Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

10. Phẩm Phật Hương Tích

23/03/201107:55(Xem: 4253)
10. Phẩm Phật Hương Tích

GIẢNG GIẢI KINH DUY MA CẬT
Tác giả Lê Sỹ Minh Tùng

Chương Thứ Mười
Phẩm PHẬT HƯƠNG TÍCH

(Fragrance Accumulation Buddha)

Bấy giờ ông Xá Lợi Phất nghĩ rằng: giờ ngọ trai sắp đến, rồi đây chư Bồ-tát sẽ thọ thực bằng cái gì?

Đối với hàng Thanh văn hay các tu sĩ Tiểu thừa thì họ còn phân biệt thời gian cho nên sắp đến giờ ngọ là họ nghĩ đến việc ăn trưa. Vì mỗi ngày chỉ ăn một bửa trước giờ ngọ nên nếu lỡ quá ngọ mà chưa ăn thì họ phải nhịn ăn ngày đó. Trong khi đó những tu sĩ theo phái Đại thừa thì uyển chuyển hơn, không chấp, không phân biệt nên giờ nào ăn cũng được, một hay hai bữa cũng xong miễn sao ăn để sống, nuôi thân mà tu đạo.

Trưởng giả Duy Ma Cật biết được thâm ý của ông Xá Lợi Phất, bèn bảo rằng:

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Đức Phật dạy tám môn giải thoát ngài lãnh thọ thi hành. Há để xem tạp ý nghĩ về ăn trong lúc nghe pháp vậy sao? Nếu muốn ăn thì hãy đợi giây lát. Ngài sẽ được thức ăn chưa từng có.

Ông Duy Ma Cật liền nhập định, vận dụng sức thần thông khiến cho đại chúng thấy rõ, ở thượng phương thế giới trải qua bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật có quốc độ tên gọi là Chúng Hương. Hiện tại Đức Phật Hương Tích là giáo chủ.

Nước Chúng Hương có thứ hương thơm kỳ diệu, so với mùi thơm của các thế giới nhơn thiên. Các cõi nước chư Phật trong mười phương cũng không có thứ hương nào sánh được. Cõi nước đó, không có Thanh văn và Bích Chi Phật, chỉ có chúng đại Bồ-tat thanh tịnh. Đức Phật Hương Tích thường truyền pháp giáo hóa cho hàng đại Bồ-tát này. Thế giới Chúng Hương thường sử dụng toàn hương. Lầu các kiến tạo bằng hương. Đi kinh hành trên đất hương, vườn tược hoa cảnh cũng hương. Hơi hương là thức ăn của Phật, Bồ-tát ở quốc độ nầy. Hương nầy lan tỏa ngát thơm khắp vô lượng thế giới mười phương.

Lúc bấy giờ Đức Phật và chư Bồ-tát cùng ngồi thọ thực. Các Thiên tử cùng có hiệu Hương Nghiêm, những Thiên tử này đều đã phát tâm vô thượng Bồ-đề. Họ dâng thức ăn Hương để cúng dường Phật và Bồ-tát.

Tất cả đại chúng trong hải hội đều trông thấy sự kiện nầy.

Trong chương thứ nhất, kinh giới thiệu một chân lý là cõi tịnh độ nằm trong cõi uế độ Ta bà nầy nghĩa là tịnh và uế tuy hình tướng có khác nhau nhưng cùng một Bản Thể. Khi chúng sinh có tâm thanh tịnh thì thế giới chung quanh ta sẽ được thanh tịnh như cõi Phật tịnh độ. Đó là câu:”Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh”. Bây giờ trong phẩm nầy, kinh lại giới thiệu một cõi tịnh độ tên là Chúng Hương cách xa thế giới Ta bà bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật. Tại sao lại nói bốn mươi hai mà không phải bốn mươi mốt hoặc bốn mươi ba? Tại vì từ địa vị phàm phu đến quả vị vô thượng Bồ-đề phải trải qua bốn mươi hai đẳng cấp. Dựa theo Thập Huyền Duyên Khởi thì Chư Pháp Tương Túc nghĩa là thế giới này cũng là thế giới kia, Nhất Đa Tương Dung nghĩa là thế giới Chúng Hương và thế giới Ta bà tuy hai nhưng mà một vì tuy có hai thế giới, gọi hai tên khác nhau nhưng tất cả vẫn cùng chung trong “Nhất Chân Pháp Giới” nghĩa là tất cả là Một. Tại sao? Nếu thế giới Chúng Hương mà xa xôi vời vợi thì làm sao đại chúng thấy rõ được và chư Bồ-tát đi qua lại trong nháy mắt. Nếu không thấu hiểu thì dễ dàng nghĩ rằng đây là chuyện thần thoại hoang đường. Nói đến thế giới Chúng Hương nghĩa là có Đức Phật Hương Tích, có cơm thơm, có chư Bồ-tát và không có Thanh văn hay Bích chi Phật là kinh muốn ám chỉ các vị trong hàng Thanh văn cần chuyển tâm hẹp hòi, chấp trước của mình thành tâm Bồ-đề, rộng rãi như Bồ-tát cũng như bỏ cơm thường mà được cơm thơm, bỏ bàn ghế chật hẹp để được ngồi trên tòa sư tử, bỏ tâm ích kỷ mong cầu tịch diệt Niết bàn cho riêng mình mà phát tâm Bồ-đề cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và hành Bồ-tát đạo làm lợi ích cho chúng sinh. Cõi Ta bà có Thanh văn, Bích chi Phật trong khi thế giới Chúng Hương không có là muốn so sánh để các vị Thanh văn chuyển tâm mà quay về với Nhất Thừa Phật đạo. Kinh muốn nhắn nhủ rằng ngay cả hàng Thanh văn, Duyên giác thì con đường để viên thành Phật đạo vẫn còn xa, không nên tự mãn.

Khi giới thiệu cõi Chúng Hương thì kinh muốn nới rộng về sự ứng dụng của Lục Trần vì thật ra không nhất thiết chỉ có “nghe” hay “thấy” tức là “sắc trần” và “thanh trần” mới hoằng pháp, mới làm Phật sự được. Thí dụ như ăn cơm thì cơm làm bằng gạo lúa tức là sắc. Nhà cửa, cây cối, đất cát đều là sắc. Còn thuyết pháp thì Đức Phật Thích Ca dùng âm thanh tức là “Thanh Trần” để giảng dạy cho đệ tử nên những người tu theo âm thanh mà chứng quả thì gọi là hàng Thanh văn. Ở đây kinh giới thiệu một lối giảng dạy khác mà chúng sinh chưa quen thuộc nhưng rất thông dụng ở thế giới Chúng Hương nghĩa là tất cả đều là mùi hương. Đó là “Hương Trần” nghĩa là Đức Phật Hương Tích chỉ dùng mùi hương mà giáo hóa chúng sinh thay vì lời nói. Nói một cách khác chúng sinh ở thế giới Ta bà dùng “Nhĩ căn” để nghe pháp, học pháp, hành pháp và chứng đạo quả Niết bàn. Trong khi đó chúng Bồ-tát ở cõi Chúng Hương thì sử dụng “Tỷ căn” để ngửi mùi đạo, học đạo, hành đạo và chứng thánh đạo. Đức Phật Thích Ca dùng lời nói thuyết pháp lan tỏa mười phương thế giới thì Đức Phật Hương Tích dùng hương truyền pháp cũng lan tỏa trong khắp vô lượng thế giới mười phương. Thế thì phương tiện giáo hóa tuy có khác, nhưng cứu cánh độ chúng sinh, độ Bồ-tát đâu có khác gì nhau. Nói một cách khác hiện tượng tuy có khác, nhưng Bản Thể vẫn là Một.

Bấy giờ Trưởng giả Duy Ma Cật hỏi các chúng Bồ-tát trong hải hội rằng:

- Thưa chư nhơn giả! Trong đây ai có thể qua đến cõi Phật Hương Tích để có thể thỉnh một ít cơm thơm?

Do thần lực của Bồ-tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi, cả hải hội chư Bồ-tát đều im lặng.

Ông Duy Ma Cật nói:

- Cả đại chúng trong hải hội đều im lặng cả! Không đáng xấu hổ lắm sao?

Văn Thù Sư Lợi nói:

- Theo lời Phật dạy:”Không nên xem thường người chưa học”.

Ông Duy Ma Cật ngồi tại bản tòa, ở trước đại chúng, hóa hiện một Bồ-tát tướng hảo quang minh, uy đức hơn hẳn mọi người và sai bảo:

- Ông qua thượng phương vượt đây khoảng bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có một quốc hiệu tên gọi là Chúng Hương. Đức Phật cõi đó hiệu là Hương Tích. Phật và Bồ-tát đang cùng ngồi thọ thực. Ông hãy đến đó nói đúng như lời tôi rằng:

- Duy Ma Cật đê đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn trọng kính vô vàn, gởi đến lời thăm hỏi Đức Thế Tôn ít bệnh, ít não chăng? Mong Thế Tôn cho một ít cơm thừa đem về cõi Ta bà làm Phật sự khiến cho những người ưa pháp Tiểu thừa được mở mang trí tuệ phát chí Đại thừa, đi theo đại đạo và cũng khiến cho thanh danh của Như Lai được nhiều người nghe biết khắp cùng.

Lãnh hội lời dặn dò, ở trước đại chúng, vị hóa thân Bồ-tát liền bay lên thượng phương, trước sự chứng kiến của đại chúng. Đến thế giới Chúng Hương, hóa thân Bồ-tát lễ dưới chân Phật. Vào lúc này tất cả đại chúng ở cõi Ta bà đều nghe rõ lời bạch.

Các đại sĩ ở nước Chúng Hương trông thấy đức hóa thân Bồ-tát đều rất kính mộ và tán thán, đây là việc chưa từng có. Bậc thượng nhân này từ đâu đến. Ta bà thế giới cách đây bao xa. Sao gọi là những người ham ưa tiểu pháp. Bao nhiêu nghi vấn đặt ra và đem những việc đó thưa hỏi Đức Phật.

Đức Hương Tích Phật nói với chư Bồ-tát rằng ở hạ phương cách bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên Ta bà. Hiện nay đức Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ. Ta bà là cõi đời nhơ xấu năm trược hoành hành. Đức Phật Thích Ca vì chúng sinh ưa pháp Tiểu thừa, mở mang chuyển hóa khiến cho họ phá chí Đại thừa. Đức Phật có một Bồ-tát tên Duy Ma Cật hằng trụ trong cảnh giới giải thoát Bất Khả Tư Nghì, vì các Bồ-tát nói pháp. Vì thế, sai vị hóa thân Bồ-tát đến cõi này, nhằm xưng dương danh hiệu của ta và khen ngợi quốc độ Chúng Hương này, khiến cho Bồ-tát ở cõi Ta bà được tăng phần công đức.

Ông Duy Ma Cật là vị đại Bồ-tát thần thông quảng đại lại lẻ nào đi khinh chê đại chúng mà phải cần Bồ-tát Văn Thù nhắc nhở:” Không nên xem thường người chưa học”. Đây chỉ là cách đóng tuồng để vừa nhắc nhở mà cũng vừa an ủi mà không phật lòng ai. Nhắc lại khi Phật nói kinh Pháp Hoa để quy tam thừa về một là Nhất thừa Phật đạo thì có trên năm ngàn đệ tử bỏ đi cho nên kinh điển Đại thừa rất khó nghe, mà nếu nghe và thấm thấu thì mới liễu ngộ được giáo lý tối thượng đại thừa. Đoạn kinh nầy muốn nhắn nhủ rằng Bồ-tát phải làm những việc khó làm mà người khác làm không được. Ông Duy Ma Cật tự hiện thân thành một Bồ-tát khác, đến quốc độ Chúng Hương, bạch với Phật Hương Tích, xin bát cơm thơm rồi đem về. Tuy hiện tượng nhiều như thế nhưng chỉ xảy ra trong khoảnh khắc trước mắt mọi người. Điều này một lần nữa chứng minh rằng Ta bà là Chúng Hương và Chúng Hương chính là Ta bà tức là ứng dụng Nhất Đa Tương Dung vậy.

Ở đây kinh lại dùng một phương tiện khác để xác định chân lý: Tịnh, Uế là do tâm tạo. Cũng như ở chương một thì kinh nhấn mạnh :”Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh”. Ở chương nầy kinh lại giới thiệu một cõi Tịnh độ, nhưng thật ra cõi Tịnh độ nằm trong thế giới Ta bà này chứ không tìm đâu xa cả. Vì nếu xa thì làm sao những lời nói của hóa thân Bồ-tát với Phật Hương Tích mà đại chúng ở cõi Ta bà lại nghe rõ được. Như thế thì kinh muốn nói gì? Cho dù chúng sinh ở đâu, sống trong bất cứ thế giới nào mà không còn bị ràng buộc bởi Tham-Sân-Si, vô minh phiền não thì nơi đó, thế giới đó chính là cõi cực lạc, cõi Tịnh độ vậy. Nói rộng ra thì nếu chúng sinh có tư duy quán chiếu để tâm được hoàn toàn thanh tịnh thì ngồi đâu, đứng đâu cũng như nghe Pháp, nghe tiếng gì cũng nhẹ nhàng thanh thoát như tiếng chim Anh Vỏ, Bạch Hạc và nhìn cảnh giới nào cũng là cảnh thanh tịnh u nhàn cả.

Các Bồ-tát Chúng Hương hỏi Phật :

- Duy Ma Cật là người thế nào mà có thể hóa ra một Bồ-tát oai đức tròn đầy, thần thông quảng đại thế kia?

Phật đáp:

- Rất lớn! Chẳng những hóa một Bồ-tát mà còn có thể hóa vô số Bồ-tát đi đến vô số cõi nước trong mười phương để thi tác Phật sự lợi ích chúng sinh.

Đối với Bồ-tát không những làm được một việc khó làm mà Bồ-tát phải làm tất cả những việc khó làm để cứu giúp chúng sinh. Trong Phẩm Con Đường Phật, Bồ-tát chứng minh rằng vì muốn cứu giúp chúng sinh, họ sẳn sàng làm bất cứ việc gì và bất cứ ở đâu ngay cả những việc phi đạo. Các ngài thị hiện làm kẻ tham-sân-si, ham mê sắc dục, làm kẻ phá giới, làm người gian ác để làm gương cho chúng sinh thấy đó mà xa lánh. Đó chính là :”Bồ-tát hành phi đạo thị vi thông đạt Phật đạo” vậy.

Đức Hương Tích Như Lai lấy bình bát Chúng Hương đựng đầy một bát cơm hương và ban cho hóa thân Bồ-tát.

Lúc bấy giờ có chín trăm vạn Bồ-tát đồng thanh nói:

- Chúng tôi muốn đến thế giới Ta bà để cúng dường đức Phật Thích Ca Mâu Ni và muốn hội kiến với ông Duy Ma Cật và chúng Bồ-tát ở cõi Ta bà.

Đức Phật nói:

- Các Bồ-tát có thể đi, nhưng phải thu nhiếp hương thơm từ thân các ông. Đừng để cho các chúng sinh cõi kia sanh tâm đam mê nhiễm ái. Lại còn phải đổi thân hình vốn có của các Bồ-tát cõi nầy, đừng để cho chư Bồ-tát cõi Ta bà có mặc cảm tư ti. Lại nữa, khi diện kiến các ông không nên có trong lòng ý tưởng khinh thường mà dấy lên tư tưởng trở ngại không nên. Tại sao? Vì mười phương quốc độ đều như hư không. Chẳng qua, chư Phật vì giáo hóa những chúng sinh ham ưa tiểu pháp mà không hiện trọn vẹn cõi nước thanh tịnh đấy thôi.

Dưới mắt của người có tâm tham-sân-si, vô minh phiền não thì Ta bà này là cõi uế độ, là cảnh bất toàn, nhưng đối với người có tâm thanh tịnh cho dù họ ở đâu thì cảnh đó, thế giới đó đều trở thành thanh tịnh. Cũng trong thế giới Ta bà nầy mà chính Đức Phật Thích Ca và biết bao đại đệ tử của Ngài vẫn có được Niết bàn, vẫn sống an vui tự tại. Thế thì Tịnh, Uế là do tâm chớ không phải do cảnh. Do đó mười phương quốc độ đều là hư không, là thanh tịnh nếu chúng ta có tâm thanh tịnh. Chúng sinh vì dùng nhục nhãn mà nhìn thế gian nên thấy có phân biệt, hơn thua, tốt xấu, có ngã và ngã sở rồi sanh ra chấp pháp cho nên có phiền não khổ đau. Ngược lại chư Bồ-tát dùng tuệ nhãn mà hành thâm bát nhã ba-la-mật đa thì thấy tất cả là Không vì tất cả là huyễn hóa, là do duyên khởi tạo thành nên không chấp cái hình tướng bên ngoài nên không có tâm phân biệt tốt xấu cho nên không còn đau khổ, diệt hết mọi ưu phiền. Vì thế cõi nước của Bồ-tát được thanh tịnh là vậy.

Có ba điều kiện của Phật Hương Tích cho chín trăm vạn Bồ-tát khi họ đến viếng thế giới Ta bà:

1)Phải thu nhiếp thân hương để tránh chúng sinh ở cõi Ta bà mê đắm. Vì công đức tu hành thành tựu nên các vị Bồ-tát có hương thơm tỏa ngát thân người khác với chúng sinh ở cõi Ta bà nhơ nhớp, tội lổi, xấu xa. Nhưng nếu không thu nhiếp thân hương làm chúng sinh có tâm phân biệt thì không đúng lẽ của Bồ-tát.

2)Phải thu thân tướng to lớn trang nghiêm. Muốn đến cõi Ta bà mà đem nguyên thân hình đồ sộ to lớn thì làm sao hòa nhập được. Chúng sinh chẳng những không kính phục mà còn sợ hãi xa lánh thì cũng trái với Bồ-tát đạo.

3)Thế giới Ta bà không thanh tịnh trang nghiêm thì cũng không khởi tâm khinh thường vì Bồ-tát thì không có tâm phân biệt thiện ác, tốt xấu, thanh tịnh ô nhiễm.

Ba điều trên là muốn nhắc nhở các vị Thanh văn về vai trò của Bồ-tát. Họ làm những việc khó làm, không chấp phương tiện, không có tâm phân biệt và sau cùng Tịnh hay Uế là do tâm của chúng sinh chớ không phải do quốc độ.

Bấy giờ hóa thân Bồ-tát cung kính tiếp nhận bát cơm cùng chín trăm vạn Bồ-tát, nương sức oai thần Phật, chư Bồ-tát thốt nhiên không còn hiện diện ở thế giới Chúng Hương…trong khoảnh khắc sau, tất cả cùng có mặt ở trong tịnh thất của ngài Duy Ma Cật.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật hóa ra chín trăm vạn chiếc tòa sư tử cao rộng đẹp đẽ. Chư Bồ-tát trong hải hội đều ngồi lên bảo tòa…

Một lần nữa, áp dụng Chư Pháp Tương Túc và Nhất Đa Tương Dung vào trong trường hợp nầy thì cõi Chúng Hương chính là cõi Ta bà cho nên chỉ trong khoảnh khắc là chư Bồ-tát có mặt ở cõi Ta bà ngay. Nếu ở thế giới xa xôi vời vợi thì làm sao đến nhanh được như thế! Bây giờ ứng dụng Đồng Thời Cụ Túc thì quán trí thấy được Bản Thể dung thông vô ngại và vượt qua mọi hình tướng vật chất nên không có lớn nhỏ, rộng chật gì cả. Vì thế ông Duy Ma Cật tuy có hóa ra chín trăm vạn tòa sư tử to lớn, nhưng tất cả chỉ là tư tưởng, hình ảnh của những tòa sư tử mà thôi chớ không phải bằng vật chất. Thí dụ nếu chúng ta nhìn tòa nhà cao nhất thế giới thì toàn bộ hình ảnh của cái nhà cao lớn nầy hiện ra trong tâm thức của chúng ta mà không bị ngăn ngại gì cả bởi vì hình ảnh thì dung thông vô ngại, không chật không hẹp. Một thí dụ khác là khi chúng ta nghĩ đến vạn lý trường thành ở Trung quốc thì hình ảnh của cái thành dài thăm thẳm nầy nằm gọn trong tâm thức của chúng ta, đâu có chật hẹp gì. Nếu không thấu hiểu thì sẽ biến thành mê tín, thần thoại hoang đường.

Bấy giờ Hóa thân Bồ-tát đem bát cơm đầy ngào ngạt hương thơm dâng lên Bồ-tát Duy Ma Cật. Hơi thơm của cơm xông ngát thành Tỳ Xá Ly, lan tỏa khắp cả ba ngàn đại thiên thế giới.

Khi bấy giờ các Bà-la-môn, cư sĩ…nghe mùi hương thân tâm thanh thoát nhẹ nhàng và đồng khen ngợi là sự kiện nhiệm mầu xưa nay chưa từng có.

Bấy giờ, có vị trưởng giả tên Nguyệt Cái cùng với đoàn tùy tùng 84,000 người đi đến tịnh thất ông Duy Ma Cật. Khi đến tịnh thất mọi người trông thấy chúng đại Bồ-tát rất đông. Các tòa sư tử cao rộng rang nghiêm lộng lẫy. Tất cả mọi người vô cùng hoan hỉ lễ bái chư Bồ-tát chúng và các hàng đệ tử Thanh văn. Lễ xong, lui ra cùng đứng sang một phái. các địa thần, hư không thần, chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc nghe mùi hương cũng đến tịnh thất và xin được vào nghe pháp.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật nói với ông Xá Lợi Phất và các hàng đại Thanh văn rằng:

- Chư nhơn giả! Các vị sẽ được ăn cơm vị cam lồ của Như Lai. Cơm nầy do huân tập vô lượng đại bi mà có. Khi ăn không nên dùng tâm ý hạn hẹp suy lường mà làm cơm không tiêu hóa.

Bấy giờ, có vị Thanh văn chợt nghĩ rằng:

- Cơm ít mà đại chúng quá đông. Rồi đây mọi người sẽ ăn, rồi ai ăn ai nhịn?

Nhằm hóa giải mối nghi trong lòng đại chúng, hóa thân Bồ-tát tuyên bố:

- Thưa chư nhơn giả! Các ngài không nên dùng tiểu đức tiểu trí của Thanh văn mà cân lường phước đức trí tuệ của Như Lai. Nước bốn biển còn có thể hết chứ cơm nầy không thể hết. Giả sử mỗi người ăn một khối to bằng núi Tu Di, ăn trọn kiếp cũng không hết được. Vì đây là thức ăn thừa của đấng đầy đủ công đức giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến vô tận, làm sao hết được. Một bát cơm này, no lòng cho bao nhiêu đại chúng trong hội này hãy còn quá dư thừa. Vả lại, Bồ-tát, Thanh văn, nhơn thiên ăn cơm này rồi thân tâm thư thái, vui vẻ an nhiên giống như Bồ-tát ở cõi nước Nhất Thiết Lạc Trang Nghiêm. Lại nữa, sau khi ăn cơm này, từng lỗ chân lông sẽ tiết ra hương thơm kỳ diệu giống như mùi hương của các rừng cây thơm ở quốc độ Chúng Hương.

Nguyệt Cái nghĩa là cái lọng hình tròn như mặt trăng dùng để che mưa đở nắng của các vị tôn quý ngày xưa. Cơm hương ở đây không phải là cơm vật chất làm bằng lúa gạo như ở cõi Ta bà mà cơm là hương vị thì làm sao lấy bát mà đựng. Do đó cơm hương là muốn ám chỉ cho phước đức trí tuệ hương. Vậy hương ở đây chính là giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến hương cho nên nếu đem hương nầy phân chia cho toàn thế giới thì cũng không bao giờ hết. Vì thế chỉ có một bát cơm hương mà bao nhiêu người ăn cũng không hết là như vậy. Ngửi thấy mùi hương là thâm nhập giới định tuệ hương nên có giải thoát làm cho thân tâm được thanh thoát nhẹ nhàng. Khi mình đã có đủ giới định tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến hương thì chính mình đã có được sự an vui tự tại thanh thoát trong cuộc đời cũng như từng lỗ chân lông tiết ra mùi hương vậy. Mình có cuộc sống an vui thì chúng sinh sẽ bắt chước lối tu hành tốt đẹp này để có cuộc sống an lạc cho chính họ. Vì vậy hương thơm này lan tỏa vô cùng vô tận cũng như ngọn đèn Vô Tận Đăng tỏa ánh sáng chân lý huyền diệu không bao giờ tắt. Cơm hương mà đại chúng hưởng trong tịnh thất ông Duy Ma Cật chính là món ăn tinh thần để nuôi dưỡng phần tâm linh, là Pháp thực để nuôi Huệ mạng, là ngọn hải đăng để đưa con thuyền Bát nhã về bến giác ngộ.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật hỏi các Bồ-tát Chúng Hương rằng:

- Thưa chư đại sĩ! Đức Hương Tích Như Lai ở nước Chúng Hương giáo hóa chúng Bồ-tát bằng cách nào?

- Hương Tích Như Lai cõi nước chúng tôi không dùng ngôn ngữ văn tự thuyết mà chỉ lấy Hương, khiến cho nhơn thiên được đi vào luật hạnh. Các Bồ-tát thì ngồi dưới cội cây Hương nghe mùi hương vi diệu mà được Tam muội Nhất thiết Đức Tàng. Bồ-tát được tam muội ấy rồi tự có đầy đủ công đức.

Các Bồ-tát Chúng Hương hỏi lại:

- Thưa! Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn thuyết pháp bằng cách nào?

Bồ-tát Duy Ma Cật đáp:

- Cõi Ta bà chúng sinh cang cường khó giáo hóa, cho nên Đức Phật của chúng tôi phải thuyết những ngôn ngữ cang cường để mà điều phục. Phải nói địa ngục, súc sinh và ngạ quỷ. Phải nói: đấy là chỗ khốn nạn, đấy là chỗ những người ngu si thọ sanh. Phải nói đó là việc làm sai quấy của thân. Đó là lời sai trái của khẩu. Đó là quả báo của lời sai trái của khẩu. Đó là ý nghĩ tội lỗi của ý. Đó là quả báo của ý nghĩ tội lỗi của ý. Đấy là sát sinh, đấy là quả báo của sát sinh. Đấy là không cho mà lấy. Đấy là quả báo của việc không cho mà lấy. Đó là tà dâm. Đó là quả báo của tà dâm. Đó là vọng ngữ. Đó là quả báo của vọng ngữ. Đó là lưỡi hai chiều. Đó là quả báo của lưỡi hai chiều. Đó là ác khẩu. Đó là quả báo của ác khẩu. Đó là lời vô nghĩa. Đó là lời quả báo của lời vô nghĩa. Đó là tham lam. Đó là quả báo của tham lam. Đó là sầu não. Đó là quả báo của sầu não. Đó là tà kiến. Đó là quả báo của tà kiến. Đó là xan lẩn. Đó là quả báo của xan lẩn. Đó là hủy phạm giới. Đó là quả báo của hủy phạm giới. Đó là giải đải. Đó là quả báo của giải đãi. Đó là loạn ý. Đó là quả báo của loạn ý. Đó là ngu si. đó là quả báo của ngu si. Đó là trì giới. Đó là phạm giới. Đó là việc nên làm. Đó là việc không nên làm. Đó là chướng ngại. Đó là không chướng ngại. Đó là đắc tội. Đó là tiêu tội. Đó là tịnh. Đó là cấu. Đó là hữu lậu. Đó là vô lậu. Đó là tà đạo. Đó là chánh đạo. Đó là hữu vi. Đó là vô vi. Đó là thế gian. Đó là Niết bàn.

Vì những người khó giáo hóa, tâm như vượn, ý như ngựa cho nên Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn phải dùng nhiều ngôn từ phương tiện thuyết pháp để chế ngự tâm họ. Sau đó mới điều phục được. Ví như ngựa bất kham, voi cuồng bạo khó huấn luyện, phải sử dụng roi, dùi, đánh, chích thì mới điều phục được. Cũng như thế, chúng sinh cang cường nan hóa, phải dùng những lời khổ thiết như thế mới có thể đưa khép họ vào luật hạnh.

Đức Phật Hương Tích ở thế giới Chúng Hương thì dùng “Hương trần” để giáo hóa chúng Bồ-tát, trong khi đó ở cõi Ta bà này Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lại sử dụng “Thanh trần” để giáo hóa chúng sinh. Đoạn kinh muốn mở rộng tầm nhìn cho chúng sinh về lục trần thay về cố định, cứng ngắt ở nơi Thanh trần.

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có hai mươi lăm vị Thánh đệ tử dựa trên hai mươi lăm phương pháp khác nhau mà chứng đắc viên thông. Đó là sáu căn, sáu trần, sáu thức, và thất đại. Thí dụ ông Kiều Trần Như thì nhờ tu theo Thanh Trần tức là đi sâu vào bản tính nhiệm mầu của âm thanh mà chứng quả A La Hán. Ông Ưu-ba-ni-sa-đà tu theo Sắc tướng mà viên thông đạt đạo. Ông Bạt-đà-bà-là tu theo Xúc Trần mà được thánh quả. Ông A Na Luật tu theo Nhãn Căn mà đạt đạo và có được thiên nhãn. Ông Đại Ca Diếp tu theo Pháp Trần mà chứng quả A La Hán. Bồ-tát Phổ hiền tu theo Nhĩ Thức mà thành Bồ-tát. Ông Mục Kiền Liên tu theo Ý Thức mà chứng được diệu chân như tính. Ngài Trì-Địa Bồ-tát tu chứng về đại Địa. Ngài Nguyệt quang đồng tử viên thông về Thủy đại. Ngài Lưu ly quang Pháp vương tử tu theo Phong đại mà được viên thông. Ngài Đại Thế Chí tu theo Kiến đại mà thành Bồ-tát. Ngài Di Lặc tu theo Thức đại mà được viên thông vô ngại…

Thêm nửa, trong phẩm nguyên lý Bất Nhị có ba mươi mốt vị Bồ-tát sử dụng ba mươi mốt phương cách khác nhau, nhưng tất cả cùng đến chung một mục đích là chứng nhập pháp môn không Hai.

Cho dù sử dụng “Thanh Trần” như Đức Thích Ca để chúng sinh tiếp nhận bằng “Nhĩ căn” hay “Hương Trần” như Phật Hương Tích để chư Bồ-tát tiếp thọ bằng “Tỷ căn” thì phương tiện, cảnh giới tuy có khác nhưng cứu cánh vẫn là giải thoát giác ngộ.

Chúng sinh ở cõi Chúng Hương nghiệp nhẹ nên chỉ cần ngửi mùi hương là phát tâm tu hành “bất thối chuyển” trên đường vô thượng Bồ-đề.

Còn chúng sinh ở thế giới Ta bà thì phước mỏng nghiệp dày, cang cường khó giáo hóa nên Phật Thích Ca phải dùng lời nói cứng rắn để giáo hóa, điều phục họ.

Đối với bậc thượng căn lợi trí thì Đức Phật dùng phương pháp nhẹ nhàng, chỉ nói cho họ về phước đức, công đức, trí tuệ và giải thoát Niết bàn khiến họ phát tâm bất thối chuyển. Còn đối với bậc hạ trí độn căn, nghiệp chướng sâu dày, cang cường khó giáo hóa thì Phật bất đắc dĩ phải đem những cảnh tượng địa ngục hãi hùng, kiếp súc sanh khổ sở làm cho họ kinh sợ, thức tỉnh mà quay về với chánh đạo.

Đức Phật chỉ cho họ thấy cái quả dữ rồi mới giáo huấn, chỉ dạy phương cách để tạo nhân lành. Dạy họ kiềm chế sáu căn để điều phục tam nghiệp thân khẩu ý cho được thanh tịnh. Dạy họ quán cuộc đời bất tịnh phiền não khổ đau để được giải thoát tịch diệt của Niết bàn.

Trong Phật giáo không có địa ngục thật và dĩ nhiên không bao giờ có cảnh súc sanh, ngạ quỷ địa ngục cho những người không có tâm tham-sân-si, mà địa ngục là chỉ do Nghiệp Thức biến hiện. Khi người mới chết thì thần thức thấy những hình tượng đầy vẻ ma quái rùng rợn như muốn nhảy tới phanh thây, nhai nuốt người chết. Tất cả những hiện tượng kinh hoàng đó thật ra đều do nghiệp lực mà chiêu cảm nhưng Thần thức không biết nên tin là thật. Do đó địa ngục là do tâm biến hiện chớ không do đấng thiêng liêng nào kiến tạo sẳn để trừng trị tội hồn. (Xin đọc Luân Hồi trong sách Phá Mê Khai Ngộ cùng tác giả để hiểu thêm).

Các Bồ-tát Chúng Hương đồng tán thán rằng:

- Đức Thích Ca mâu Ni thế Tôn làm việc khó làm, dấu đi sức tự tại vô lượng của mình mà vui lấy pháp khó khăn độ thoát chúng sinh. Các Bồ-tát cõi Ta bà đây cũng hết sức nhọc nhằn khiêm tốn, do lòng đại bi vô lượng mới nguyện sanh ở cõi Phật này.

Ông Duy Ma Cật nói:

- Đúng như chư đại sĩ nói, Bồ-tát cõi Ta bà, đối với chúng sinh lòng đại bi rất kiên cố, nhưng được cái ưu việt là làm lợi ích chúng sinh trong một đời công đức nhiều hơn trăm ngàn đời làm lợi ích chúng sinh ở cõi nước của các ngài. Vì sao? Vì thế giới Ta bà có mười việc thiện pháp mà các cõi Tịnh độ khác không có.

1)Lấy bố thí đem giúp đỡ kẻ nghèo.

Cõi Ta bà chúng sinh thiếu phước báo nên nghèo khổ, cần sự giúp đỡ, bố thí. Còn ở Tịnh độ thì Bồ-tát có đầy phước báu nên không cần bố thí.

2)Lấy trì giới đem gương mẫu cho người phạm giới.

Cõi Ta bà chúng sinh chạy theo tham đắm dục tình nên trì giới giúp họ lánh xa tham dục mà được tâm thanh tịnh. Ngược lại ở Tịnh độ chư Bồ-tát luôn giữ giới hạnh, tâm thanh tịnh thì làm gì có trì giới.

3)Lấy nhẫn nhục đem dạy khuyên người hung bạo.

Người thế gian vì sống trong vô minh đen tối nên tâm tánh thô lỗ, hung bạo, dễ giận hờn nên nhẫn nhục đem lại cho họ sự an lành tự tại. Trong thế giới tịnh độ thì ai ai cũng hòa khí, từ bi hỉ xả thì nhẫn nhục còn dùng vào đâu được.

4)Lấy tinh tấn đem gương mẫu cho kẻ biếng lười.

Người thế gian thì lười biếng, làm ít mà muốn hưởng nhiều, không tu mà muốn thành chánh quả, sợ khó nhọc mà chùn bước nên tinh tấn giúp họ tăng trưởng thêm ý chí, lòng dũng mãnh. Thế giới tịnh độ thì mọi người đều siêng năng tu tập, phát tâm cầu vô thượng Bồ-đề thì đâu cần nhắc đến tinh tấn.

5)Lấy thiền định đem dạy người loạn ý.

Chúng sinh ở cõi Ta bà thì suy nghĩ quay cuồng, “tâm viên mã ý” làm cho cuộc sống thêm điên đảo cho nên thiền định làm tâm an định, tiêu trừ vọng tưởng. Ngược lại thế giới tịnh độ thì lúc nào cũng an lành thì thiền định đâu còn cần thiết.

6)Lấy trí tuệ đem giáo hóa người ngu si.

Chúng sinh vì tham đắm lục dục thất tình mà tâm bị si mê cho nên trí tuệ sẽ đánh tan vô minh hắc ám làm cho tâm trí được trong sáng. Cõi tịnh độ thì làm gì có si mê, tâm thanh tịnh thì trí tuệ lúc nào cũng chiếu sáng.

Đây chính là lục độ của Bồ-tát để đối khán với lục tệ của phàm nhân trong cõi Ta bà này.

7)Nói pháp trừ nạn hóa độ người bát nạn.

Chúng sinh vì sống trong vô minh điên đảo nên tự mình tạo ra biết bao hoạn nạn cho nên Bồ-tát mới đem chánh dạo mà giáo hóa giúp họ phá trừ vô minh vọng chấp thì hoạn nạn tất phải tiêu trừ. Trong khi đó Bồ-tát sống trong cõi tịnh độ có tâm hồn trong sáng, không còn điên đảo khổ đau thì đâu cần học pháp.

8)Lấy pháp đại thừa đem hóa độ người yêu thích tiểu thừa.

Cõi Ta bà có Tiểu thừa nên mới cần Bồ-tát hướng dẫn tu theo Đại thừa mà viên thành Phật đạo. Còn ở cõi tịnh độ thì không có Tiểu thừa, không có ngoại đạo thì Bồ-tát không có mục tiêu giáo hóa, không có duyên lành làm việc lợi tha.

9)Lấy pháp thiện căn khuyến hóa người vô đức.

Chúng sinh ở thế giới Ta bà phước mỏng nghiệp dày nên cần phải tu để vun bồi thiện phước, ngược lại Bồ-tát ở cõi tịnh độ thì dĩ nhiên có phước đức tràn đầy.

10)Thường lấy pháp tứ nhiếp dẫn dụ giáo hóa chúng sinh.

Nguyên nhân của sự hổn loạn xấu xa trong bất cứ xã hội nào cũng bắt đầu từ lòng ích kỷ. Nhân loại đang quằn quại khổ đau, nồi da xáo thịt cũng vì lòng tham lam ích kỷ mà ra. Vậy người Phật tử muốn theo dấu chân Phật thì phải mở lòng từ bi, xả bỏ tánh ích kỷ, không nên quá chú trọng đến mình mà quên người, không nên chỉ lo giác ngộ cho mình mà không tìm cách giúp người cùng giác ngộ vì thật ra mình và chúng sinh là một khối, không thể phân chia ra được. Vì vậy nếu biết áp dụng tứ nhiếp pháp tức là biết bố thí, biết nói lời an ủi, khuyên lơn, biết làm lợi ích cho người và sau cùng là biết hòa mình vào cuộc sống của chúng sinh để cứu giúp họ thì cuộc đời nầy sẽ bớt đau thương và mang lại biết bao niềm vui, nụ cười cho những người kém may mắn. Trong khi đó ở cõi tịnh độ thì mọi người sống trong hòa bình, thân ái với nhau thì tứ nhiếp pháp đâu còn cần thiết nữa.

Đây là sự khác nhau giữa hai cõi Tịnh độ và Uế độ. Ở cõi Tịnh độ thì các vị Bồ-tát thuần phục nên Phật Hương Tích chỉ cần dùng hương cũng đủ giáo hóa. Trong khi đó thì chúng sinh ở cõi Ta bà cang cường khó điều phục. Chúng sinh với cái vỏ cứng vô minh quá dày, lòng tham đắm quá sâu và đâu đâu cũng đều có chấp cho nên Đức Phật Thích Ca cùng chư Bồ-tát với lòng đại bi vô lượng, đức kiên cố vô cùng làm những việc khó làm để độ tất cả chúng sinh giúp họ quay về với chánh đạo. Thí dụ như ở Hoa Kỳ, dân trí cao, người công dân rất tuân phục luật pháp cho nên ngoài đường phố không cần phải có nhiều cảnh sát mà vẫn an ninh trật tự. Trong khi đó ở Mễ Tây Cơ thì dân trí thấp kém, nghèo đói nên luật pháp không được tôn trọng vì thế trộm cướp, băng đảng hoành hành khắp mọi nơi. Người cảnh sát ở Mỹ thì rảnh rỗi trong khi ông cảnh sát ở Mễ thì bận rộn tối ngày mà còn sợ bị bắn chết.

Chúng sinh trong cõi Ta bà phước mỏng nghiệp dày nên bị trầm luân khổ não cho nên thế giới Ta bà có mười thiện pháp mà cõi Tịnh độ không có được. Vì sự khổ nhọc chuyên cần làm lợi ích cho chúng sinh nên Bồ-tát trong cõi Ta bà này tuy tạo công đức chỉ trong một đời mà còn nhiều hơn trăm ngàn kiếp tu hành trong những thế giới khác. Một thí dụ điển hình là ở Việt Nam, Thái Lan, hay Miến Điện người Phật tử phần lớn là nghèo, cuộc sống khó khăn nên họ dễ hòa nhập với Phật pháp. Họ đi chùa, tụng kinh niệm Phật là việc thường vì họ muốn có cuộc sống tốt hơn ở mai sau. Trong khi đó ở Hoa kỳ hay những nước văn minh tân tiến thì người dân có mức sống khá cao, đẩy đủ và quá bận rộn nên họ không chú trọng về vấn đề tâm linh. Do đó vấn đề hoằng pháp ở Mỹ phải khó hơn ở Việt Nam.

Các Bồ-tát Chúng Hương hỏi:

- Bồ-tát ở thế giới Ta bà thực hành những pháp gì không bị thương tổn, không mắc mứu để có thể sanh sang ở tịnh độ.

Ông Duy Ma Cật đáp:

- Bồ-tát ở cõi này thành tựu được tám pháp thì không còn lầm lỗi và được sanh về cõi Tịnh độ:

1)Làm lợi ích chúng sinh mà không mong cầu đền đáp (vô cầu) . Thi ân bất cầu báo nghĩa là làm ơn mà không cầu đền ơn đáp nghĩa hay cho người vật gì mà không tiếc nuối.

2)Thay tất cả chúng sinh, gánh chịu những thiệt thòi khổ não (từ bi). Thông thường khi con mình bị đau bệnh hay chết chóc thì cha mẹ thường hay than thở muốn gánh chịu nổi khổ đau của con mình. Cái tâm này chính là tâm Bồ-tát khi thấy chúng sinh đau khổ, thiệt thòi. Đây là việc khó làm mà làm được mới gọi là Bồ-tát.

3)Bao nhiêu công đức mình làm đều ban hết cho tất cả chúng sinh (hỉ, xả, lợi tha). Ngay cả việc tu hành, gây dựng công đức thì Bồ-tát cũng cho hết tất cả chúng sinh. Gầy dựng công đức là việc khó làm mà có rồi lại đem cho hết là việc rất khó làm vì thế Bồ-tát mới thong dong tự tại là như vậy.

4)Dưới khiêm nhường chúng sinh, trên cung kính Bồ-tát. Cứ sống rất khiêm tốn, rất tầm thường miển sao mình giữ được phẩm chất đạo đức của con người thì sẽ không có tự ti hay tự phụ mà rất bình đẳng đối với chúng sinh. Cung kính Bồ-tát không có nghĩa là vái lạy để cầu xin điều nầy điều nọ. Mà cung kính là tán thán việc làm lợi ích cho chúng sinh và nguyện sẽ đi vào con đường mà Bồ-tát đã và đang làm.

5)Cầu học những điều chưa biết, không nghi ngờ. Phật pháp có cạn có sâu vì căn cơ chúng sinh cao thấp không đều cho nên rất nhiều kinh điển liễu nghĩa thượng thừa thì người sơ cơ khó thấu hiểu. Không hiểu không có nghĩa là kinh điển nói sai mà khả năng thu nhận của mình còn thấp. Ngày xưa khi Phật nói Kinh Pháp Hoa thì có trên năm ngàn đệ tử bỏ đi vì không đồng ý với lời Phật dạy.

6)Không chống trái với hàng Thanh văn (không khinh chê người tu kém mà phải dùng phương tiện hay để dẫn dắt họ tiến lên). Toàn bộ triết lý Đại thừa không ngoài mục đích khuyến khích hàng Thanh văn tiến tu mà hoàn thành Phật đạo chớ đừng tự mãn ở địa vị A La Hán. Nói một cách tổng quát là Bồ-tát luôn khuyến khích chúng sinh tiếp tục tu học để phát triển trí tuệ mà tự giải thoát cho mình chớ đừng ham vui ở những cảnh giả tạm của thế gian.

7)Không ganh ghét tật đố, không khoe mình chê người. Đây là muốn nhắc nhở chúng sinh phá chấp ngã, chấp pháp để mở rộng tâm Bồ-đề.

8)Thường xét lỗi mình, không nói đến lỗi của người, hằng nhất tâm cầu công đức. Ngày xưa Lục Tổ Huệ Năng cũng nói rằng:”Nếu là người tu đạo chân thật thì không thấy lỗi lầm của người khác trong thế gian”. Cái khó trong thế gian là lúc nào con người cũng thấy lỗi của người mà không nhìn lại lỗi của mình. Luật nhân quả đã khẳng định là cho dù người khác có làm lỗi lầm gì chăng nửa thì chính họ phải nhận chịu quả nghiệp sau nầy. Nhân quả của người khác thì chúng ta không thể nhận chịu thay thế cho họ mà quan trọng nhất là chú ý đến nhân quả của mình. Không thấy lỗi của người mà luôn xét lỗi của mình để tu tâm dưỡng tánh thì công đức mới được vun bồi.

Nếu Bồ-tát thực hành đứng đắn tám phương thức ở trên hay nói một cách rộng rãi là cho tất cả những ai muốn tu theo hạnh Bồ-tát Đại thừa thì chính họ đã phá được chấp ngã, chấp pháp, phát triển tâm từ bi hỉ xả mà làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Không còn tánh tham tật đố, dưới cứu giúp chúng sinh trên mong viên thành Phật đạo. Không tán kỷ hủy tha, khen mình chê người. Chỉ nhìn lỗi mình mà không thấy lỗi người. Làm mà không chấp việc mình làm và nếu có được chút ít công đức gì thì ban hết cho chúng sinh cùng thành Phật đạo.

Khi thành tựu tám pháp ở trên thì Bồ-tát được sanh về cõi Tịnh độ, nhưng thật ra nếu Bồ-tát hay bất cứ chúng sinh nào thành tựu tám pháp ở trên thì chính họ đã được giải thoát rồi. Chính họ đang sống trong cõi Tịnh độ thế gian rồi chứ đâu cần phải sanh về cõi nào nữa. Đây chính là thâm ý của kinh vậy. Ngược lại nếu chúng sinh còn chấp ngã, chấp pháp, tánh tham tật đố không chừa thì cho dù có vào được cõi Tịnh độ thì cũng vẫn sống trong điên đảo khổ đau như thường. Nhắc lại muốn được vãng sanh về cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà thì chúng sinh phải niệm Phật đến chỗ Nhất Tâm Bất Loạn thì mới được Phật đến rước. Nhất tâm là tâm không còn vọng tưởng, không còn tạp niệm, tâm rỗng rang thì cái tâm nầy chính là Chơn tâm, là tự tánh thanh tịnh bản nhiên, là Phật tánh của tất cả mọi người. Có được cái tâm nầy thì chính mình đang sống trong cõi Tịnh độ rồi chớ còn tìm Tịnh độ ở nơi nào nữa. Đây mới là giáo lý tối thắng Đại thừa vậy.

Tới đây một số Phật tử vẫn còn thắc mắc về cảnh giới Tịnh độ Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà, chúng tôi xin đăng nguyên văn một đoạn trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng để quý vị tư duy quán chiếu:

Vị Sứ Quân đảnh lễ rồi nói:

- Đệ tử thấy Tăng chúng, đạo, tục, thường niệm A Di Đà và nguyện vãng sanh Tây phương. Xin hòa Thượng giải thích rõ cho đệ tử xem người ta có thật sự vãng sanh ở đó được không, ngỏ hầu để dẹp tan mối nghi ngờ của đệ tử?

Lục Tổ đáp:

- Sứ quân lắng nghe, Huệ Năng tôi sẽ giải thích cho ông. Thế Tôn lúc ở Xá Vệ quốc, thuyết giảng về Tây phương để dẫn hóa chúng sinh. Kinh văn nói rõ ràng rằng:”Tây phương cách đây không xa. Chỉ vì muốn dạy những người có căn cơ thấp mới nói là xa, còn nói gần là để dạy người có trí tuệ cao. Tuy con người có hai loại, Pháp chẳng hề có “bất đồng”. Giữa mê và ngộ có sự khác biệt, cũng như kiến giải có mau có chậm. Kẻ mê thì niệm Phật hy vọng vãng sanh Tây phương, người ngộ chỉ thanh tịnh tâm mình. Cho nên Phật nói:”Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh”.

Sứ quân! người ở phương Đông (ám chỉ chúng sinh ở cõi Ta bà) nếu chỉ cần tịnh tâm là lập tức hết tội chướng. Người ở Tây phương Tịnh độ mà tâm không tịnh là lập tức có lỗi lầm. Kẻ mê nguyện vãng sanh Đông phương hay Tây phương, còn người ngộ thì bất cứ ở đâu cũng là Tịnh độ cả. Chỉ cần tâm không có bất tịnh thì cõi Tây phương chẳng cách xa đây. Còn như tâm mà khởi bất tịnh thì dù có niệm Phật để cầu vãng sanh cũng khó mà đạt được. Trừ được mười điều ác tức là đi được mười vạn dặm, không có tám điều tà là đã vượt qua được thêm ngàn dặm. Song nếu tu hành Chơn tâm, mình sẽ thấy Tây phương trong nháy mắt.

Sứ quân! chỉ nên lo tu thập thiện, cần gì phải nguyện vãng sanh. Nếu như ông không đoạn cái tâm làm mười điều ác, Phật nào đến đón ông đây? Nếu giác ngộ được giáo pháp đốn ngộ vô sanh, chỉ trong sát na là ông thấy Tây phương. Nếu như không ngộ giáo lý đốn ngộ của Đại thừa, con đường niệm Phật để mong vãng sanh quá xa vời, làm sao mà đạt đến được?

Lục Tổ nói:

- Để Huệ Năng tôi trong một sát na (một giây) dời Tây phương đến ngay trước mắt cho Sứ quân thấy. Sứ quân có muốn thấy chăng?

Sứ quân cúi lạy nói:

- Nếu như đệ tử có thể thấy Tây phương ở đây, còn cần gì phải vãng sanh nữa. Xin Hòa Thượng từ bi làm cho Tây phương hiễn hiện trước mắt đệ tử thì tốt lắm thay!

Lục Tổ dạy:

- Đại chúng! Xin hãy cẩn thận lắng nghe. Sắc thân của người đời là một thành phố. Mắt, mũi, tai, lưỡi là cửa thành. Bên ngoài có năm cửa, bên trong có cửa của ý thức. Tâm tức là đất, Tánh tức là vua. Tánh còn thì vua còn, Tánh đi thì vua không còn. Tánh còn thì thân tâm còn, Tánh đi thì thân tâm hoại. Phật là do tự Tánh mà ra, chớ nên hướng ra ngoài thân mà cầu. Mê mờ tự Tánh thì Phật là chúng sinh, giác ngộ tự Tánh thì chúng sinh tức là Phật. Từ bi là Quán Thế Âm, hỷ xả là Đại Thế Chí, năng tịnh là Thích Ca, bình đẳng chơn thực là Di Lặc, nhân ngã chấp là núi Tu Di, tà tâm là biển lớn, phiền não là sóng, tâm độc là rồng dữ, trần lao là cá rùa, hư vọng là thần quỷ, tam độc là địa ngục, ngu si là súc sanh, thập thiện là thiên đường. Nếu không chấp nhơn ngã, núi Tu Di tự lở, trừ tà tâm, nước biển lập tức cạn. Không có phiền não, sóng tự nhiên hết. Trừ độc hại, cá rồng sẽ hết. Hãy để giác Tánh Như Lai trên tâm địa của mình, phóng ánh sáng trí tuệ lớn, chiếu sáng sáu cửa và bằng ánh sáng thanh tịnh ấy chiếu phá sáu cõi trời của Dục giới. Nếu bên trong tự Tánh chiếu sáng, tam độc sẽ bị trừ và địa ngục sẽ lập tức tiêu diệt. Nếu trong ngoài gì đều trong sáng thấu suốt thì đây cũng chẳng khác gì Tây phương. Nếu như không tu hành pháp môn này, làm thế nào có thể đến bên ấy được?

Lục Tổ dạy thêm:

- Này các thiện tri thức! Nếu như muốn tu hành, tại gia cũng được, không cần phải ở chùa. Nếu như ở chùa mà không tu thì có khác chi những người ở Tây phương Tịnh độ mà tâm địa độc ác. Còn ở tại gia mà tu hành thì cũng như người ở Đông phương mà tu thiện pháp. Chỉ cần ở tại gia mà tu thanh tịnh thì đó tức là Tây phương!

Ông Duy Ma Cật và Bồ-tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi ở giữa đại chúng nói thời pháp ấy rồi, trăm ngàn trời, người phát tâm vô thượng Bồ-đề. Mười ngàn Bồ-tát được vô sanh pháp nhẫn.

Tóm lại trong phẩm nầy ông Duy Ma Cật muốn mở rộng kiến thức cho hàng Thanh văn hay cho tất cả đại chúng để họ thấy rằng sự hiểu biết của họ vẫn còn nông cạn, vẫn còn chấp trước. Ông Duy Ma Cật giới thiệu một cõi Tịnh độ Chúng Hương của Phật Hương Tích là muốn nhắn nhủ với đại chúng là đừng chấp phương tiện mà hãy nhìn xa vào cứu cánh. Thế giới Ta bà Phật Thích Ca dùng Thanh Trần mà giáo hóa còn chúng sinh thì dùng Nhĩ Căn mà thọ nhiếp. Trong khi đó ở cõi Chúng Hương Phật Hương Tích dùng Hương Trần mà hoằng pháp trong khi chư Bồ-tát thì dùng Tỷ Căn mà tu và hành đạo. Phương tiện có khác, thế giới có khác nhưng tựu trung vẫn là giải thoát giác ngộ thì có khác gì nhau. Kinh này là “Quyền giáo” nghĩa là những hiện tượng thần thông biến hóa chỉ là thí dụ chớ đừng vội tin là “Thật”. Kinh ca ngợi tán thán công đức của Phật Thích Ca và chư Bồ-tát ở cõi Ta bà nhiều phiền não khổ đau nầy vì họ đã, đang và sẽ làm những việc rất khó làm. Cuối cùng trọng tâm của kinh cũng không ngoài mục đích nhắn nhủ với chúng sinh vẫn là “Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh” nghĩa là bất cứ ở đâu mà có tâm tịnh thì cõi đó là Tịnh độ, ngược lại cho dù có ở trong thế giới Tịnh độ mà tâm cấu thì Tịnh độ thành ra cõi Ta bà.
Chương Thứ Sáu
Phẩm Bất Tư Nghì
(The Inconceivable Liberation)

Bất khả tư nghì có nghĩa là vượt ra ngoài những khái niệm suy tư phân biệt về sự hiểu biết thông thường của con người. Vì thế sự kiện bất khả tư nghì cũng được hiểu là những hiện tượng chưa từng có, chưa từng xảy ra mà nay có.

Dựa trên định nghĩa trên thì ông Duy Ma Cật là người bất tư nghì. Ông thuyết bất tư nghì pháp và trình diễn bất tư nghì cảnh cho bất tư nghì đại chúng để khởi động bất tư nghì tâm.

Ông Xá lợi Phất thấy trong tịnh thất không có giường cũng chẳng có chiếc ghế nào. Ông bèn khởi ý nghĩ: Tịnh thất trống trơn như thế nầy, chư Bồ-tát và Thanh Văn chúng tôi sẽ ngồi vào đâu?

Biết ý nghĩ của ông Xá Lợi Phất, trưởng giả Duy Ma Cật bèn hỏi:

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! ngài vì pháp đến đây hay vì chỗ ngồi mà đến?

- Tôi vì pháp mà đến chớ không phải vì chỗ ngồi. Ngài Xá Lợi Phất đáp.

Trưởng giả Duy Ma Cật là người giàu có, vợ con tôi tớ đầy nhà nhưng ông dùng thần thông làm cho bàn ghế biến mất chỉ còn căn tịnh thất trống không. Nhà trống không tiêu biểu cho tâm thanh tịnh và bàn ghế biến mất là ám chỉ cho vạn pháp giai không. Muốn thấy được Chân lý, chúng sinh bên trong phải phá cho được ngã chấp và bên ngoài đánh tan mọi pháp chấp thì tâm được như như bất động.

Người Phật tử thông thường thì đến chùa lạy Phật vì thấy chùa đẹp, Phật to. Đây chỉ là phương tiện để gieo duyên dành cho những người sơ cơ có cơ hội quy y trở về với đạo Phật và chưa thấu hiểu đạo lý huyền diệu của liễu nghĩa Đại thừa. Vì chùa to, Phật lớn chỉ là Phật Tướng sinh diệt mà Phật tâm tức là tự tánh thanh tịnh bản nhiên bất sinh bất diệt mới quan trọng. Phật tánh là Bản Thể chân không thì không hình tướng, màu sắc, kích thước, trọng lượng thì đã có sẳn trong tâm của tất cả mọi chúng sinh. Vì thế chỗ ngồi, nơi lạy Phật là sắc tướng sinh diệt thì quan tâm làm gì cho nên khi về chùa thì ngồi đâu cũng được thậm chí ngồi ngoài hiên mà tâm thanh tịnh thì vẫn thông đạt giáo pháp như thường. Cầu pháp là tu học để thấy được Phật tâm của mình mà có được giải thoát giác ngộ thì mới là cứu cánh. Do đó từ nay về chùa nghe Pháp mới là cứu cánh chớ đừng quan tâm đến cơm chay hay cảnh chùa to Phật lớn vì người Phật tử đến với Tam Bảo thì chùa to, chùa nhỏ có khác gì nhau. Tuy nhiên cổ nhân cũng có câu:”Chùa đất Phật vàng” nghĩa là tuy là chùa tranh vách lá nhưng lại có cao Tăng đắc đạo.

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! người thực tâm cầu pháp, thân mạng còn không đáng tiếc hà huống phải quan tâm nghĩ đến chỗ ngồi. Cầu pháp phải quên đi cái thân ngũ uẩn. Cầu pháp phải đóng bít kín lục căn, cắt dứt lục trần và vô hiệu hóa tất cả lục thức.

Đi nghe pháp cốt là để học chánh pháp, hành chánh pháp và sống đúng theo chánh pháp vì thế người cầu pháp cho đến thân mạng của mình cũng không tham tiếc thì chỗ ngồi có xá gì. Do đó khi đã sống đúng với chánh pháp thì không còn gì để bám víu cả ngay cả chánh pháp cũng phải bỏ, quên đi thì tâm không còn dính mắc và sẽ được an vui tự tại. Lúc đó con người mới trở về được với Căn Bản Trí tức là Vô Phân Biệt Trí nghĩa là thấy tất cả mà như không thấy gì hết hay là như không thấy gì hết mà thật ra thấy tất cả. Biết tất cả mà như không biết gì hết hay là như không biết gì hết mà biết tất cả.

Cầu pháp không cầu những phiền trược tương quan trong cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô Sắc.

Tất cả những pháp như sắc, tài, danh, lợi…là những pháp ràng buộc con người vào trong các cõi Dục, cõi Sắc và cỏi Vô Sắc thì không nên cầu.

- Thưa ngài Xá Lợi Phất!

Người cầu pháp không phải vì ham quả vị Phật.

Chúng sinh đến chùa nghe pháp với tâm cầu một ngày nào đó sẽ được thành Phật, nhưng đây chỉ là giáo lý phương tiện Tiểu thừa, là giáo lý bất liễu nghĩa. Còn kinh điển giáo lý liễu nghĩa tối thượng thừa thì cầu pháp là không cầu gì hết vì bất cứ cầu việc gì cho dù đó là cầu thành Phật thì cũng là tham. Dù là tham Bồ-đề, tham Niết bàn thì vẫn là tham, vẫn còn dính mắc thì tự tánh thanh tịnh không hiễn bày. Nếu vì tham mà cầu Bồ-đề, cầu Niết bàn, cầu thành Phật…thì đã quên đi Bồ-đề, Niết bàn đã có sẳn trong chúng sinh chớ còn ở đâu nữa mà cầu. Nói một cách khác nếu cầu như vậy là chúng sinh đã bỏ mất quả vị Phật của chính mình rồi. Một khi đã quên đi quả vị Phật của mình tức là quên đi Phật tánh, quên đi tự tánh thanh tịnh bản nhiên hay là Như Lai Viên Giác Diệu Tâm của chính mình thì tìm ở đâu cho có quả vị Phật. Vì thế chúng sinh đi trên con đường Bồ-tát thì làm bất cứ việc gì có lợi ích cho chúng sinh mà không cần phải cầu cho thành Phật. Khi đạt đến đỉnh cao tột cùng của trí tuệ Bát nhã Ba-la-mật thì chúng sinh nhận chân Chân lý tức là thành Phật. Cũng như trăm ngàn con sông, con suối mà nếu có được nước trong thì ánh trăng vẫn chiếu rọi được như thường. Và cho dù đồi cao núi thẳm mà không có mây đen che lấp thì bầu trời trong sáng như nhau. Nếu tâm hồn không còn phiền não vô minh thì tự tánh Niết bàn tịch diệt hiện ra mà không cần mong cầu trông đợi và khi Bồ-đề tự tánh đạt đến đỉnh cao giác ngộ thì chúng sinh là Phật chớ Phật ở đâu nửa mà cầu.

Tóm lại, dựa theo Lý Tánh tuyệt đối thì Phật Bảo cũng không cầu, Pháp Bảo cũng không đắc và Tăng Bảo cũng không trụ bởi vì trong thế giới Chân không thì Phật, Pháp, Tăng vốn là Một tức là Nhất Thể Tam Bảo thì đã có sẳn trong chúng ta. Vì thế nếu chúng sinh bỏ được tâm mong cầu, không còn ngã chấp, pháp chấp thì Chân lý sẽ hiện bày.

Cầu pháp không phải vì đam mê giáo pháp.

Giáo pháp của Như Lai chính là ba tạng kinh điển: Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng cũng chỉ là phương tiện, là ngón tay chớ không phải là cứu cánh giải thoát giác ngộ hay là ánh sáng huyền diệu của mặt trăng. Nếu chúng sinh cầu pháp, học kinh mà đam mê theo giáo pháp thì cũng như xuống bè rồi ham mê chiếc bè mà quên đi cứu cánh là đến bờ bên kia. Dầu giáo pháp có huyền diệu hay ho đến đâu cũng chỉ là phương tiện mà chúng sinh có thực hành mới được thực chứng tức là dùng bè để qua sông chớ không tham đắm say mê chiếc bè. Cũng như nương theo ngón tay để thấy ánh trăng chân lý và khi thấy được ánh sáng chân lý thì nên bỏ quên ngón tay cũng như bỏ quên chiếc bè mới có thể bước được lên bờ giác ngộ.

Cầu pháp không phải vì cảm tình với chúng Tăng.

Người Phật tử thường sống với cảm tình nên nghĩ rằng chỉ đi chùa của mình và chỉ ủng hộ chùa hay thầy của mình mà thôi. Nhưng thật ra cầu pháp là cốt để học chánh pháp, hành chánh pháp và sống theo chánh pháp cho nên bất cứ vị thầy nào nói đúng theo chánh pháp, đúng với chân lý và có thể đem lại sự lợi lạc cho việc tu học của mình thì chúng sinh thọ pháp. Cảm tình vì thương thầy, muốn bố thí cúng dường để được gọi là thí chủ hạng nhất mà không nghe được giáo pháp để tu tập hướng về giải thoát giác ngộ là mê muội, là thiếu sáng suốt, là lổ lã, là tự chuốc lấy khổ đau về sau.

Không vì thấy Khổ mà cầu pháp. Không vì đoạn Tập mà cầu pháp. Không vì chứng đắc Niết Bàn mà cầu pháp. Và cũng không vì nguyên nhân chứng đắc Niết Bàn mà cầu pháp.

Tại sao? Bởi vì pháp không phải hý luận.

Nếu nói rằng ta vì thấy Khổ, vì đoạn Tập, vì chứng Niết Bàn, vì tu Đạo mà cầu pháp thì pháp đó trở thành hý luận, không phải cầu pháp.

Đối với người tu tiểu thừa tức là giáo lý phương tiện thì họ thấy có mình tu tức là còn chấp ngã, thấy có pháp môn để tu, có chúng sinh để độ và còn Niết bàn để chứng đắc tức là còn chấp pháp nên họ còn lanh quanh lẩn quẩn trong thế giới của sắc tướng hữu vi nên không thể nào chứng nghiệm thế giới thanh tịnh vô vi được. Nói chứng đắc chứ thật ra không có chứng đắc gì cả. Tại sao? Cái mà chúng ta gọi là chứng đắc chính là “bổn tính cố hữu” hay “bản lai diện mục” tức là Phật Tánh vốn đã có sẳn trong tất cả mọi người. Chúng sinh không thấy biết nó là vì bị màng vô minh dày đặc che lấp. Nếu xóa tan được màng vô minh hắc ám nầy thì ánh sáng huyền diệu của chân lý sẽ hiễn hiện ra ngay. Nếu chúng sinh lìa xa tham đắm lợi danh thì tự tánh Niết bàn xuất hiện mà không cần phải cầu mong trông đợi gì hết. Đối với hàng tiểu thừa thì họ nhìn đời tức là thế giới hữu vi tục đế bằng nhục nhãn nên họ thấy sự sinh diệt vô thường của vạn pháp khiến tâm bất tịnh mà cố tu để cầu chứng Niết bàn ngỏ hầu tìm sự an vui tự tại. Trong khi đó giáo lý liễu nghĩa tối thượng đại thừa thì nhìn thế giới vũ trụ bằng trí tuệ Bát nhã ba-la-mật nên trong tướng Không chẳng có cái gì gọi là Khổ, chẳng có cái gì là nguyên nhân của sự khổ và dĩ nhiên tự tánh thanh tịnh bản nhiên luôn luôn có sẳn trong tất cả mọi chúng sinh thì Niết bàn còn dùng vào đâu được mà cầu với chứng.

Thưa ngài Xá Lợi Phất!

Pháp là tịch diệt. Nếu biểu hiện qua hành vi sanh diệt thì đó là cầu sanh diệt, chớ không phải là cầu pháp.

Pháp là vô nhiễm. Nếu nhiễm ở pháp cho đến nhiễm Niết Bàn thế là cầu nhiễm chớ không phải là cầu pháp.

Pháp không năng hành, sở hành. Nếu dụng ý hành ở nơi pháp, đó là cầu năng hành, sở hành chớ không phải cầu pháp.

Pháp không có thủ xả. Đối với pháp mà có ý thủ xả, đó là cầu thủ xả chớ không phải là cầu pháp.

Pháp không có xứ sở. Nếu chấp nê xứ sở, đó là cầu xứ sở chớ không phải cầu pháp.

Pháp là vô tướng. Nếu dựa trên tướng để nhận biết, đó là cầu tướng chớ không phải là cầu pháp.

Pháp không được trụ. Nếu trụ ở nơi pháp, đó là cầu trụ chớ không phải là cầu pháp.

Pháp không phải là thấy, nghe, hiểu biết. Nếu biểu hiện qua thấy, nghe, hiểu biết đó là cầu thấy, nghe, hiểu biết chớ không phải cầu pháp. Vì vậy cho nên:

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Nếu là người cầu pháp, đối với tất cả không nên khởi ý niệm Cấu.

Pháp là tịch diệt, không sanh diệt cho nên nếu để tâm thanh tịnh thì sẽ được an nhiên tự tại. Pháp là vô nhiễm cho nên nếu còn tham đắm ngay cả chứng đắc Niết bàn thì đó là ô nhiễm. Pháp không tạo tác cho nên bất cứ việc gì có lợi ích cho chúng sinh thì làm mà làm xong thì bỏ không nhớ đến. Pháp không có thủ xả và xứ sở bởi vì người biết nhập chủng Tánh đại thừa thì chỗ nào tu cũng được. Tu nhà cũng tốt, tu chợ cũng hay và tu chùa cũng tiện. Thật ra tu nhà hay tu chợ thì khó hơn tu chùa bởi vì ở nhà và ở chợ thì gặp nhiều cảnh trái ý nghịch lòng và tiếp xúc nhiều chúng sinh xấu ác nên có nhiều cơ duyên thực hành Bồ-tát đạo. Pháp là vô tướng vì nếu còn chấp có tướng giàu nghèo, cao thấp, đẹp xấu là tâm còn phân biệt, chấp trước, không bình đẳng. Pháp không được trụ ở bất cứ pháp môn nào mà phải tùy thuận theo chúng sinh mà hoan hỷ hướng dẫn họ tu hành. Căn cơ chúng sinh sai khác nên nếu ai thích niệm Phật thì cùng họ niệm Phật, ai muốn tham thiền thì cùng họ tham thiền nhập định, ai muốn trì chú thì cùng họ tu trì thần chú mật ngữ. Pháp môn nào cũng tốt cả như trăm sông cùng đổ về biển lớn là giải thoát giác ngộ.

Dựa theo giáo lý Tiểu thừa tức là pháp sắc tướng sinh diệt thì thấy cuộc đời khổ đau nên họ cầu vui, cầu hạnh phúc. Mà có cầu, có xin là tâm còn tham đắm. Nhưng dựa theo triết lý Đại thừa thì khi chúng sinh làm một việc thiện thì chính họ đã có sự lợi ích rồi. Bởi vì làm việc thiện thì tâm thức được tự tại, thân tâm được an vui và dĩ nhiên luật nhân duyên quả báo sẽ tự động đền bù cho họ những phước đức sau nầy cho dù họ có cầu hay không. Thêm nữa chúng sinh thường hồi hướng việc làm tốt của mình cho mọi loài chúng sinh để cùng sớm thành Phật đạo. Một lần nữa tư tưởng nầy chỉ áp dụng cho giáo lý tiểu thừa tức là giáo lý phương tiện vì chúng sinh còn cầu mong sớm được thành Phật. Giáo lý tiểu thừa thì nương vào năng cầu sở cầu, năng nguyện sở nguyện mà một khi còn năng nở thì con người vẫn còn vướng mắc vào vòng bất ý, bất toại nguyện. Ngược lại giáo lý liễu nghĩa đại thừa thì không cần phải hồi hướng, không mong cầu bất cứ việc gì ngay cả quả vị Phật vì bản nguyên chúng sinh đã là Phật rồi.

Nói tóm lại, cầu pháp theo tinh thần Đại thừa là không cầu một cái gì hết vì nếu chúng sinh biết học chánh pháp, biết hành chánh pháp và biết sống theo chánh pháp thì trong ta đã có đầy đủ những đức tính Thường, Lạc, Ngã, Tịnh rồi. Bởi vì các pháp không sanh không diệt nên nói là Thường, lúc nào cũng an nhiên tự tại nên gọi là Lạc, là chủ sinh là muôn pháp nên gọi là Ngã và không bị cấu nhiễm nên gọi là Tịnh. Thêm nữa, Bồ-đề và Niết bàn là vô tại vô bất tại tức là nó không có ở đâu hết mà không ở đâu chẳng có Bồ-đề, Niết bàn. Nó không có trong con người nào hết nhưng không có con người nào là không có Bồ-đề, Niết bàn. Do đó kinh nói :”Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh” nghĩa là một khi tâm mình đã tịnh thì thế giới chung quanh mình sẽ là cõi Tịnh độ. Vì thế nếu tâm đã thanh tịnh thì có Bồ-đề, Niết bàn mà khỏi phải cầu cái gì hết. Còn tâm không thanh tịnh thì có cầu cũng không bao giờ có. Cũng như khi đào ao thì khỏi phải trông chờ trăng sao gì hết, miễn là cái ao làm xong có nước trong đứng lặng thì trăng sao sẽ rọi vào mà thôi.

Ông Duy Ma Cật nói xong những điều trên, bấy giờ có năm trăm thiên tử đối với các pháp có được cái nhận thức thanh tịnh (đắc pháp nhãn tịnh).

Các vị trời nhờ tu mười điều thiện mà có phước báo lành. Nay nhờ nghe được những lời mầu nhiệm của ông Duy Ma Cật mà thấy được thế giới của Bản Thể Chân Như thì tâm không còn mong cầu tham đắm mà chỉ thực hành Bồ-tát đạo cho được viên mãn. Họ như người mù được sáng, người mê được tỉnh và thấy được chân lý.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật hỏi Bồ-tát Văn Thù rằng:

- Nhân giả từng vân du vô lượng vô số cõi nước. Ngài biết cõi Phật nào có tòa sư tử đẹp nhất do công đức trang nghiêm thành tựu?

- Có. Thưa cư sĩ. Bồ-tát Văn Thù đáp.

Ở về phương Đông, từ đây phải trải qua ba mươi sáu hằng hà sa nước, có thế giới tên Tu Di Tưởng, đức Phật ở cõi nước đó hiệu Tu Di Đăng Vương đang trụ thế. Thân Phật lớn hơn tám muôn bốn ngàn do tuần. Tòa sư tử của Phật cũng cao tám muôn bốn ngàn do tuần, lộng lẫy trang nghiêm bậc nhất.

Ông Duy Ma Cật vận dụng hiện sức thần thông khiến ba muôn hai ngàn tòa sư tử lộng lẫy trang nghiêm cao rộng tự chuyển vào trong tịnh thất của ông trong khoảnh khắc.

Chư Bồ-tát, các đệ tử, Đế Thích, Phạm Thiên nghĩ rằng việc nầy từ trước đến nay chưa từng thấy. Chu vi ngôi tịnh thất hữu hạn chừng ấy, lại bao dung cả ba muôn hai ngàn tòa sư tử đồ sộ thế kia mà không chướng ngại gì nhau. Thành Tỳ Xá Ly cũng có chừng mực phạm vi của nó thế mà mọi hiện trạng đều y nguyên như cũ, không chật chội hơn chút nào!

Cư sĩ Duy Ma Cật bây giờ mới bắt đầu biểu diễn chân lý Bất khả tư nghì giải thoát. Giải thoát Bất tư nghì là sự giải thoát mà chỉ có một mình mình biết và một mình mình hay mà thôi. Người kế bên cũng không hề cảm biết ngoại trừ những bậc có trí huệ tức là trình độ nhận thức chân lý và trình độ trí tuệ tu tập ngang nhau thì mới biết được. Nhưng người học Phật nếu muốn thể nhập sâu sắc chân lý huyền diệu nầy mà không bị rơi vào mê tín dị đoan và có thể cắt nghĩa được những Bất Tư Nghì Sự của Bồ-tát thi thố để hiểu đúng những Bất Tư Nghì Pháp của Bồ-tát nói và có thể thật thấy mà không phải thấy thật những Bất Tư Nghì Cảnh Giới mà Bồ-tát trình diễn thì tuyệt đối không được khởi niệm tin rằng ông Duy Ma Cật có tài phép biến hóa như một nhà ảo thuật hay một vị thôi miên, phù thủy.

Bồ-tát trụ trong Pháp Môn Bất Tư Nghì nên có thể làm tất cả việc Bất Tư Nghì bởi vì Bồ-tát biết sử dụng Quán Trí Bất Tư Nghì để thấy và biết rõ tánh duyên khởi huyền diệu của vạn pháp. Vì thế khi nói đến Bất khả tư nghì mà chúng sinh không vận dụng công phu trong việc “Tư Duy” “Quán Chiếu” để thể nhập Thập Huyền Duyên Khởi thì không thể nào hiểu đúng được tông chỉ mục đích của kinh.

Thập Huyền Duyên Khởi là mười sự duyên khởi huyền diệu của tất cả vạn pháp trong thế giới nhân sinh vũ trụ nầy mà được giải thích trong bộ Kinh Hoa Nghiêm Sớ Sao và bộ Tham Huyền Ký của ngài Hiền Thủ. Đó là:

1)Đồng Thời Cụ Túc Tương Ưng: Trong mỗi một pháp nào đồng thời cũng có đủ, hàm chứa tất cả các pháp khác trong vũ trụ. Thí dụ một giọt nước có đủ của muôn ngàn sông biển.

2)Nhất Đa Tương Dung Bất Đồng: Nghĩa là về số lượng, một và nhiều vật có thể dung nạp lẫn nhau mà không phá hoại cái tướng riêng biệt của mỗi vật. Thí dụ như có ngàn cây nến đang cháy trong một gian phòng, nhưng ngọn đèn này lẫn hiệp với ngọn đèn kia mà ngọn đèn nào cũng có ánh sánh riêng của nó.

3)Chư Pháp Tương Tức Tự Tại: Pháp nầy dung thông pháp kia và pháp kia dung thông pháp nầy tức là trong pháp nầy hàm chứa chủng tử của tất cả pháp kia và trong pháp kia có chứa chất liệu chủng tử của chất nầy. Vì thế chủng tử của vạn pháp trùng trùng duyên khởi cho nhau, tương tức tương nhập một cách tự tại. Thí dụ như chất vàng với sắc vàng, hai pháp ấy không rời nhau.

4)Quảng hiệp tự tại vô ngại: Nghĩa là một vật gọi là lớn, chưa hẳn là lớn. Một vật gọi là nhỏ, chưa hẳn là nhỏ. Nhờ cái Lý dung thông, một vật nhỏ như đầu mảy lông có thể chứa cả càn khôn vũ trụ mà không chật. Nói một cách khác, trong pháp giới, sự sự đã vô ngã, dung thông thì quan niệm về sự rộng hẹp, lớn nhỏ đều là những danh từ suông.

5)Nhân Đà La Võng Cảnh Giới: Nhơn-đà-la tức là phiên âm chữ Indra là cõi trời Đế Thích. Theo Bà-la-môn giáo thì trên cõi trời Nhơn-đà-la có các màn lưới bằng bửu châu; mỗi hạt bữu châu chói hiện đến muôn trượng, hạt này, hạt khác chói sáng lẫn nhau lớp lớp không cùng tận. Pháp môn nầy thì cũng thế. Trong mỗi pháp có nhiều pháp khác và trong nhiều pháp khác lại có nhiều pháp khác nữa. Cứ thế nhân mãi lên cho đến vô cùng vô tận. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng:”Tất cả thế giới đều như thế giới màn lưới Nhơn-đà-la.

6)Vi Tế Tương Dung An Lập: nghĩa là rộng hẹp tự tại vô ngại. Dù vật nhỏ cách mấy như một mảy may hay ở một điểm vi tế nào cũng hàm dung chất liệu của tất cả hiện tượng vạn pháp. Thí dụ như một giọt nước thì bao gồm bởi nhiều hạt nước, mà mỗi hạt nước gồm nhiều hóa chất. Mỗi hóa chất gồm biết bao nguyên tử và mỗi nguyên tử thì gồm nhiều điện tử và cái nhân. Mỗi thứ đều dung nhau và an lập trong nhau.

7)Bí Mật Ẩn Hiện Câu Thành: Nghĩa là một pháp có nhiều phương diện, khi phương diện này hiện thì phương diện kia ẩn và khi phương diện kia ẩn thì phương diện nầy hiện. Trong ẩn có hiện, trong hiện có ẩn, ẩn hiện đắp đổi nhau mà thanh tựu. Sự ẩn hiện cũng không nhất định cái nào sau cái nào trước, cũng không ngăn ngại chống đối nhau. Thí dụ có một pho tượng bằng vàng. Nếu chúng ta chú ý đến vàng thì không chú ý đến cái đẹp của pho tượng. Ngược lại khi chú ý đến cái đẹp của pho tượng thì không chú ý đến chất vàng. Nói tóm lại, khi cái đẹp hiện thì vàng ẩn và khi vàng hiện thì cái đẹp ẩn.

8)Mười Đời Cách Pháp Dị Thành: Đây muốn nói thời gian mặc dù cách biệt nhau từ quá khứ đến hiện tại qua tương lai, nhưng chính nhờ thế mà các pháp được thành tựu một cách dễ dàng. Đáng lẽ ra chỉ nói quá khứ, hiện tại và tương lai là đủ, nhưng muốn chia một cách rốt ráo, tinh vi thì Kinh chia làm mười đời. Đó là trong quá khứ cũng gồm có quá khứ, hiện tại, vị lai, trong hiện tại và tương lai cũng thế. Như vậy có tất cả chín đời, nhưng nếu chia nhỏ như thế mà không có ý niệm tổng quát so sánh liên hệ với nhau thì cũng không có ý niệm với thời gian. Vì thế cho nên ngoài chín niệm riêng biệt cộng thêm một niệm tổng quát thành ra mười.

9)Chủ, bạn,viên minh công đức: Nếu ta lấy một pháp làm chủ thì các pháp khác là bạn. Chủ và bạn nương nhau làm đầy công đức, lớp lớp không cùng tận. Thí dụ như mặt trăng sáng trên không trung chiếu rọi khắp sông ngòi, đồi núi, ao hồ làm cho cảnh vật khắp nơi càng thêm rạng rỡ.

10)Thác Sự Hiểu Pháp Sanh Giải: Nghĩa là nhờ Sự mà hiểu được Lý, nhưng khi Lý đã rõ thì Lý lại lan rộng làm cho chúng ta hiểu rộng sâu xa qua nhiều sự khác. Thí dụ như vết dầu lan ra trên mặt nước, chỉ một tia lửa có thể bừng cháy rất xa.

Thập Huyền Duyên Khởi giúp chúng sinh có được một cái nhìn sâu xa về sự duyên khởi của tất cả vạn pháp trong thế gian vũ trụ nầy. Theo tinh thần của Hoa Nghiêm thì giải thoát mà vẫn không phá hoại thế gian tướng nghĩa là không phải phủ nhận thế gian tướng mà có thể tìm thấy giải thoát ở một nơi nào khác. Nói một cách khác nếu chúng sinh phân biệt được chân, vọng để khử trừ điên đảo khiến cho tâm được thanh tịnh thì có giải thoát. Có thấu hiểu Thập Huyền Duyên Khởi thì khi đọc đến phẩm Bất Tư Nghì mới không còn nghĩ rằng Bồ-tát làm những chuyện phi lý, ảo tưởng, hoang đường.

Trong Phật giáo thì sự phát triển trí tuệ tùy theo khả năng nhận biết chân tướng của nhân sinh vũ trụ.

1)Đối với phàm nhân thì họ nhìn cuộc đời, thế gian vũ trụ bằng nhục nhãn tức là bằng đôi mắt thịt nghĩa là cái gì có hình sắc, kích thước, âm thanh, mùi vị…thì họ cho là thật. Họ tin thân mình là thật nên còn chấp ngã, tin thế gian vũ trụ là thật nên còn chấp pháp. Vì còn chấp ngã, chấp pháp nên tham-sân-si, mạn nghi, tà kiến phát tác mà tạo ra nghiệp để phải chịu quả khổ đời đời.

2)Nhất Thiết Trí: Các vị Thanh văn không nhìn đời bằng nhục nhãn như phàm nhân mà họ nhìn thế gian bằng Pháp nhãn. Họ thấy thân mình là không thật, là tạm bợ, là dơ dáy, là cội nguồn của những nổi khổ nên họ cố tu để chứng đắc sự an lạc của Niết bàn và tìm sự giải thoát quả vị Bồ-đề. Chẳng những nhìn thân mình không thật mà họ còn nhìn cả thế gian vũ trụ cũng không thật nên chán ngán cuộc đời và tránh xa bụi trần ô nhiễm. Vì thế hàng Thanh văn thì chấp ngã không còn tức là Ngã Không, nhưng vì còn thấy có pháp môn để tu, có Niết bàn để chứng, có đạo quả Bồ-đề để đắc nên họ vẫn còn chấp Pháp tức là Pháp có. Cho nên cái trí tuệ của họ không phải là trí tuệ giải thoát tự tại mà vẫn còn dính mắc của Pháp nên trí tuệ nầy là Nhất Thiết Trí.

3)Đạo Chủng Trí: Đối với các vị Bồ-tát thì họ nhìn thế gian vũ trụ bằng Tuệ nhãn tức là họ hành thâm bát nhã ba-la-mật để thấy rằng ngũ uẩn giai không. Dưới mắt của họ thì thế gian vũ trụ là do duyên khởi tạo thành nên tất cả đều là giả huyễn, là không thật, là Không. Vì ta là giả, là không thật nên họ có ngã không. Ta không thật thì người và thế gian vạn vật cũng không thật nên họ có pháp không. Nói một cách tổng quát dưới mắt của Bồ-tát thì thế gian vũ trụ là Không. Mặc dù biết thế gian là Không, nhưng Bồ-tát vẫn còn chấp cái Không nên tâm không được hoàn toàn tự tại và trí tuệ chưa hoàn toàn sáng suốt triệt để nên cái trí tuệ nầy gọi là Đạo Chủng Trí.

4)Nhất Thiết Chủng Trí: Hàng Thanh văn thì chấp Pháp có và các vị Bồ-tát thì vẫn còn chấp Không. Nếu bây giờ bỏ được chấp Pháp có và chấp Không tức là không còn chấp có pháp môn để tu, có Niết bàn để chứng, có quả vị Bồ-đề để thành và không còn chấp thế gian vũ trụ là Không thì có được trí tuệ viên mãn, dung thông tự tại mà nhà Phật gọi là Nhất Thiết Chủng Trí. Nhất Thiết Chủng Trí thì thấy vạn pháp là Có nhưng không phải là Có thật, còn Không nhưng không phải là không của cái trống không. Vì vạn pháp do nhân duyên hòa hợp nên vạn pháp sanh và khi nhân duyên tan rã chia ly thì vạn pháp diệt. Thế thì vạn pháp do nhân duyên hòa hợp nên sanh sanh diệt diệt, diệt diệt sanh sanh mà người được Nhất Thiết Chủng Trí thì luôn luôn tự tại trước sự sanh diệt, diệt sanh của hiện tượng vạn pháp nên không cần phải tiêu cực như hàng Thanh văn và cũng không cần phủ nhận tất cả như các vị Bồ-tát mà phải thấy vạn pháp nầy có mà không phải có thật. Mặc dầu không phải có thật mà hiện giờ nó vẫn có vì thế nên người có Nhất Thiết Chủng Trí làm bất cứ cái gì cần làm để giúp đở cho tất cả chúng sinh mặc dù chúng sinh là không có thật. Đây chính con đường trung đạo dung thông giữa cái Có và cái Không và chỉ có Phật mới đạt được cái trí tuệ nầy.

Khi Bồ-tát trụ Bất Tư Nghì Giải Thoát để làm những việc Bất Tư Nghì là cách vận dụng ngôn ngữ để chuyên chở trí tuệ Bất Tư Nghì của con người đã thành tựu Nhất Thiết Chủng Trí tức là trí huệ của một vị Phật, của một bậc Chánh đẳng Chánh giác.

Cách nay trên mấy ngàn năm khi khoa học chưa phát triển như ngày nay mà Đức Phật Thích Ca đã cho chúng sinh một khái niệm về thế giới vũ trụ bao la vô cùng vô tận. Ngài thường ví mỗi thế giới như một hạt cát của sông Hằng. Trong kinh nầy Bồ-tát Văn Thù đại diện Phật mà nói rằng ở về phía hướng Đông cách trái đất của chúng ta ba mươi sáu lần cát của sông Hằng thì có một quốc độ là Tu Di Tưởng và Đức Phật hiệu là Tu Di Đăng Vương Như Lai.

Kinh điển Phật giáo Đại thừa, mỗi khi giới thiệu một vị Phật hay một vị Bồ-tát thì kinh thường ám chỉ một đức tính cao quý, một ý nghĩa thiêng liêng huyền diệu như trong phẩm Bồ-tát có nói đến Đức Nan Thắng Như Lai. Trong phẩm nầy, kinh lại giới thiệu Đức Tu Di Đăng Vương Như Lai nghĩa là ngọn đèn vua tức là ngọn đèn sáng nhất, chiếu soi xa nhất và cao nhất trên núi Tu Di. Nhưng thật ra tất cả những đức tính trên là muốn ám chỉ cho Chân tâm, Phật tánh bất sanh bất diệt sáng soi vô cùng vô tận có sẳn trong tất cả mọi chúng sinh.

Mỗi tòa sư tử cao rộng 84,000 do tuần mà một do tuần dài 30 km. Cho nên tòa sư tử cao rộng 2,520,000 cây số vuông. Vậy mà ông Duy Ma Cật dùng sức thần thông đem về 32,000 tòa sư tử cao rộng như thế và đặt hết vào trong cái tịnh thất của ông, ngay cả thành Tỳ Xá Ly và xóm làng cũng không chật chội hơn chút nào.

Dựa trên sự kiện này, kinh Duy Ma Cật muốn nói gì đây? Và chúng ta là người Phật tử phải tin hiểu cách nào?

Tại sao đem 32,000 tòa sư tử to lớn như thế mà đặt vào tịnh thất cho được? Phải chăng đây là chuyện ảo tưởng, hoang đường?

Bồ-tát trụ Bất tư nghì giải thoát tức là Bồ-tát đã thành tựu Bát nhã ba-la-mật. Tất cả những vật chất trong thế gian nầy mà kinh Lăng Nghiêm gọi là Sắc thì gọi là địa đại. Khi Bồ-tát trụ Bất tư nghì giải thoát cũng giống như Quán Tự Tại Bồ-tát trong Tâm Kinh đã xác định rằng:” Quán tự tại Bồ-tát hành thâm bát nhã ba-la-mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. Vì thế ông Duy Ma Cật cũng hành thâm bát nhã ba-la-mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không để thấy sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc và sắc tức là không và không tức là sắc, thọ tưởng hành thức cũng như vậy. Trong khi đó kinh Lăng Nghiêm cũng nói thêm rằng:”Tánh sắc chơn không, tánh không chơn sắc, thanh tịnh bản nhiên trang biến pháp giới tùy chúng sinh tâm ứng sở ứng tri lượng tuần nghiệp phát hiện”. Khi Bồ-tát đã có trí tuệ sáng suốt triệt để thì họ nhìn sắc tức là không. Không ở đây chính là đương thể bất không tức là không chẳng khác sắc. Vì Thể Tánh của Sắc có tính thanh tịnh bản nhiên nhưng sở dĩ nó có là tùy theo tâm lượng hay theo sự yêu cầu của chúng sinh mà ứng hiện. Cho nên nếu Bồ-tát có tâm cầu cở nào thì nó phát hiện cở ấy còn không cầu thì nó không có. Nói một cách khác là Bản Thể của vật chất là Không nghĩa là Sắc tức là Không.

Nếu đứng về phương diện sắc Tướng thì mới có sự phân biệt cao thấp, to lớn, rộng hẹp. Nhưng ở đây kinh muốn nói đến Thể Tánh tức là tánh Không của Bát nhã thì làm gì có lớn nhỏ, cao thấp. Tánh Không thì không có hình tướng, kích thước nên tất cả vạn pháp dung thông rất tự tại. Thể Tánh, Chân Không tức là Phật Tánh, Chơn Tâm là tâm thanh tịnh bản nhiên của tất cả chúng sinh. Chính cái Chơn Tâm có khả năng chuyển biến xoay vần, duyên khởi tác dụng vạn pháp vào nhau hình thành một cách mầu nhiệm mà chúng ta gọi là thần thông biến hóa. Ngày xưa các vị đại đệ tử của Phật như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên... sau khi đã được tâm thanh tịnh thì tự nhiên họ cũng phát hiện những thần thông tự tại. Còn ở đây ông Duy Ma Cật đã thành tựu Nhất Thiết Chủng Trí tức là trí tuệ của một vị Phật thì khả năng thần thông biến hóa còn xa biết bao, không thể nghĩ bàn.

Thêm nữa, muốn đừng hiểu đây là chuyện phi lý, hoang đường, thần thoại thì chúng sinh phải biết Quảng Hiếp Tự Tại Vô Ngại tức là rộng hẹp tự tại vô ngại mà tư duy quán chiếu về Thập Huyền Duyên Khởi để hiểu hiện tượng nầy bằng trí, thấy bằng trí cho nên thấy thật chân lý mà không phải thật thấy. Không thật thấy vì không thể nào đặt 32 ngàn tòa sư tử vào trong cái tịnh thất được, nhưng chúng có thể thấy thật là vì chúng ta thấy hiện tượng nầy bằng trí vì Nhất Đa Tương Dung tức là một và nhiều tương dung nhau, Chư Pháp Tương Túc Tự Tại nghĩa là cái nầy là cái kia và cái kia có cái nầy, Đồng Thời Cụ Túc Tương Ứng tức là một pháp có đủ, chất liệu của vạn pháp.

Vi Tế Tương Dung An Lập là bất cứ vật chất nào trong thế giới vũ trụ nầy thì cái nhỏ (vi tế) vẫn tương dung trong cái lớn và ngược lại tức là nếu chúng ta lấy một mẫu cực nhỏ của vật chất thì nó cũng bao hàm tất cả những đặc tính của vật chất ấy cho dù vật chất nầy to lớn như hành tinh vũ trụ. Thí dụ như khoa học ngày nay, chúng ta chỉ cần lấy một mẫu DNA của bất cứ con người, súc vật hay vật chất nào thì mẫu DNA nầy là bao gồm tất cả những tính đặc thù của vật chất đó. Bây giờ hãy quan sát pháp Đồng Thời Cụ Túc Tương Ứng môn. Đó là bất cứ một vật gì trong thế gian vũ trụ nầy cũng bao hàm đầy đủ tất cả những chất liệu của vạn pháp và tự nó ứng hợp, duyên khởi mà hình thành. Nói một cách khác bất cứ vật chất gì cũng từ lục đại duyên khởi mà ra. Đó là chúng phải có đầy đủ đất, nước, gió, lửa, không gian và thức mà duyên sanh và khởi sanh để tạo thành con người, cây cỏ, nhà cửa, áo quần, xe cộ, ly chén, bát đỉa, thức ăn thức uống và hành tinh vũ trụ. Khi nói là vật và tâm nhưng Bản Thể của chúng vẫn là một. Vật là hình tướng và tâm là năng lực để hình tướng có thể hoạt động. Thí dụ như khi cầm cái ly thì cái ly nầy đã có đủ đất, nước, gió, lửa, không khí và thức (năng lực) để duyên khởi mà kết thành cái ly. Còn nếu đem cái ly ra phân tích dựa theo khoa học thì nó có biết bao hóa chất như khoáng, nước, khí, đồng, kẻm, chì, oxgen…hợp lại. Bây giờ chúng ta nên biết pháp Nhất Đa Tương Dung Bất Đồng nghĩa là một là một của tất cả và tất cả là tất cả của những cái một dung nhiếp quyện chặt vào nhau. Nói một cách khác một là tất cả và tất cả là một. Trong thế giới vô cùng vô tận nầy thật ra cũng bắt đầu từ những vật chất rất vi tế mà duyên khởi tác tạo hình thành. Đây chính là sự biến hiện thay đổi của không gian và thời gian.

Ngày nay khoa học đã chúng minh sự hình thành của tất cả thế giới vũ trụ bao la vô cùng vô tận cũng bắt nguồn từ sự nổ tung của một vi tử mà khoa học gọi là Vụ Nổ Lớn (The Big Bang) cách nay khoảng 13.7 tỷ năm về trước. Theo lý thuyết nầy thì tất cả vật chất và năng lượng được chất chứa trong một vi tử cực nhỏ, nhỏ hơn cả kích thước của một nguyên tử. Điểm vi tử nầy có mật độ vật chất và nhiệt độ vô hạn lớn hàng tỷ tỷ độ C (lớn hơn 1030 độ C). Vì chịu áp xuất quá lớn và độ nóng cùng cực nên vi tử nầy bị nổ tung và từ đó không gian từ từ mở rộng dựa theo tiến trình nguội dần của những phần phân tán vi tử. Dựa theo sự đo lường của khoa học thì khoảng 300,000 năm sau đó thì những nguyên tử mới được hình thành và nhiệt độ vẫn còn nóng đến 10,000 độ C. Khoảng một tỷ năm sau đó thì khí Hydrogen và Helium mới được tạo tác và những đám mây cũng như hành tinh bắt đầu xuất hiện và lực hút quân bình giữa các hành tinh cũng hình thành. Khi nhiệt độ giảm dần thì không gian cũng từ từ nới rộng và những dãy thiên hà cũng vì thế được kiến tạo cho đến ngày nay. Hiện nay thì vũ trụ vẫn còn trong trạng thái nới rộng nên sẽ có nhiều dãy thiên hà mới được tạo dựng. Khi không gian được mở rộng cùng với thời gian làm cho các dãy thiên hà di chuyễn xa nhau hơn. Để có một cái nhìn đơn giản về sự hình thành của nhân sinh vũ trụ, các khoa học gia đã giới thiệu cuốn Lịch Vũ Trụ (the Cosmic Calender) như sau: Bắt đầu từ ngày một tháng giêng thì vi tử nổ tung (The Big Bang) và dãy Ngân Hà (Milky Way) được tạo thành ngày 31 tháng giêng. Mãi đến tháng tám thì Thái dương hệ (Solar System) mới hình thành. Nhưng khoảng ngày 16 đến ngày 17 của tháng tám thì cuộc sống của các sinh vật mới hiện hữu trên trái đất nầy. Và sau đó loài người được hình thành ngày 31 tháng tám. Nhưng trong tương lai khi vũ trụ giản nở đến một kích thước cực đại thì nó sẽ bắt đầu co lại. Dấu hiệu của tận thế là khi tất cả các hành tinh và vũ trụ từ từ nguội dần và tắt hẳn cũng như mặt trời trong thái dương hệ không còn cháy và toàn thái dương hệ sẽ chìm trong bóng tối. Thế giới sẽ trở thành băng giá và tan biến vào tháng ngày 16 tháng năm năm tới của Lịch Vũ Trụ. Sau đó, vũ trụ sẽ trở nên đặc hơn, nóng hơn và sau cùng thu gọn bằng một vi tử như lúc ban đầu. Những tôn giáo thờ phượng Thượng đế thì họ lý luận rằng nếu thế gian vũ trụ bắt đầu từ một vi tử thì đây chính là điểm khởi đầu tức là thỉ? Nếu đã có thỉ thì Phật giáo làm sao giải thích nguyên lý vô thỉ vô chung? Chẳng những thế mà họ còn tự nhận Thượng đế chính là vi tử trên đã sáng tạo ra tất cả. Chỉ có Phật giáo là có quan niệm rất chính xác và tương đồng với khoa học vì Phật giáo xác định vũ trụ là vô thỉ vô chung tức là không có điểm bắt đầu hay có ngày cùng tận mà chẳng qua là những chu kỳ duyên khởi sinh diệt mà thôi. Vi tử nổ tung tạo thành vũ trụ và khi vũ trụ thu trở lại thì sẽ thành vi tử. Chu kỳ nầy xảy ra vô cùng vô tận thì cái nào là cái bắt đầu? Còn nếu nói Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ thì sau bao nhiêu tỷ năm vũ trụ thu dần nhỏ lại thành vi tử thì ai chịu trách nhiệm cho việc nầy? Thánh kinh xác định là Thượng đế đã tạo ra trái đất nầy khoảng mười ngàn năm, nhưng ngày nay khoa học đã chứng minh trái đất hiện diện trong vũ trụ nầy gần năm tỷ năm rồi. Nếu nói chỉ có mười ngàn năm thì làm sao nói xưa như trái đất được! Tóm lại, khoa học cũng chứng minh rằng khi đũ nhân duyên thì từ một vi tử mà sanh ra vũ trụ và khi hết nhân duyên thì vũ trụ bao la vô cùng vô tận cũng trở về thành một vi tử mà thôi.

Hiện tượng nầy không có gì xa lạ đối với Phật giáo. Đó chính là bất biến tùy duyên và tùy duyên bất biến của Pháp giới duyên khởi của đại thừa. Khi nhân duyên hòa hợp thì tạo thành con người và vũ trụ nghĩa là bất biến mà tùy duyên. Còn nhân duyên tan rã thì con người, vũ trụ sẽ trở về với bản thể ban đầu tức là tùy duyên mà bất biến. Thế thì đâu có cái gì Có và Mất đâu. Đây chẳng qua là tiến trình của Duyên Khởi mà thôi.

Khoa học thì cũng chứng minh như thế. Nguyên lý bảo tồn năng lượng xác định rằng năng lượng luôn luôn được bảo tồn tức là năng lượng không bao giờ mất mà chỉ thay hình đổi dạng (dU=dQ-dW). Thí dụ như chúng ta mở cái nút điện thì đèn sáng nghĩa là năng lượng chuyển từ điện năng sang quang năng. Một thí dụ khác là khi mở máy xay sinh tố thì máy chạy nghĩa là năng lượng chuyển từ điện năng sang cơ năng. Cũng như nước chảy của đập thủy điện là cơ năng làm cho các trục biến điện di động tạo thành điện năng. Một nguyên lý thứ hai của vật lý học xác định rằng tất cả tổng số sự bất ổn của vật chất luôn luôn tăng trưởng nghĩa là vật chất sẽ hư hoại, tan biến dựa theo thời gian (Q/T≥0). Đây chính là luật vô thường vô ngã của nhà Phật vậy.

Vì có Nhất Thiết Chủng Trí nên ông Duy Ma Cật có thể hiểu biết tất cả các pháp và Thể Tánh chân thật của nó. Khi sử dụng Nhất Thiết Chủng Trí thì ông Duy Ma Cật thấy, biết rõ ràng một pháp có đủ chủng tử, chất liệu của vạn pháp và tự nó ứng hợp lại với nhau mà hình thành. Pháp nầy hàm chứa chủng tử của pháp kia và chủng tử của vạn pháp trùng trùng duyên khởi cho nhau. Mặc dù một pháp là yếu tố cấu tạo nên vạn pháp nhưng tướng một pháp và tướng vạn pháp vốn không hai mà cũng không phải là một tức là bất nhị. Thêm nữa, ông Duy Ma Cật quán chiếu Nhân Đà La Võng Cãnh Giới để thấy biết vạn pháp tương ứng, tương túc và tương nhập tác dụng lẫn nhau như sự ánh hiện trùng trùng phản chiếu vô cùng vô tận. Do đó khi đem 32 ngàn tòa sư tử to lớn như thế vào nhà mà không hề bị chật hẹp đó chính là Quảng Hiệp Tự Tại Vô Ngại. Tất cả những tòa sư tử vì không có tướng trạng mà chỉ là tư tưởng nên chúng không bị giới hạn bởi không gian hữu hạn nên không bị chật hẹp. Chân tâm thì vô cùng vô tận, không những đem 32 ngàn tòa sư tử mà có thể thu nhiếp cả thế giới vũ trụ vào mà không bao giờ đầy cả. Thí dụ như khi nhìn ngọn Hy Mã Lạp Sơn thì chúng ta liền đem ngọn núi to lớn nầy vào trong tâm tưởng của mình mà không thấy to lớn, chật hẹp bởi vì ngọn núi chỉ là tư tưởng chớ không phải thật có. Ở đây hàng thấp nhất là A La Hán đều đã đoạn tất cả phiền não lậu nên có được tâm thanh tịnh tức là có được Chân tâm nên ông Duy Ma Cật dùng Chủ, Bạn Viên Minh Công Đức khiến mọi người thấy biết những hiện tượng bất khã tư nghì nầy một cách rõ ràng như thật.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật mời Bồ-tát Văn Thù và chư đại Bồ-tát an tọa. Các Bồ-tát được thần thông tự biến thân cao lớn bốn muôn hai ngàn do tuần, mới lên tòa ngồi được. Các Bồ-tát tân phát ý và hàng Thanh Văn đại đệ tử đều không lên ngồi được.

Trưởng giả Duy Ma Cật mời ông Xá Lợi Phất thăng tòa.

Ông Xá Lợi Phất nói:

- Thưa cư sĩ! tòa cao quá tôi không lên được.

Trưởng giả Duy Ma Cật nói:

- Xá Lợi Phất! Ngài hãy làm lễ Đức Tu Di Đăng Vương Như Lai rồi có thể lên tòa ngồi được.

Hàng tân phát ý Bồ-tát và tất cả đại đệ tử Thanh Văn làm lễ Đức Tu Di Đăng Vương Như Lai, bấy giờ mọi người đều lên được tòa ngồi.

Quả vị Phật, trí tuệ Bồ-đề ngay cả Niết Bàn thanh tịnh không phải chỉ dành riêng cho Phật, nhưng Phật và Bồ-tát có Bồ-đề, có Niết bàn, riêng về phần Như Lai có vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Còn phàm phu chúng sinh thì cũng có tự tánh Bồ-đề, tự tánh Niết bàn như vậy, nhưng họ không hưởng được Niết bàn an lạc nầy và không sử dụng được trí tuệ vô thượng Bồ-đề của mình mà còn chìm đắm trong vòng sắc tài danh lợi thị phi phải quấy hơn thua tốt xấu nên phải chịu chập chùng đau khổ hàng ngày cho đến hết kiếp. Sau khi đảnh lễ đức Tu Di Đăng Vương Như Lai có nghĩa là họ đã hồi đầu thị ngạn thì họ mới có thể lên tòa ngồi được. Tại sao? Phật ví như người đã ở trên bờ còn phàm phu chúng sinh thì vốn cũng đã ở trên bờ như Phật nhưng họ vì sự tham đắm sắc dục và vô minh che lấp trí tuệ nên đã lên thuyền vượt ra biển cả mênh mông mà phải bị sóng dập gió biển trùng trùng. Bây giờ nếu nghe lời ông Duy Ma Cật mà chịu quay thuyền trở lại thì cũng có thể lên bờ và được an vui tự tại như Phật. Đó chính là hồi đầu thị ngạn tức là có hồi thuyền mới có ngày đến bến. Người học Phật nếu thấu hiểu đạo lý nầy để cảm nhận được chân lý huyền diệu của Thế Tôn mà không rơi vào mê tín dị đoan. Tuy Phật và Bồ-tát thương tất cả chúng sinh như con một của các Ngài, nhưng chính chúng sinh phải tự mình hồi đầu thị ngạn bằng cách áp dụng những chân lý nhiệm mầu của Phật. Đó chính là ba từng kinh điển giáo pháp. Đừng hiểu lầm chỉ đường để chúng sinh quay về bờ không có nghĩa là Phật ra biển đưa chúng sinh về bờ mà chúng sinh phải tự mình chèo lái dựa theo tấm hải đồ mà Đức Phật đã ban cho. Thí dụ như chúng ta muốn khai khẩn một lô đất để trồng rau cải. Phật đem cuốc xẻn đến giúp chúng ta có phương tiện và chỉ dẫn cách trồng trọt. Nếu chúng ta y giáo phụng hành thì sau vài tháng sẽ có vườn rau xanh mướt. Nói một cách khác là Phật không độ hiểu theo nghĩa cầu nguyện, cúng lạy cho ai hết mà Phật chỉ độ hiểu theo nghĩa y giáo phụng hành mà thôi. Chèo nhanh, chèo chậm là tùy theo căn cơ, sở nguyện của chúng sinh, nhưng hễ có chèo là có ngày đến bến. Tóm lại quả vị vô thượng Bồ-đề không phải dành riêng cho Như Lai, nếu các vị Thanh Văn chịu hướng về với tự tánh thanh tịnh tức là Phật tánh của mình thì sẽ có Bồ-đề ngay.

Các đại Bồ-tát thâm nhập trí tuệ Đại thừa nên không còn chấp ngã, chấp pháp. Họ lìa Sự Tướng mà nhập Bản Thể thanh tịnh nên có thần thông diệu dụng và tâm thể dung thông với vạn pháp nên không có gì ngăn ngại. Họ quán Quảng Hiệp Tự Tại Vô Ngại mà tự biến hóa tương ứng với kích thước tòa sư tử nên mới lên tòa sư tử ngồi được. Nhưng đối với các vị Bồ-tát mới phát tâm và hàng Thanh Văn thì họ còn chấp Pháp tức là thấy có pháp môn để tu, có quả vị để chứng và còn cầu Niết bàn để được an vui tịch diệt nên chưa thâm nhập được Bản Thể thanh tịnh mà không thể dung thông với vũ trụ và hòa nhập với thiên nhiên được. Mặc dầu họ cũng có thần thông nhưng bị giới hạn. Sau khi đảnh lễ Đức Tu Di Đăng Vương Như Lai có nghĩa là họ đã lìa Tướng mà nhập Thể Tánh. Bỏ Tiểu thừa về với Đại thừa, bỏ tối về sáng, lìa vô minh về với trí tuệ hằng sáng chói của mình thì họ có được thần thông diệu dụng và tự mình biến hóa để lên ngồi trên tòa sư tử.

Ông Xá Lợi Phất nói:

- Thưa cư sĩ! Quả là việc lạ lùng chưa từng có. Diện tích của ngôi tịnh thất hữu hạn nầy mà lại có thể dung chứa hàng mấy muôn cái tòa rộng. Thành Tỳ Xá Ly, xóm làng, cõi nước đều không chật chội trở ngại gì nhau. Đây là việc chưa từng có.

Ông Duy Ma Cật nói:

- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Chư Phật, Bồ-tát có pháp môn giải thoát gọi là :”Bất Khả Tư Nghì”. Nếu Bồ-tát trụ trong pháp môn giải thoát đó, có thể lấy núi Tu Di cao rộng để vào trong một hạt cải, mà núi Tu Di vẫn y nguyên trạng, hạt cải vẫn không thêm bớt chút nào. Trời Thiên Vương, Đạo Lợi, Chư Thiên không hề hay biết cảnh giới Chư Thiên đang ở trong hạt cải. Chỉ có những người đáng độ (Bồ-tát đăng địa), mới thấy biết núi Tu Di được đặt vào trong hạt cải.

Bồ-tát trụ Bất tư nghì giải thoát tức là Bồ-tát đã thành tựu Bát nhã ba-la-mật. Tất cả những cái vật chất trong thế gian nầy mà kinh Lăng Nghiêm gọi là Sắc tức là địa đại. Cho nên khi Bồ-tát lấy núi Tu Di để lọt vào trong hạt cải thì đây chính là sắc. Mà:”Tánh sắc chơn không, tánh không chơn sắc, thanh tịnh bản nhiên trang biến pháp giới tùy chúng sinh tâm ứng sở ứng tri lượng tuần nghiệp phát hiện”. Vì Thể Tánh của Sắc có tính thanh tịnh bản nhiên nhưng sở dĩ nó có là tùy theo tâm lượng hay theo sự yêu cầu của chúng sinh mà phát hiện. Cho nên nếu Bồ-tát cầu cở nào thì nó phát hiện cở ấy còn không cầu thì nó không có. Nói một cách khác là Bản Thể của vật chất là Không tức là Sắc tức là Không. Do đó khi thấy hiện tượng giới như đem vật lớn đặt vào chỗ nhỏ là Bồ-tát muốn chúng sinh tư duy quán chiếu để thấy một cách triệt để là ngũ uẩn giai không.

Bồ-tát trụ bất tư nghì giải thoát, có thể lấy nước biển cả để vào lỗ chân lông mà nước biển cả vẫn y nhiên. Các loài thủy tộc cá, tôm, rùa, rạch…không bị khuấy động. Long vương, quỷ thần, A tu la…không hề hay biết và họ chẳng bị nhiễu hại chút nào.

Bồ-tát trụ bất tư nghì giải thoát, còn xắn lấy ba ngàn đại thiên thế giới để trên bàn tay và ném qua hằng hà sa thế giới, rồi thu về đặt lại chỗ củ mà thế giới vẫn y nhiên. Người người ở trong các thế giới kia không hề hay biết về sự đi lại của mình.

Còn Bồ-tát đem nước biển để vào lỗ chân lông hay lấy ba ngàn đại thiên thế giới để trên bàn tay là ý như thế nào?

Hai hiện tượng trên đây cũng đều là phản ảnh cho sự biến đổi của không gian vì thế chúng ta cũng có thể áp dụng câu:”Tánh thủy chơn Không, Tánh không chơn thủy, thanh tịnh bản nhiên trang biến pháp giới tùy chúng sinh tâm ứng sở ứng tri lượng tuần nghiệp phát hiện” nghĩa là Tánh của nước là Không, Tánh Không là nước, tự nó rất thanh tịnh, nhưng vì nhu cầu của chúng sinh mà ứng hiện. Vì nước nầy là do tinh khí và dưỡng khí hòa hợp mà thành nghĩa là nước không có tự tánh tức là Không. Khi đầy đủ nhân duyên hội tụ thì Không trở thành nước còn bình thường thì nước trang biến pháp giới mà lại thanh tịnh bản nhiên. Cho nên ở đâu cũng có nước mà nước không làm ngập lụt chết người vì tánh của nước là thanh tịnh bản nhiên. Chỉ khi nào cần và có đủ nhân duyên hội tụ thì Không thành ra nước tức là tùy chúng sinh tâm ứng sở tri lượng nghĩa là đáp ứng tùy theo nhu cầu của chúng sinh. Do đó đứng về sắc thì thấy có nước biển nhiều, nhưng Bản Thể của nước biển là Không cho nên nếu Bồ-tát quán Quảng Hiệp Tự Tại Vô Ngại thì có thể biến hiện Thể Không của nước biển vào trong lỗ chân lông là vậy.

Còn nữa, thưa ngài Xá lợi Phất! Nếu có chúng sinh thích sống lâu ở đời, vì hóa độ họ, trong khoảng bảy ngày, Bồ-tát nói với họ là một kiếp, khiến chúng sinh kia tin nhận là một kiếp.

Hoặc có chúng sinh không thích sống lâu ở đời, vì hóa độ họ, Bồ-tát rút ngắn một kiếp nói là bảy ngày, khiến chúng sinh kia tin nhận là bảy ngày.

Những phần trên của phẩm nầy thì Bồ-tát đã biểu diễn Bất khả tư nghì giải thoát do sự thay đổi biến hiện của không gian. Bây giờ ông Duy Ma Cật muốn chứng minh thời gian cũng như không gian là vô thường vô ngã sinh diệt, là những tướng trạng tương đối, là những khuôn mẩu đặt ra để phân biệt, là giả huyễn không thật có.

Dựa theo Mười Đời Cách Pháp Dị Thành thì một đời bao gồm cả ba đời nghĩa là ngay trong đời hiện tại đã có sự hiện diện của đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Tại sao? Bởi vì đời hiện tại của chúng ta ngày nay chẳng qua là kết quả của biết bao nghiệp nhân mà con người đã tạo tác trong những đời quá khứ và cũng chính đời hiện tại nầy chúng ta đang tạo ra rất nhiều nghiệp nhân mà sẽ là kết quả cho đời tương lai. Vậy đời nào là đời thật? Vì thế đời không có gì làm tiêu chuẩn cho quá khứ, hiện tại, vi lai cả. Thí dụ như nhìn thấy một người chúng ta cho họ là năm sáu mươi tuổi. Nhưng dựa trên tiêu chuẩn nào để chúng ta kết luận như vậy? Phải chăng là nhìn thấy người nầy tóc hoa râm, mắt kém…Nhưng thật sự làm sao biết chắc người nầy năm sáu chục tuổi? Có người sáu bảy chục tuổi mà mắt vẫn sáng như sao, tóc da tươi nhuận. Còn có người mới ba bốn mươi tuổi nhưng vì cuộc sống đầu tắt mặt tối nên đầu tóc bạc phơ thì già hơn trước tuổi là chuyện thường. Do đó nếu dựa trên thời gian thì không tìm đâu cho ra tuổi. Tuổi mà con người dựa theo là tính theo sự vận chuyển của địa cầu quanh mặt trời đâu có giống tuổi của những thế giới khác. Một ngày trên không gian dài hơn một ngày dưới địa cầu rất nhiều. Ngày xưa Lưu Nguyễn ngao du chốn bồng lai mới vài năm mà khi về lại nhà củ làng xưa thì hoàn toàn thay đổi vì mấy năm tiên cảnh bằng vài trăm năm trần thế. Vậy tuổi nào là tuổi thật? Kiếp sống chết của con người không bao giờ có thể luận theo tuổi tác được. Có người chết già, có kẻ chết bệnh và có kẻ sống dở chết dở cho nên thời gian chẳng có giá trị chân thật bởi vì khái niệm thời gian chỉ là dựa trên sự vô thường chuyển biến của các pháp hữu vi. Thí dụ như ngày và đêm đâu có đồng nhất. Ngày ở Hoa kỳ tức là đêm ở Việt nam vậy thời gian cùng một thế giới nhỏ nầy mà không giống nhau thì làm sao gọi là chân lý.

Còn nữa thưa ngài Xá Lợi Phất! Trụ bất tư nghì giải thoát, Bồ-tát lấy những sự trang trí đẹp đẽ của tất cả cõi Phật nhóm lại ở một chỗ chỉ bày cho chúng sinh xem thấy rõ ràng. Bồ-tát lấy tất cả chúng sinh và cõi Phật để trên bàn tay bay đến khắp mười phương, chỉ rõ cho tất cả mà “bổn xứ” không hề động chuyển.

Thưa ngài Xá Lợi Phất! Những món đồ cúng dường chư Phật trong mười phương, Bồ-tát có thể đem vào trong một lỗ chân lông khiến cho ai cũng có thể được thấy.

Mười phương cõi nước có bao nhiêu nhật nguyệt, tinh tú gom về trong một lỗ chân lông, khiến cho xem thấy dễ dàng.

Mười phương thế giới có bao nhiêu gió, Bồ-tát hớp vào miệng mà thân không hề tổn hại. Tất cả cây cỏ bên ngoài không bị gãy đổ.

Mười phương thế giới, khi kiếp tận, lửa cháy ngút trời, Bồ-tát hút tất cả lửa vào trong bụng mà thân không bị tai hại.

Bồ-tát có thể lấy một cõi Phật ở hằng hà sa thế giới ở hạ phương, cầm đem lên cách hằng hà sa số thế giới ở thượng phương như cầm một que tăm găm vào một là táo, không khó khăn mệt nhọc chút nào.

Còn nữa thưa ngài Xá Lợi Phất! Trụ bất tư nghì giải thoát, Bồ-tát có thể dùng thần thông hiện thân Phật, hoặc hiện thân Bích Chi Phật, hoặc hiện thân Phạm vương, hoặc hiện thân Chuyển luân Vương.

Lại nữa, trong mười phương thế giới có bao nhiêu thứ âm thanh, thượng, trung, hạ đều có thể biến thành âm thanh Phật, diễn nói những pháp của chư Phật trong mười phương đã nói như vô thường, khổ, không và vô ngã khiến cho chúng sinh hữu duyên đều được nghe.

Thưa ngài Xá Lợi Phất! Tôi lược nói về thần lực bất khả tư nghì giải thoát của Bồ-tát là thế. Nếu nói rộng suốt kiếp cũng không nói hết được.

Cũng như lửa cháy ngút trời mà Bồ-tát hớp vào miệng mà thân không hề tổn hại. Nếu nhìn bằng nhục nhãn thì làm sao hớp lửa ngút trời vào trong bụng cho được, nhưng ở đây một lần nữa Bồ-tát không nhìn vật chất bằng nhục nhãn mà nhìn bằng mắt trí tuệ bát nhã ba-la-mật thì thấy lửa tức là Không và Không tức là lửa (Tánh hỏa chơn Không, Tánh Không chơn hỏa). Thanh tịnh bản nhiên là lửa ở khắp trong vũ trụ mà không làm cháy ai hết, nhưng nếu chúng sinh tâm ứng sở tri lượng tuần nghiệp phát hiện thì nếu con người cần lửa thì nó mới cháy. Thí dụ như ánh sáng mặt trời là một dạng của lửa thì có cháy ai đâu, nhưng chỉ khi nào chúng ta đem kính lúp đặt dưới ánh sáng mặt trời thì sẽ có lửa cháy ngay.

Nói chung những hiện tượng trên giúp chúng sinh tư duy quán chiếu về địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đạo và thức đại. Tất cả đều là Không mà Không chẳng khác có và có chẳng khác Không vậy. Nói một cách khác lửa chẳng khác Không và Không chẳng khác lửa.

Thêm nữa, khi Bồ-tát trụ Bất tư nghì giải thoát hiện các thân Phật, Bích Chi Phật, Phạm Vương…hay biến cả các thứ âm thanh to nhỏ thành tiếng Phật thì tất cả hiện tượng nầy đều là Sắc. Mà:”Tánh sắc chơn không, tánh không chơn sắc, thanh tịnh bản nhiên trang biến pháp giới tùy chúng sinh tâm ứng sở ứng tri lượng tuần nghiệp phát hiện”. Dù biết thân Phật, thân Bích Chi Phật, ngay cả âm thanh hay tiếng Phật là giả huyễn mà Bồ-tát vẫn biến hiện các hình tướng thích hợp với hoàn cảnh mà hoằng dương Phật pháp. Họ dùng phương tiện để giúp chúng sinh tìm về với cứu cánh giải thoát giác ngộ.

Nếu chúng sinh biết tư duy quán chiếu để thấy biết rằng vũ trụ là do sự tạo thành biến hiện của không gian và thời gian, nhưng không gian và thời gian là giả huyễn, là vô thường vô ngã, sanh sanh diệt diệt. Khác hẳn với hàng Thanh Văn vì thấy thế gian vũ trụ là sinh diệt nên họ cố tu để mong chứng quả vị Bồ-đề và cầu sự tịch diệt an lạc của Niết bàn nên họ còn chấp Pháp có và các vị Bồ-tát thì chấp Không vì đối với họ vạn pháp giai Không tức là không có gì trên đời là thật có cả. Ở đây chúng sinh nên bắt chước chư Phật để xóa tan những tư tưởng về chấp Pháp và chấp Không mà nhận biết rằng vạn pháp tuy là Có nhưng không phải là Có thật, còn Không nhưng không phải là không của cái trống không. Khi nhân duyên hòa hợp thì vạn pháp sanh và khi nhân duyên tan rã thì vạn pháp diệt cho nên tuy vạn pháp sanh sanh diệt diệt, diệt diệt sanh sanh mà chúng sinh vẫn luôn luôn tự tại trước sự sanh diệt, diệt sanh nầy. Cùng lối nhìn như Bồ-tát để thấy rằng con người, vạn pháp là Không nghĩa là không thật có mà hiện giờ nó vẫn có vì thế con người nên làm bất cứ cái gì cần làm để giúp đở cho tất cả chúng sinh mặc dù họ là không có thật.

Nếu biết áp dụng huyền nghĩa của đoạn kinh nầy vào trong cuộc sống thì con người sẽ không còn chấp Tướng tức là hình sắc, âm thanh, ngôn ngữ, lời nói, văn tự…thì cuộc sống sẽ an vui tự tại, không còn ràng buộc khổ đau. Nếu không chấp vào hình tướng thì con người sẽ không còn quan trọng đến nhà sang, xe đẹp, áo lụa quần là, se sua chưng diện xa hoa…mà chỉ cần đứng đắn chỉnh tề, tâm tư thanh thoát và ung dung tự tại. Nếu không chấp âm thanh, lời nói, văn tự vì chúng là giả huyễn, là sinh diệt thì con người sẽ dững dưng trước lời khen tiếng chê và xem những tiếng thị phi như gió thoảng ngoài tai mà hướng tâm thanh tịnh để thấy rằng:”Nhất thế sắc giai thị Phật sắc, nhất thế thanh giai thị Phật thanh” nghĩa là nếu có tâm thanh tịnh thì tất cả hình tướng đều là hình tướng Phật và tất cả âm thanh đều là âm thanh Phật.

Ngài Đại Ca Diếp sau khi nghe pháp môn bất khả tư nghì giải thoát, rất hoan hỉ, tán thán và nói với ông Xá Lợi Phất rằng:

- Ví như sắc tượng hiện hữu ngay trước mắt người mù nhưng người mù không sao thấy được. Cũng vậy, với pháp môn bất khả tư nghì giải thoát, hàng Thanh Văn dù có nghe nhưng cũng không hiểu rõ được.

Người trí ai nghe mà chẳng phát tâm vô thượng Bồ-đề.

Hàng Thanh Văn chúng ta vì sao lại dứt hẳn hạt giống đại thừa để cho mầm tược cháy khô. Tất cả hàng Thanh Văn nghe pháp môn bất khả tư nghì giải thoát, nên khóc rống lên đi! Khóc cho vang động cả ba ngàn đại thiên thế giới! Còn tất cả các Bồ-tát, những người chủng tánh đại thừa nên hân hoan tiếp thụ, kê đầu đội lấy pháp môn nầy.

Bồ-tát tin và hiểu pháp môn bất khả tư nghì giải thoát, tất cả các ma dù có thể lực bao nhiêu đi nữa cũng không làm gì động chuyển.

Ngài Đại Ca Diếp nói xong. Khi bấy giờ có ba muôn hai ngàn thiên tử phát tâm vô thượng Bồ-đề.

Các vị Thanh văn tuy chứng quả A La Hán và được ra khỏi sinh tử luân hồi nhưng tâm vẫn còn chấp trước nơi pháp Tiểu thừa nên chưa được giải thoát rốt ráo. Sau khi nghe Bồ-tát trụ Bất tư nghì giải thoát làm Bất tư nghì sự và trình diễn Bất tư nghì cảnh giới thì như người mê chợt tỉnh, bỏ tối tìm sáng mà phát tâm vô thượng Bồ-đề để quay về với chân lý liễu nghĩa tối thượng đại thừa.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật nói với ngài Đại Ca Diếp:

- Thưa nhân giả! Trong thập phương vô lượng A tăng kỳ thế giới, những người làm ma vương phần nhiều là Bồ-tát trụ bất khả tư nghì giải thoát, dùng sức phương tiện giáo hóa chúng sinh mà hiện làm ma vương như vậy.

Lại nữa, thưa ngài Ca Diếp! Bồ-tát trong mười phương nhiều vô số. Có khi người ta theo các ngài để xin mắt, mũi, tay, chân, máu thịt, xương tủy, đầu óc…Xin quốc thành thê tử, tượng mã, kim ngân…xin cả y phục và thức ăn. Người xin như vậy, phần nhiều là Bồ-tát trụ bất khả tư nghì giải thoát dùng sức phương tiện để thử thách hạnh sở hành của Bồ-tát khiến cho sức kiên cố càng thêm kiên cố.

Thử thách như vậy để làm gì?

Bởi vì Bồ-tát trụ bất tư nghì giải thoát có nghị lực và uy đức lớn lao cho nên dùng những hành động bức bách dồn ép làm những việc khó làm để biểu thị sức tinh tấn, chỉ bày đức nhẫn nhục…vì sự nghiệp giáo hóa chúng sinh.

Hạng phàm phu hạ liệt không có uy lực, không thể kham chịu những sự bức bách nghiệt ngã như Bồ-tát được. Ví như sức lừa không chịu nổi sự dẫm đạp của long tượng.

Thông thường ma quỷ là những hình bóng, hiện tượng kỳ quái xuất hiện khiến cho con người lo sợ, khiếp đảm làm cản trở chướng ngại sự tu hành. Nhưng ở đây chính các vị Bồ-tát trụ Bất tư nghì giải thoát lại thị hiện làm ma vương để dùng phương tiện mà giáo hóa chúng sinh. Thí dụ như có người phát nguyện tu bố thí ba-la-mật để phát triển chủng tử từ bi đại thừa thì ma vương thị hiện đến xin từ ngoại tài như vàng bạc, châu báu, thức ăn, áo mặc cho đến nội thân như chân tay, mắt, mũi…cốt là để thử thách người đó có thực hành hạnh bố thí như họ đã phát nguyện không. Ma vương cũng thị hiện đến quấy phá những người tu hạnh nhẫn nhục, quấy nhiễu những kẻ tu thiền, làm phân tâm những người niệm Phật. Ngày xưa lúc Đức Phật tu dưới cội Bồ-đề sắp thành ngôi Chánh giác thì Ma Nữ cũng xuất hiện rất nhiều để thử thách lòng kiên cố, tâm kiên nhẫn và ý chí sắc đá của Ngài.

Thật ra ma vương mà kinh nầy muốn ám chỉ chính là lục dục thất tình núp thật sâu vào trong tâm thức của tất cả chúng sinh. Đó chính là tham-sân-si, mạn, nghi, tà kiến…những ảo tưởng của thị dục, những thói hư tật xấu luôn thúc đẩy con người lún sâu vào vòng tăm tối, xấu xa. Khác hẳn với hàng Thanh văn hay phàm nhân thì sợ nghịch cảnh, không dám đối diện với cảnh trái ý nghịch lòng, ở đây Bồ-tát trụ Bất tư nghì giải thoát thị hiện làm ma vương để giáo hóa chúng sinh tu trong nghịch cảnh. Có đối diện với nghịch cảnh, biết mặt thật của cuộc đời thì con người mới nung nấu chí nguyện của mình trở thành sắc đá, tăng trưởng tâm nhẫn nhục, phát huy lòng từ bi, đạo đức làm nền tảng cho tâm được thanh tịnh mà có trí tuệ sáng suốt. Vì thế người xưa cũng có câu:”Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Thật vậy, lửa có cao mới biết vàng nhiều tuổi, có vào hang cọp mới bắt được cọp con. Bồ-tát thì phải làm cho được những việc khó làm. Cố gắng tích cực chế ngự nghịch cảnh, vượt qua mọi khó khăn, cứu giúp tất cả chúng sinh mà không chán nản mệt mỏi và không hề bị dòng đời lôi cuốn. Bồ-tát luôn vận dụng trí tuệ để đáp ứng mọi yêu cầu, sang bằng mọi thử thách để hoàn thành hạnh nguyện. Khác với các vị A La Hán thấy đời vô thường vô ngã sinh sinh diệt diệt nên cố tu tìm giải thoát tịch diệt Niết bàn và mong chứng quả vị Bồ-đề, ông Duy Ma Cật vạch ra một con đường sáng là lấy gia đình xã hội làm đạo tràng tu thanh tịnh, lấy chúng sinh làm đối tượng tu học, lấy nghịch cảnh làm phương châm giáo hóa. Ngay trong cảnh phiền não ô trược, xã hội phức tạp mà chúng sinh vẫn có được Niết bàn cũng như hoa sen thơm ngát vươn lên trong bùn tanh hôi hám. Còn quả vị Vô thượng Bồ-đề thì chúng sinh cũng không cần mong cầu trông đợi vì tự tánh Bồ-đề thì lúc nào cũng có sẳn trong mọi chúng sinh. Nếu con người chịu lìa xa vọng chấp, tâm không còn dính mắc và hướng về sống với tự tánh thanh tịnh bản nhiên của mình tức là hồi đầu thị ngạn để quay thuyền trở lại bến thì ai ai cũng có ngay Phật tánh, chơn tâm nghĩa là Bồ-đề hiễn hiện vậy.

Đó là pháp môn phương tiện và trí tuệ của Bồ-tát trụ Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát pháp môn.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn