsakuludàyi = C207, kinh
Tiễn mao);

- Giảng cho vua Ba-tư-nặc (Po-ssu-ni) : NC56: (P87,Piyajàtika= C216,Ái sinh); NC58: (P89,Dhammacetiya = C213, Pháp trang nghiêm); NC59: (P90,Kannakatthala= C 212, Nhất thiết trí kinh);

- Giảng cho bà la môn Phạm Ma (Fan-mo): NC60: (P91, Brahmàyu = C161, kinh Phạm ma)

- Giảng cho bà la môn Toán số Mục-kiền-liên (Suan-shu-mu-chien-lien) : NC68 : (P107,Ganakamoggallàna= C144, Toán số Mục-kiền-liên kinh);

- Giảng cho Anh-vũ-ma-nạp Đô-đề-tử (Ying-wu-mo-na-tu-t'i-tzu): NC89: (P135, Tiểu nghiệp phân biệt = C170, Anh vũ kinh).

a) Giảng cho Kiều-đàm-di (C: Ch'u-t'an-mi; P: Gotamì),NC96: Hai bản gần giống nhau.

b) Giảng cho bà la môn Sinh Văn ((C: Shêng-wên; P: Jànussonì),NC23:

Tỳ Lô (Pei-lu), một tín đồ ngoại đạo sau khi nghe đức Thế Tôn giảng trở về gặp bà la môn Sinh Văn đang đi trong một cỗ xe toàn trắng với 500 đệ tử ra khỏi thành Xá Vệ để đến một nơi vắng vẻ và đọc kinh điển. Bản P bỏ đoạn Tỳ Lô đi đến đức Phật và được Ngài thuyết pháp, đề cập trực tiếp bà la môn Jànussonì sáng sớm ngồi trong xe do ngựa trắng kéo, gặp du sĩ Pilotika từ xa đến và nói chuyện. Phần còn lại hai bản gần giống nhau.

c) Giảng cho Bổ Lợi Đà (C: Pu-li-to; P:Potaliya),NC38:

Theo bản C, gia chủ Bổ Lợi Đà vận y phục trắng sạch, đầu quấn khăn trắng, chống gậy, cầm dù, mang giày thế tục đi ngao du. Khi gặp Phật, đầu tiên ông bỏ cây gậy, tháo giày, rồi mở dãi khăn trắng ra. Trong bản P, Potaliya được mô tả là ăn mặc bảnh bao, đi giày cầm dù, nhưng không có những chi tiết khác. Ông không bộc lộ những vẻ cung kính bên ngoài như được thấy trong bản C. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, Potaliya được con mắt pháp thanh tịnh, lặp lại ba lần xin quy y Tam bảo và được nhận làm đệ tử tại gia. Bản P không nói Potaliya đắc Pháp nhãn. Ông chỉ bày tỏ sự tán thán như thường lệ và xin quy y Tam bảo, xin được nhận làm đệ tử Phật.

d) Giảng cho Tiễn Mao (C: Chien-mao; P: Sakuludàyì),NC49:

Trong khi bản C nói Phật sau khi ăn xong đi đến vườn chim công, bản P nói Phật vào thành Vương Xá (Ràjagaha) khất thực, nhưng thấy còn quá sớm nên Ngài đi đến vườn chim công. Bản P bỏ chi tiết Sakuludàyi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp vai chừa ra một bên, chắp tay hướng về Phật, nhưng thêm rằng Sakuludàyi lấy một ghế thấp ngồi bên cạnh. Sau khi Phật thuyết pháp, Tiễn Mao ca tụng bài pháp của đức Phật vi diệu, hy hữu, làm ông khoan khoái, như mật ngọt, như nước mưa trên trời rơi xuống thấm khắp những vùng đất cao và thấp. Rồi ông xin quy y Tam bảo và xin đức Phật nhận ông làm đệ tử. Đoạn này không có trong bản P.

e) Giảng cho vua Ba-tư-nặc (C: Po-ssu-ni; P: Pasenadi),NC 56, 58, 59:

Cả hai bản gần giống nhau, chỉ có thêm bớt vài chi tiết nhỏ. Trong NC56, theo kinh C216, Ái sinh, vua Ba-tư-nặc sai bà la môn Na Lị Ương Già (C: Na-li-yang-chia; P: Nàlijangha) đi đến đức Phật, trước hết hỏi thăm sức khỏe của Ngài, rồi hỏi quan điểm của Ngài. Trong kinh P90, Piyajàtika,hoàng hậu Mallikà phái bà la môn Nàlijangha đi đến đức Phật, trước hết đảnh lễ và hỏi thăm sức khỏe, sau xin Ngài giải thích quan điểm của Ngài.

f) Giảng cho Bà la môn Phạm Ma (C: Fan-mo; P: Brahmàyu),NC 60:

Hai kinh gần giống nhau. Những dị biệt sau đây cần chú ý: Về lưỡi dài rộng, theo kinh C161, trùm khắp mặt đức Phật, trong kinh P91, đức Phật đưa lưỡi ra sờ đến hai mang tai, hai lỗ mũi và bao trùm khắp mặt và trán. Trong kinh C, Ưu Đa La (Yu-to-lo) xin phép bà là môn Phạm Ma xuất gia với Sa-môn Cù Đàm (Ch'u-t'an) và bà la môn đồng ý. Và Ưu Đa La thọ đại giới với đức Phật. Những chi tiết này không có trong bản P. Trong bản C, bà la môn Phạm Ma muốn đảnh lễ đức Phật, nhưng chúng đông gia chủ và bà la môn hô lớn lời hoan nghênh và thán phục. Đức Phật biết tâm của hội chúng, bảo Phạm Ma hãy trở về chỗ ngồi. Rồi Ngài thuyết pháp cho ông, làm cho ông hoan hỷ, phấn khởi, hài lòng. Sau khi đức Phật thuyết pháp, Phạm Ma được Pháp nhãn. Rồi ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu dưới chân đức Phật, xin quy y Tam bảo và xin đức Phật nhận ông làm đệ tử. Trong bản P, bà la môn thực sự đảnh lễ Phật, sửa thượng y chừa lại một vai, hôn quanh chân Phật, dùng hai tay vuốt khắp chân Phật và cho biết tên của ông, nhưng không bị chúng hội ngăn chận.

g) Giảng cho Toán số Mục-kiền-liên (C: Suan-shu-mu-chien-lien; P: Ganakamoggallàna),NC 68: Hai bản gần giống nhau.

h) Giảng cho Anh-vũ-ma-nạp Đô-đề-tử (C: Ying-wu-mo-na-tu-t'i-tzu; P: Subha mànava Todeyyaputta),NC 89: Kinh C170 khởi sự với câu chuyện về con chó, đời trước là cha của Đô Đề (Todeyya), trong khi P135 hoàn toàn loại bỏ chi tiết này.

7. Sự thảo luận giữa các Tỳ-kheo

Có 3 NC thuộc về loại này :
NC20 : (P24, Trạm xe = C9,Thất xa), kể cuộc đàm luận giữa Tôn giả Xá-lợi-tử và Mãn-từ-tử (Man-tz'u-tzu).

NC26: (P32, Đại kinh rừng Sừng boø= C185,Ngưu giác lâm kinh), nói đến một cuộc luận bàn giữa các Tôn giả Xá-lợi-tử, Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca-chiên-diên, A-na-luật-đà (A-na-lu-t'o), Ly-bà-đa (Li-yueh-to) và A Nan.

NC30: (P43, Mahàvedalla = C211, Đại-câu-thi-la kinh), kể cuộc pháp đàm giữa Tôn giả Xá-lợi-tử và Đại-câu-thi-la (Ta-chu-ch'ih-lo).

a) Giữa Xá-lợi-tử và Mạn Từ Tử,NC20:

Hai bản gần giống nhau.

b) Giữa Xá-lợi-tử, Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca Diếp, Đại Ca-chiên-diên, A-na-luật-đà, Ly-bà-đa và A Nan,NC26:

Bản C nói đến bảy Tôn giả, nhưng bản P chỉ nói sáu, bỏ Đại Ca-chiên-diên (Mahàkaccàna). Trong bản C, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên nói đến vị Tỳ-kheo nào thiện xảo về đàm luận pháp A tỳ đàm (Abhidharma), vị Tỳ-kheo ấy sẽ chói sáng khu rừng Sừng bò. Nhưng trong bản P, câu trả lời này được đặt vào miệng của Đại Mục-kiền-liên (Mahàmoggallàna). Trong bản C, câu trả lời của Đại Mục-kiền-liên nói đến vị Tỳ-kheo nào giỏi về năng lực thần thông.

c) Pháp đàm giữa Xá-lợi-tử và Đại-câu-thi-la (Ta-chu-ch'ih-lo),NC 30:

Trong bản C, Tôn giả Xá-lợi-tử đặt câu hỏi cho Tôn giả Đại-câu-thi-la và Đại-câu-thi-la trả lời câu hỏi. Trong bản P, Đại-câu-thi-la (Mahàkotthita) hỏi và Xá Lợi Phất trả lời.

8. Những bài pháp do đệ tử Phật nói:

Có 14 NC thuộc về loại này. Tôn giả Xá-lợi-tử thuyết pháp trong NC4, 24, 46, 63, 97. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thuyết pháp trong NC12, 36. Tôn giả A Nan thuyết bốn bài pháp trong NC37, 57, 69, 86. Tôn giả A-na-luật-đà giảng một bài pháp trong NC82. Tỳ-kheo ni Pháp Lạc nói một bài pháp trong NC31 và Tôn giả Bạc-câu-la (Po-chu-lo) nói một bài pháp trong NC 79.

a) Do Tôn giả Xá-lợi-tử thuyết:

NC4: (P5, Vô uế = C87,Uế phẩm kinh);
NC24: (P25, Dụ dấu chân voi = C178, Tượng tích dụ kinh);

NC46: (P69, Gulissàni = C26, Cù ni sư kinh);

NC63: (P97, Dhànanjàni = C27, Phạm chí Đà nhiên kinh);

NC97: (P143, Anàthapindikovàda = C28, Giáo hóa bệnh kinh);

Không có gì khác nhau nhiều giữa hai bản trong NC4, NC24, NC46. Nhưng có nhiều khác nhau trong NC63, nói đến sự gặp gỡ giữa Tôn giả Xá-lợi-tử và bà la môn Đà Nhiên (T'o-jan). Sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-tử mang y cầm bát vào thành Xá Vệ khất thực. Sau khi khất thực, ngài đến nhà bà la môn Đà Nhiên, lúc ấy Đà Nhiên vừa ra khỏi nhà đi đến bờ sông để hành hạ dân chúng. Khi thấy Tôn giả Xá-lợi-tử từ xa, ông ta đứng dậy khỏi chỗ ngồi (?), mặc y phục để lộ một vai, chắp tay chào đón Tôn giả, đưa Tôn giả vào nhà, sửa soạn chỗ và mời Tôn giả ngồi xuống, rồi cúng dường thực phẩm cho Tôn giả trong đồ đựng bằng vàng. Nhưng Tôn giả từ chối. Ba lần bà la môn năn nỉ, và Tôn giả từ chối cả ba lần. Bản P không hẳn vậy, nói bà la môn Dhànanjàni đang ở ngoài thành vắt sữa bò trong một chuồng bò. Bản này bỏ các chi tiết: bà la môn đứng dậy khỏi chỗ ngồi, mặc y chừa một vai, đưa Tôn giả vào nhà, sai sửa soạn chỗ ngồi, dâng thực phẩm trong bát bằng vàng. Bản P chỉ nói rằng khi trông thấy Tôn giả Xá Lợi Phất từ xa, bà la môn Dhànanjàni đi đến mời Tôn giả uống sữa chờ đến khi có thức ăn, nhưng Tôn giả từ chối bảo rằng ngài đã ăn xong, và mời bà la môn cùng đi đến dưới một gốc cây. Phần còn lại hai bản gần giống nhau. Trong NC97, cả hai bản kinh nói đến Cấp Cô Độc (Kei-ku-tu) bị ốm, yêu cầu Tôn giả Xá-lợi-tử đến giảng pháp cho ông. Tôn giả đến giảng pháp cho Cấp Cô Độc. Nhưng trong bản C, Tôn giả Xá-lợi-tử bảo Cấp Cô Độc đừng sợ hãi vì ông ta có đức tin lớn, có giới, đa văn, bố thí, trí tuệ, chánh kiến, mục tiêu chân chính, và do vậy khổ và ưu sẽ chấm dứt, vô thượng an lạc sẽ khởi lên, do điều này người ta có thể đạt đến cõi Nhất lai hay Bất hoàn; và Cấp Cô Độc đã đắc quả Dự lưu. Trong bản P, Tôn giả Xá Lợi Phất khuyên Cấp Cô Độc (Anàthapindika) đừng bám víu cái gì. Và sau khi Tôn giả Xá Lợi Phất giảng xong, Cấp Cô Độc đã khóc. Sau khi Tôn giả ra đi, Cấp Cô Độc chết và được tái sinh lên cõi trời Đâu Suất. Ở đây hai bản khác nhau khá xa. Rồi theo bản C, Cấp Cô Độc được khỏi bệnh, kể lại cho Tôn giả nghe lần đầu tiên ông gặp đức Phật, lắng nghe Ngài thuyết pháp, thấy đựơc bốn chân lý, mua vườn Kỳ Viên (C: Shêng-lin; P: Jetavana) và dâng cúng cho đức Phật. Nhưng bản P nói rằng sau khi Cấp Cô Độc chết và tái sinh lên cõi trời Đâu suất (Tusita), vị thiên Cấp Cô Độc còn trẻ, chói sáng vườn Kỳ Viên với hào quang của mình, đi đến đức Phật, chào Ngài và đọc một bài kệ tán thán Phật, Pháp và Tôn giả Xá Lợi Phất. Rồi vị trời trẻ Cấp Cô Độc biến mất tại chỗ.

b) Những bài kinh do Đại Mục-kiền-liên thuyết (Ta-mu-chien-lien):

NC12: (P15, Tư lượng = C89,Tỳ-kheo thỉnh);
NC36: (P50, Màratajjaniya= C131, Hàng ma kinh):

Hai bản gần giống nhau.

c) Do A Nan thuyết:

NC 37: (P52, Bát thành = C217, Bát thành kinh);
NC 57: (P88, Bahitika = C214,Bệ ha đề);

NC 69: (P108, Gopakamoggàllana = C145, Cù mặc Mục-kiền-liên kinh);

NC 86: (P132, A nan nhất dạ hiền giả = C167, A nan thuyết):

Không có nhiều dị biệt giữa hai bản trong NC 37, 57, 86. Nhưng trong NC69, bản C nói vào lúc ấy quan đại thần Vũ Thế (C: Yu-chih; P: Vassakàra) xứ Ma-kiệt-đà (C: Mo-chieh-t'o; P: Magadha) đang chỉnh đốn thành Vương Xá để chống lại dân Bạt Kỳ (P'o-ch'i). Nhưng trong bản P, vua A Xà Thế (Ajàtasttu) xứ Ma-kiệt-đà chỉnh đốn thành Vương Xá chống lại vua Pajjota. Phần còn lại gần giống nhau.

d) Do A-na-luật-đà (C: A-na-lu-t'o; P: Anuruddha) giảng:

NC82: (P127, A na luật = C79 ,Hữu thắng thiên):
Hai bản gần giống nhau.

e) Do Tỳ-kheo ni Pháp Lạc (C: Fa-lo; P: Dhammadinnà) giảng :

NC31: (P44, Tiểu kinh Phương quảng= C210, Pháp lạc Tỳ-kheo ni kinh):
Ở đây bản C nói Tỳ Xá Khư (C: P'i-shê-ch'u; P: Visakhà) là nữ đệ tử danh tiếng của thành Xá Vệ đi đến Tỳ-kheo ni Pháp Lạc tham vấn về Pháp. Theo bản P, Visàkha là chồng cũ của Pháp Lạc. Theo bản C, Tỳ-kheo ni Pháp Lạc đến Phật thuật lại sự thuyết pháp của bà, trong khi bản P nói chính cư sĩ Visàkha đến Phật thuật lại cuộc đàm thoại.

f) Do Bạc-câu-la (C: Po-chu-lo; P: Bakkula) thuyết :

NC79: (P124, Bakkula = C34, Bạc-câu-la kinh):
Ở đây bản P thêm tên của người hỏi Tôn giả Bakkula Acela Kassapa nhưng bỏ chi tiết ông ta là một người ngoại đạo. Sau khi Tôn giả Bakkula thuyết pháp, bản P thêm một đoạn dài, trong đó Acela Kassapa xin Tôn giả Bakkula cho ông xuất gia thọ đại giới. Sau khi thọ giới không lâu Acela Kassapa đắc quả A-la-hán, rồi sau một thời gian Tôn giả Bakkula cầm chìa khóa và thông báo cho các Tỳ-kheo khác biết mình sắp nhập Niết-bàn ngày hôm ấy, và Tôn giả Bakkula nhập Niết-bàn trong khi đang ngồi giữa chúng hội. Những chi tiết này không có trong bản C.


NHẬN XÉT CHUNG

Điểm qua vai trò của các nhân vật trong 98 kinh được so sánh, ta thấy rõ ràng có một nguồn gốc chung cho cả hai bản C và P, từ đó những nhà kết tập chọn những tài liệu và dữ kiện cho bản kinh của họ, nhưng không thiếu những dị biệt về chi tiết, và điều này hoặc do sự chọn lựa của các nhà kết tập hoặc do đặc điểm của các bộ phái mà họ tiêu biểu.
Như về phương diện nhân vật, trong NC15, kinh C 115,Mật hoàn du,ïnói chính Phật dẫn ví dụ về viên mật; trong kinh P18, nói Tôn giả A Nan dẫn. Trong NC 10, kinh C 99,Khổ ấm, kể một số đông tín đồ ngoại đạo đến gặp các Tỳ-kheo trong giảng đường khi họ đang tụ hội sau bữa ăn trưa. Nhưng trong P13, Đại kinh khổ uẩn, các Tỳ-kheo sau khi vào thành Xá Vệ khất thực, thấy còn sớm nên đi đến trú xứ của các du sĩ và cuộc đàm thoại bắt đầu. Trong NC 26, C184 nói Đại Ca-chiên-diên (Ta-chia-chan-yen) trả lời Tỳ-kheo thiện xảo về luận thuyết (Abhidharma) (sẽ làm sáng chói khu rừng), nhưng theo kinh P32, đó là câu trả lời của Đại Mục-kiền-liên (Mahàmoggallàna) ; trong khi ở kinh C, Đại Mục-kiền-liên trả lời là Tỳ-kheo thiện xảo về thần thông. Như vậy bản C ở đây trung thực và đáng tin cậy hơn, vì Đại Ca-chiên-diên (Mahàkaccàna) nổi tiếng là chuyên môn về luận nghị, Mục-kiền-liên nổi tiếng là chuyên môn về thần thông. Chúng ta trích dẫn ở đây một nhận xét của tiến sĩ Anesaki(71): "Trong kinh P, Gosinga(72), chúng ta thấy nói đến sáu đệ tử của đức Phật; trong bản C tương đương có thêm một người nữa là Ca-chiên-diên (Katyàyana) . Trong cuộc đàm luận giữa những Tỳ-kheo ấy, Mục-kiền-liên ở bản P đóng vai trò một đệ tử tinh thông về các nguyên lý của pháp và phân tích pháp. Trong bản C, vai trò này do Ca-chiên-diên đóng, và Mục-kiền-liên (Maudgalyàyana) là một người nổi tiếng về thần thông. Khi so sánh điều này với những tài năng của các đệ tử như được nói trong kinh Tăng chi bộ (Anguttara) I,14, chúng ta có thể thấy rằng bản C phù hợp với truyền thống chung. Vì như trong kinh Tăng chi I nói, Mục-kiền-liên là người thần thông (iddhimantànam) đệ nhất, Ca-chiên-diên (Kaccàna) là 'người thiện xảo về nói pháp và phân tích ý nghĩa' (sankhittena bhàsitassa vitthàrena attham vibhajantànam). Kinh Tăng-nhất-A-hàm (Ekottara) C cũng nói như vậy. Có thể sự khác nhau này chứng tỏ rằng không phải bản P luôn luôn thuần túy và nguyên chất hơn bản C."

Trong NC31, ta thấy một bất đồng khác nữa. Ở đây bản kinh C 210 nói đến tín nữ Tỳ Xá Khư ở thành Xá Vệ đi đến hỏi pháp Tỳ-kheo ni Pháp Lạc. Nhưng kinh P44 nói Visàkha là một nam cư sĩ, chồng cũ của Dhammadinnà. Trong Từ điển Tên riêng(D.P.P.N)(73)cũng nói Visàkha là chồng của Dhammadinnà. Ông là một thương gia giàu của thành Vương Xá, sau khi chứng quả Bất hoàn (Anàgàmì) , lối hành xử của ông đối với vợ hoàn toàn đổi khác. Khi ông tặng bà tất cả tài sản, trả lại tự do cho bà, bà xin được gia nhập tăng đoàn. Khi bà đắc quả A-la-hán, bà trở về Vương Xá. Visàkha đến thăm bà và hỏi bà nhiều câu hỏi liên hệ đến giáo lý Phật, và bà trả lời tất cả các câu hỏi ấy.(74)Cuộc đàm thoại của họ được ghi lại trong kinh Tiểu phương quảng (Cullavedallasutta). Sau đó Visàkha đến viếng đức Phật, thuật lại cuộc đàm thoại của họ và được nghe đức Phật tán thán Dhammadinnà. Như vậy có thể rằng những nhà kết tập kinh C đã nhầm lẫn tên Visàkha.

Trong NC30, kinh C 211 nói Tôn giả Xá-lợi-tử (Shê-li-tzu) đặt câu hỏi cho Tôn giả Đại-câu-thi-la (Ta-chu-ch'ih-lo) và ông này trả lời; nhưng theo P 43 thì Đại-câu-thi-la (Mahàkotthita) hỏi, Tôn giả Xá Lợi Phất (Sàriputta) trả lời. Lại trong NC56, kinh C 16 nói vua Ba-tư-nặc (Po-ssu-ni) phái một người bà la môn đến hỏi Phật về ý nghĩa giáo lý Ngài, trong khi kinh P 87 nói hoàng hậu Mallikà gởi sứ giả đến. Chúng ta cũng chú ý rằng trong NC53, theo kinh C63, Bệ bà lăng kỳ, vua Hiệp Bệ (Chia-pei) sai mang 500 xe bò đầy gạo trắng và đủ thứ thực phẩm của vua dùng để đến cúng dường Nan Đề Bà La (Nan-t'i-po-lo) . Nhưng Nan Đề Bà La từ chối, nói rằng vua có nhiều trách nhiệm lớn đối với quốc gia, và sự tốn kém của vua đã khá nặng nề nên ông không thể nhận. Nhưng bản P 81 nói vua Kikì sai chở 500 xe lúa, gạo vàng và cà ry đến cho người thợ gốm Ghatìkàra; ở đây người thợ gốm nhận quà và nói vua có nhiều phận sự, chừng ấy quà đã đủ cho anh ta. Như vậy những sự tường thuật mâu thẫn này cho chúng ta thấy hoặc do những nhà kết tập không nhớ kỹ, hoặc vì câu chuyện đã quá xa mờ trong dĩ vãng, nên những nhà kết tập chỉ còn nhớ mang máng, mơ hồ.

Về việc cải đạo của những người thuộc giáo phái khác sau khi nghe Phật thuyết pháp, ta thấy các chi tiết giống nhau giữa hai bản kinh trong các NC sau:

NC64: (P99, kinh Subha = C152, Anh vũ kinh);
NC23: (P27,Tiểu kinh dụ dấu chân voi = C146, Tượng tích dụ);
NC60: (P91, Brahmàyu = P161,Phạm ma);
NC68: (P107,Ganakamoggallàna= C144, Toán số Mục-kiền-liên);
NC89: (P135, Tiểu nghiệp phân biệt = C170, Anh vũ kinh).

Nhưng những chi tiết không giống trong các NC :

NC6: (P7,Ví dụ tấm vải = C93, Thủy tịnh Phạm chí);
NC61: (P93, Assalàyana= C151, Phạm chí A nhiếp hòa);
NC62: (P96, Esukari= C150, Uất sậu ca la);
NC48: (P75,Màgandiya= C153,Man nhàn đề);
NC52: (P80, Vekhanassa = C209, Bệ ma na tu);
NC38: (P54, Potaliya = C203, Bổø lợi đà kinh);
NC49: (P77,Mahàsakulùdayi = C207, Tiễn mao kinh);
NC56: (P87, Ái sinh= C216, Ái sinh kinh);
NC63: (P97,Dhananjàni= C27,Phạm chí Đà nhiên).

Trong NC6, bà la môn Thủy Tịnh (Shui-Ching) trong kinh C93 xin quy y Tam bảo và xin đức Phật nhận ông làm đệ tử tại gia. Nhưng kinh P 37 thêm rằng bà la môn Sundarika Bhàradvàjaxin đức Phật xuất gia thọ đại giới. Sau khi được phép, ông nỗ lực tinh cần tu tập và cuối cùng đắc quả A-la-hán. Trong NC 48, theo bản C 153, sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, Man Nhàn Đề (Hsu-hsien-t'i) đạt đến Pháp nhãn ly trần vô cấu. Ông được đức Phật cho xuất gia và đắc quả A-la-hán. Nhưng bản kinh P75 không nói Màgandiyađắc pháp nhãn ngay tại chỗ. Kinh này thêm lời tán thán của Màgandiyanhư thường lệ, xin quy y Tam bảo, xin đức Phật xuất gia. Ở đây Phật nói Màgandiya vì thuộc ngoại đạo đáng lẽ cần qua bốn tháng thử thách, nhưng Phật biết căn tánh khác nhau của các hạng người nên ngài cho phép Màgandiyaxuất gia. Ở đây bản P cũng nói Màgandiya đắc quả A-la-hán nhưng với nhiều chi tiết hơn.

Chúng ta nhận thấy rằng bản C thích trình bày những thần thông của Phật, trong khi bản P không nhắc tới, như trong NC 27, sau khi Phật thuyết pháp, kinh C 201, Trà đế,còn thêm, lúc ấy ba vạn thế giới rung động. Trong NC83, kinh C72, Trường thọ vương bản khởi,đức Thế tôn sau khi đọc lên bài kệ, đã vận thần thông bay ngang hư không và đến làng Bà-la-lâu-la (P'o-lo-lou-lo) trong khi kinh P128,Tùy phiền não,không nói. Cũng vậy trong NC54, kinh C132, Lại-tra-hòa-la,nói Tôn giả Lại-tra-hòa-la bay về rừng Thâu Lô Tra (Yu-lu-cha). trong khi kinh P82 quên chi tiết ấy. Bản C cũng ưa nói đến Tôn giả A Nan đứng sau đức Phật quạt cho Ngài hoặc hầu đức Phật tay cầm phất trần, trong khi bản P hoàn toàn không nhắc đến những chi tiết ấy như ở NC15, NC42, NC67, NC96, NC22. Đôi khi một trong hai bản thêm một chi tiết. Như trong NC35, bản P49,Brahmanimantanika,thêm tên bà la môn là Baka. Trong NC44, kinh P66, Latukìkopana, tên của Tỳ-kheo là Udàyì; trong NC39, kinh P56,Upàli, tên người thợ nhuộm là Rattapàni. Những tên này không có trong bản C. Đôi khi bản P thêm một chi tiết. Như trong NC64, P99, kinh Subha,thêm cuộc gặp gỡ giữa Subha và bà la môn Jànussonì. Trong NC94, kinh P140, Giới phân biệt,thêm rằng Pukkusàtixin đức Phật xuất gia thọ giới, nhưng đức Phật từ chối vì ông không có y bát. Trong khi đi tìm y bát, ông bị bò húc chết. Đôi khi, ta để ý điều ngược lại là bản C cho nhiều chi tiết hơn. Như trong NC3, C88, Cầu pháp kinh, đức Thế tôn đau lưng muốn nằm nghỉ, gấp tư y Uất đa la tăng (yu-to-lo-sêng) trải lên giường, cuộn tròn y Tăng già lê (sêng-chia-li) làm thành cái gối và nằm xuống bên hông phải hai chân duỗi ra chồng lên nhau. Nhưng bản P chỉ nói rằng đấng Thiện thệ đứng lên khỏi chỗ ngồi và đi vào tinh xá. Trong NC89, kinh C170, Anh vũ kinh, thêm câu chuyện về con chó của Anh-vũ-ma-nạp Đô-đề-tử (Ying-wu-mo-na-tu-t'i-tzu), trong NC83, kinh C72, Trường thọ vương bản khởi kinh, thêm câu chuyện về Phạm-ma-đạt-đa (C: Fan-mo-ta-to; P: brahmadatta), về đức Phật làm bạn với voi.

Như vậy những điểm tương đồng mà ta thấy được ở đây chứng tỏ có một nguồn chung các dữ liệu mà hai bản C và P đều theo, những điểm dị biệt biểu lộ đặc tính của mỗi bộ phái hoặc lỗi lầm của những người kết tập. Chúng cũng chứng tỏ rằng vào thời gian kết tập, nhiều dữ kiện quá mờ nhạt lẫn lộn nên đã đưa đến những tường thuật mâu thuẫn trong hai bản kinh C và P.

 


(69)Câu này được tìm thấy trong kinh Hữu học P 53, Sekhasutta, do Tôn giả Aønanda giảng.
(70)Lời giải thích này theo các nhà luận giải Pàli. Nhưng nguyên ngữ Pàli Bhunahu tương đương với từ Sanskrit Bhruna-ha, người giết bào thai, dịch sát từ này.
(71)JRAS, 1901, p. 899.
(72)Treckner 212 f.
(73)ii, p. 898.
(74)MA, I, 514 f; Thig A 15, 19.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn