Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tôn giả A Nan

23/03/201107:55(Xem: 5739)
Tôn giả A Nan

GIẢNG GIẢI KINH DUY MA CẬT
Tác giả Lê Sỹ Minh Tùng

Chương Thứ Ba
Phẩm Đệ Tử
(The Disciples’ Reluctance to Visit Vimalakirti)
Hàng Thanh Văn

Tôn giả A Nan (Ananda) Nói về Như Lai Bệnh

A Nan là anh em cô cậu với Đức Phật. Ông là con của Bạch Phạn Vương (Amitodana) là em của vua Tịnh Phạn. Vì ngày ông sinh ra đem lại niềm hoan hỷ nên được đặt tên là Khánh Hỷ (A Nan). Sau khi thành đạo, Đức Phật về lại cung thành Ca Tỳ La Vệ thăm lại gia đình và cảm hóa và khuyến khích những người trong dòng họ Thích Ca xuất gia tu đạo. Khi nhân duyên đã đến, A Nan cùng anh ruột là Đề Bà Đạt Đa và năm vị vương tử khác là A Na Luật, Kiếp Tân Na, Bà Sa, Bạt Đề, Nan Đề đồng lén bỏ nhà mà xuất gia theo Phật và ông là người trẻ tuổi nhất trong số những vị nầy. A Nan là người có tướng mạo trang nghiêm và trí nhớ phi thường ngay cả Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát còn phải khen ngợi ngài như sau:

Tướng như trăng thu đầy

Mắt biết tợ sen xanh

Phật pháp rộng như bể

Đều rót vào tâm A Nan.

Khi nói về A Nan thì không ai quên được câu chuyện nàng Ma Đăng Già trong Kinh Lăng Nghiêm. Vì có tướng mạo thanh tú nên nàng Ma Đăng Già đem lòng yêu thương mà dùng tà thuật mê hoặc. Đức Phật biết được bèn sai Văn Thù Bồ-tát đem bài thần chú Thủ Lăng Nghiêm đến giải nạn cho A Nan. Nội dung Kinh Lăng Nghiêm là Phật chỉ dạy cho chúng sinh ngộ được Chơn tâm. Trước khi dạy về Chơn tâm, Phật gạn hỏi A Nan bảy lần về nơi trụ của tâm. Vì tâm quá khứ đã diệt, tâm tương lai chưa đến còn tâm hiện tại thì quay cuồng thì làm sao tìm tâm cho được. Mà tâm quay cuồng tức là tâm điên đảo, mê lầm, vọng thức tức là vọng tâm. Khi vọng tâm biến mất thì chơn tâm mới hiện bày cũng như mây tan thì trời sáng vậy thôi. Có chơn tâm thì tâm được thanh tịnh tức là Phật tánh, là Bản Lai Diện Mục, là Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, là Tri Kiến Phật vậy.

A Nan thỉnh cầu Phật nhiều lần để cho phép phái nữ được xuất gia vì thế dưỡng mẫu Ma Ha Ba Xà Ba, công chúa Da Du Đà La và nhiều mệnh phụ phu nhân khác là những Ni cô đầu tiên trong tăng đoàn của Đức Phật.

Cả đời A Nan bị rắc rối cũng vì đàn bà con gái cho nên trước khi nhập diệt Đức Phật có dặn rằng:”Nếu bắt buộc phải tiếp xúc với nữ phái thì nên xem người già như mẹ, người lớn như chị và người nhỏ như em thì ông sẽ giữ được chánh niệm’.

Khi Phật được 55 tuổi, các đệ tử Tỳ Kheo thấy sức khỏe của Ngài càng ngày càng yếu nên quyết định chọn một thị giả túc trực lo cho Đức Phật. Mặc dù có rất nhiều người tình nguyện, nhưng Đức Phật dành việc nầy cho A Nan. Vì có liên hệ họ hàng với Phật nên ông muốn tránh sự dị nghị được Phật ưu đãi mà đối xử đặc biệt với mình nên ông xin nhận trách nhiệm với tám điều thỉnh cầu:

1) Đức Phật không ban cho ông những bộ y do thí chủ cúng cho Phật.

2) Đức Phật không ban cho ông những đồ ăn do thí chủ cúng cho Phật.

3) Đức Phật không cho phép ông cùng ở trong một tịnh thất.

4) Đức Phật không cho phép ông đến nơi nào mà thí chủ thỉnh Phật.

5) Đức Phật sẽ hoan hỷ đến nơi nào mà thí chủ thỉnh ông.

6) Đức Phật cho phép ông tiến dẫn khách đến yết kiến Phật.

7) Đức Phật cho phép ông bạch hỏi mỗi khi có điều gì nghi ngại.

8) Đức Phật sẽ hoan hỷ giảng giải lại những bài Pháp mà Phật giảng trong lúc ông không có mặt tại đó.

Nhờ nhân duyên nầy mà A Nan trong suốt 25 năm làm thị giả đã được học rộng nghe nhiều và là người duy nhất có thể nhớ lại 84,000 bài kinh mà trước đây Đức Phật đã thuyết giảng. Vì thế trong hàng Thanh Văn ông nổi tiếng là đệ nhất đa văn.

Mặc dù học rộng, nghe nhiều, nhớ dai nhưng A Nan chưa chứng Thánh quả trong lúc Đức Phật còn sanh tiền. Mãi ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt, trong lần kết tập kinh điển lần thứ nhất, ông không được mời tham dự vì chưa chứng quả A La Hán. Ngay chiều hôm ấy, A Nan nỗ lực tu tập, trầm tư mặc tưởng, buông bỏ tận cùng và đến nửa đêm thì khai ngộ, chứng quả. Ông bay thẳng vào đại hội và được đề cử đọc Kinh Tạng. Những kinh như Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhứt A Hàm và Kinh Pháp Cú đều do chính tôn giả tụng lại. Tôn giả nhập diệt lúc 120 tuổi.

Đức Phật gọi ông A Nan và bảo:

- Này A Nan! Ông hãy đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.

Ông A Nan thưa:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm đi thăm trưởng giả. Bởi vì trước đây, có lần Như Lai trong người hơi có chút bệnh, phải cần dùng sửa. Con mang bình bát đến trước nhà của một đại Bà La Môn để xin.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có ba thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân.

1) Pháp thân (Dharmakaya) là pháp giới thanh tịnh của các Đức Như Lai lan tỏa trong khắp không gian làm sở y bình đẳng cho Báo thân và Ứng thân. Pháp thân thì luôn thường trụ, bất sinh bất diệt cũng được gọi là Pháp giới tánh, Như Lai Tạng…Phật lấy Pháp Tánh Chân Như làm thân nên gọi là Pháp thân. Pháp thân là chỗ sở y chứa tất cả công đức trong Pháp giới. Vì Pháp thân là thường trụ nên Pháp thân ở khắp mọi nơi. Cho dù Phật nhập thế cứu độ chúng sinh thì Pháp thân cũng không tăng hay Phật có xuất thế thì nó cũng không giảm, lúc nào cũng vậy mà thôi. Cái Pháp thân nầy Phật và chúng sinh đều có như nhau, nhưng ở Phật thì nó sáng suốt chiếu soi rực rỡ còn ở chúng sinh thì nó bị vô minh che mờ nên không hiễn lộ. Pháp thân chính là cái mà con người sẽ trở về sau khi diệt hết vô minh phiền não để phát huy trí tuệ sẳn có của mình. Vậy Pháp thân chính là cội nguồn, là Bản Thể của tất cả muôn sinh vạn vật. Đây chính là Bản Lai Diện Mục, là Phật tánh có sẳn trong tất cả mọi người.

2) Báo thân (Sambhogakaya) là thân tốt đẹp do công phu tu hành trãi qua bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp mà có. Vì thế mà Đức Phật có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp rực rỡ là vậy. Báo thân còn được gọi là tự thọ dụng thân.

Nếu chúng sinh đoạn trừ mọi vô minh phiền não thì tâm được hoàn toàn thanh tịnh. Cái thanh tịnh an lạc tự tại nầy chỉ có người đó biết và hưởng được còn người khác không hề cảm nhận hay san sẻ được thì cái quả thanh tịnh an nhàn nầy là tự thọ dụng thân. Cũng như uống một tách trà thơm ngon thì chỉ người uống trà mới biết được hương vị thơm ngon như thế nào mà thôi. Do đó nếu chúng ta bớt được một phần vô minh phiền não thì có được một phần thanh tịnh tức là có được một phần tự thọ dụng thân.

Còn Báo thân của chúng sinh thì gọi là Karmakaya tức là thân nầy là do quả nghiệp của tiền kiếp tạo thành. Muốn có thân thể khỏe mạnh sống lâu thì đừng bao giờ sát sinh. Muốn có giọng nói thanh tao trong trẻo thì đừng nên vọng ngữ. Muốn thân hình được đoan trang, đẹp đẻ thì đừng nghĩ tới tà dâm. Muốn gia đình được ấm no hạnh phúc thì đừng trộm cướp gian tham.

3) Ứng thân hay biến hóa thân (Nirmanakaya) Chư Phật do trí thành sở tác mà biến hóa ra thành vô lượng thân, ứng theo căn cơ của chúng sinh mà hóa độ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là ứng thân của Phật trong cõi Ta bà nầy. Vì Ứng thân là thân thị hiện nên phải ảnh hưởng bởi luật vô thường là sinh lão bệnh tử. Ứng thân cũng được gọi là tha thọ dụng thân.

Đối với Phật giáo thì báo thân hay tự thọ dụng thân có giá trị tuyệt đối vì chỉ có người được thức tỉnh giác ngộ mới hưởng được cái hương vị thanh tịnh an vui tự tại của giải thoát giác ngộ mà không một người nào khác có thể biết được. Khi chư Phật hay Bồ-tát thị hiện để hoằng dương đạo pháp thì chúng sinh có cơ hội học hỏi, tu sửa và sống theo Chân lý để tự mình giải thoát giác ngộ thì ứng thân để cứu độ chúng sinh ra khỏi bể khổ sông mê gọi là tha thọ dụng thân.

Tóm lại ba thân của Đức Phật là: Pháp thân là Thể, Báo thân là Tướng và Ứng thân là Dụng. Tuy nói ba mà là một, tuy một mà ba tức là một là tất cả và tất cả là một.

Ngài Thiền sư Xuyên Lão cũng có bài kệ rằng:

Ba Phật hình nghi chẳng phải chân

Con người trong mắt trước mặt xem

Nếu hay biết được trong nhà báu

Hoa núi chiêm kêu một dáng xuân

Ứng Phật, Hóa Phật đều không thật

Bóng hình muôn thử thảy là quyền

Cái gì có tướng đều hư vọng

Chân Phật không hình vốn tự nhiên.

Bấy giờ, trưởng giả Duy Ma Cật đến nói với con rằng:

- Thưa ngài A Nan! Ngài làm gì mang bình bát đến đứng đây sớm thế?

- Thưa cư sĩ! Như Lai trong người hơi có bệnh, cần phải dùng sữa nên tôi đến đây hóa duyên xin sữa cho Như Lai.

Ông Duy Ma Cật nói:

- Thôi! Thôi! A Nan! Ngài đừng nói như vậy. Thân Như Lai là thân Kim Cương, các xấu ác đã hết, các cái thiện đã đầy đủ, còn có bệnh gì, còn có não gì?

Hãy im lặng và đi đi! Ngài nói như vậy là phỉ báng Như Lai đó. Đừng để cho người ngoài họ nghe được những lời bất kính đó! Đừng để cho các hàng chư Thiên đại oai đức và các Bồ-tát ở các cõi Tịnh độ khác nghe được những lời ấy!

Thưa ngài A Nan! Chuyển Luân Thánh Vương chỉ có chút ít phước đức mà còn không bệnh, huống chi Như Lai là thân Kim Cương hội tụ vô lượng phước đức!

Hãy đi đi, ngài A Nan! Đừng để chúng tôi phải chịu sự xấu hổ đó! Hàng ngoại đạo Phạm Chí họ nghe được những điều đó, họ sẽ nghĩ gì về một bậc thầy của chúng ta!

Bản thân một vị thầy có bệnh mà không thể tự cứu thì làm sao cứu bệnh cho ai? Ngài hãy âm thầm đi nhanh đi. Đừng để lộ ra cho người ngoài nghe biết!

A Nan! Ngài nên biết rằng: Thân của Như Lai là pháp thân, không phải thân do tư dục. Phật là bậc Thế Tôn vượt ngoài tam giới. Thân Phật vô lậu, vì các lậu đã hết. Thân Phật vô vi, không mắc vào các số lượng. Thân như thế thì còn có bệnh gì?

Khi tôn giả A Nan nói thân Như Lai hơi có bệnh là ông muốn nói về Ứng thân, tha thọ dụng thân hay biến hóa thân là thân có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Thân nầy là thân vô thường nên phải chịu sinh lão bệnh tử như tất cả mọi chúng sinh. Còn trưởng giả Duy Ma Cật lại nói về Pháp thân, là thân Kim Cương, bất sinh bất diệt thì làm sao có bệnh được. Ứng thân là thân sinh diệt thuộc về pháp hữu vi nên mới có bệnh. Còn Pháp thân là Chơn Không Diệu Tánh, là pháp vô vi, là vô lậu thì làm sao có bệnh tật được.

Con người sống trong thế gian gánh chịu trăm nổi phiền não khổ đau vì thế Phật mới thị hiện để khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Phật Tri Kiến. Đức Phật đã dùng vô lượng phương tiện để trị vô lượng bệnh phiền não của chúng sinh vì thế mà Ngài được tôn xưng là Vô thượng Y Vương. Nhưng Vô thượng Y Vương là để trị tâm bệnh còn thân bệnh thì phải trị bằng thuốc men. Ông A Nan nói Như Lai có bệnh là ám chỉ Ứng thân. Mà Ứng thân thì do tứ đại hợp thành. Khi tứ đại hòa hợp thì yên ổn an vui còn khi tứ đại bất hòa thì sanh ra bệnh tật. Trong khi ông Duy Ma Cật nói thân của Đức Phật là Pháp thân chớ không phải là thân tư dục tức là thân mà không do tư tưởng ái dục duyên hợp mà thành.

Thân Phật vô lậu vì Đức Phật luôn làm việc thiện, không còn tạo nghiệp nên khỏi phải rơi rớt trong lục đạo luân hồi. Thân Phật vô vi vì tâm Đức Phật thường trụ Niết bàn nên cho dù không làm, không tạo tác mà vẫn an nhiên, tự tại bất sinh bất diệt. Thân Phật không mắc vào số lượng tức là không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Nếu là Ứng thân thì Đức Phật chỉ thọ có 80 tuổi và sống tại Ấn độ. Còn nói về Pháp thân thì thọ mạng bây giờ là vô cùng vô hạn. Vì Pháp thân bao trùm khắp mọi nơi và bất sanh bất diệt thì làm gì có tuổi mà nói. Không có thỉ mà cũng chẳng có chung, vô cùng vô tận. Vì thế nếu chúng sinh cảm nhận Pháp thân Phật thì ở đâu cũng có Phật và bất cứ lúc nào cũng có Phật trong tâm của chúng ta. Đây chính là Pháp thân Tỳ Lô Giá Na. Đức Phật A Di Đà có tuổi thọ dài vô lượng là ám chỉ Pháp thân vậy.

Nói về Sự Tướng tức là pháp hữu vi có sinh có diệt thì ông A Nan nói đúng vì thân của Đức Phật là Ứng thân. Còn nói về Bản Thể, là pháp vô vi bất sinh bất diệt, thanh tịnh bản nhiên thì ông Duy Ma Cật nói đúng vì thân Đức Phật bây giờ không còn là Ứng thân sinh diệt, có đau có bệnh mà là Pháp thân thanh tịnh bất sinh bất diệt thì làm gì có đau có bệnh.

Bạch Thế Tôn! Ông A Nan thưa. Lúc đó con rất là xấu hổ. Nghĩ rằng con được hầu bên Phật há lại nghe lầm ư? Liền đó, con tự nghe có tiếng trong không trung vọng đến: A Nan! Lời cư sĩ như thế là đúng, nhưng vì Phật xuất hiện trong đời ngũ trược ác thế, thị hiện ra việc làm như vậy nhằm giáo hóa độ chúng sinh. A Nan! Ông hãy đi xin sữa, đừng có hổ thẹn!

Sau bao năm làm thị giả A Nan rất hiểu ý Đức Phật vì thế khi nghe Phật nói hơi có bệnh thì A Nan biết mình không nghe lầm. Vì biết Phật có chút bệnh nên A Nan mới đi xin sữa mà sửa thì chưa có nhưng chỉ nghe ông Duy Ma Cật đuổi về thì làm sao A Nan không khỏi tủi thân, xấu hổ. Lúc A Nan còn đang phân vân là có nghe lầm không thì ông tự nghe có tiếng trong không trung vọng đến. Đây là lối diễn tả rất tinh xảo của Kinh Duy Ma Cật vì nếu không hiểu rõ thì dễ dàng rơi vào mê tín dị đoan. Câu:”tự nghe có tiếng trong không trung vọng đến” không thể hiểu là tiếng nói của các vị Trời, các vị Bồ-tát hay ngay cả chư Phật mà hai chữ “tự nghe” nói lên sự thức tỉnh, bừng sáng từ trong tâm thức của ông A Nan. Vậy A Nan thức tỉnh cái gì?

Đối với A Nan là vị thị giả của Phật mà chưa chứng quả A La Hán thì chấp ngã, chấp pháp vẫn còn. Vì thế cái nhìn của A Nan đối với Đức Phật Thích Ca là thật, là Ứng thân thì phải có bệnh. Khác với thế giới Hiện Tượng hữu hình, có sinh có diệt, có bệnh tật, có đau khổ bất tịnh thì bây giờ ông Duy Ma Cật mới giới thiệu cho A Nan một thế giới về Bản Thể vô vi thanh tịnh, không sanh không diệt, vô cùng vô tận là thế giới của Pháp thân. Cho nên chữ “tự nghe” ở đây chính là sự thức tỉnh, là ánh đuốc chợt bừng sáng để soi chiếu tự tâm ông A Nan và cũng là chiếc cầu nối giúp ông chuyển từ hệ thống giáo lý phương tiện Tiểu thừa chật hẹp sang tư tưởng Liễu nghĩa thượng thừa rộng lớn. Pháp thân mới chính là lý tưởng cứu cánh, là Bản Lai Diện Mục, là con người thật của mình vậy.

“Tiếng vọng trong không trung” cũng có thể hiểu là “tiếng lòng” nói lên sự phản tỉnh của ông A Nan qua những giây phút tiếp nhận những dòng tư tưởng ấm cúng của ánh lửa Đại thừa mà Ông Duy Ma Cật chính là người đã khơi dậy ngọn lửa trong đống to tàn. Và cũng chính “tiếng lòng” đã nhắc nhở ông A Nan sự khác biệt giữa Ứng thân và Pháp thân. Pháp thân là Bản Thể thanh tịnh nên không bệnh. Còn Ứng thân là nhục thân thị hiện nên vẫn còn bị ảnh hưởng bởi sanh, lão, bệnh, tử như tất cả mọi chúng sinh. Tuy Ứng thân Đức Phật có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, nhưng Ngài vẫn có bệnh như mọi người. Vì thế khi thân có bệnh cần có sữa để chửa trị thì cứ đi lấy, không e ngại chi cả.

Bạch Thế Tôn! Ông A Nan thưa. Ông Duy Ma Cật có sức trí tuệ biện tài vô ngại như thế, con không dám lãnh trách nhiệm đến thăm bệnh.

Ngoài mười vị đại đệ tử Thanh Văn nầy, còn có năm trăm vị

nữa ở trước Phật đến trình bày duyên cớ đã từng gặp ông Duy Ma cật trước kia.

Tất cả đồng xưng tán Trưởng giả Duy Ma Cật và đồng thưa lên Phật rằng không dám đi thăm bệnh.

Đây là một đoạn kinh rất hay vì đã phản ảnh rõ ràng sự thấy biết khác nhau giữa hàng Thanh văn và Bồ-tát. Ông A Nan tuy là đệ nhất đa văn nhưng vẫn còn nằm trong hàng Thanh văn nên cái thấy biết của ông là Pháp nhãn có nghĩa là ông nhìn vạn pháp chỉ thấy được Pháp Tướng tức là Hiện Tượng sinh diệt bên ngoài. Ngược lại ông Duy Ma Cật là vị đại Bồ-tát có trí tuệ sáng suốt và biện tài vô ngại nên cái thấy biết của ông chính là Pháp Tánh tức là Bản Thể thanh tịnh bất sanh bất diệt bên trong. Thấy Pháp Tướng thì nhìn Phật cũng chỉ thấy Phật Tướng. Do đó thấy Pháp Tướng thì rõ ràng là Phật có bệnh nên cần phải đi xin sữa. Ông Duy Ma Cật không nhìn Phật bằng Pháp Nhãn như ông A Nan mà nhìn bằng Tuệ Nhãn cho nên thay vì thấy Phật Tướng sinh diệt vô thường thì ông thấy Phật bằng Pháp Thân thanh tịnh bất sanh bất diệt. Cái hay cái tuyệt của đoạn kinh nầy không những chỉ cho chúng sinh thấy rõ sự khác nhau giữa Pháp Tướng và Pháp Tánh hay Hiện Tượng và Bản Thể mà nó còn dung hòa mọi tư tưởng, quy ba thân làm một. Khi đứng về Tướng và Dụng thì Ứng thân có bệnh. Còn đứng về Thể và Tánh thì Pháp thân là Thật Tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh. Do đó tuy nói là có Tướng, Dụng, Thể, Tánh hay Tiểu thừa, Đại thừa nhưng tất cả cùng quy về một mối là Nhất Thừa Phật Đạo, Sự Lý nhất như.

Khi đã thấy rõ sự khác nhau giữa Phật Tướng và Phật Tánh thì chúng ta có thể áp dụng chân lý nầy ngay vào trong đời sống của chính mình.

Lúc mới vào đạo Phật thì chúng ta đến chùa quy y Tam Bảo và được đặt cho một pháp danh thì đây là quy y thế gian trụ trì Tam Bảo. Phật bây giờ là những hình tượng trên bàn thờ tức là Phật Tướng để nhắc nhở chúng sinh những hình ảnh sống động lúc Phật còn tại thế khiến con người có cảm tưởng như được đối diện với Đức Thế Tôn. Pháp được hiểu là tam tạng kinh điển và Tăng là Tăng đoàn. Quy y nầy chỉ là tạo duyên để học Phật mà thôi vì đây là Hiện Tượng tức là pháp hữu vi sinh diệt bên ngoài vì tượng Phật, tam tạng kinh điển ngay cả chư Tăng đều nằm trong luật vô thường sinh diệt.

Khi đã biết đạo rồi thì chúng sinh phải quay về với Nhất Thể Tam Bảo vì đây mới là Bản Thể, là pháp vô vi bất sinh bất diệt, là tính thanh tịnh bản nhiên có sẳn trong tất cả mọi người. Vì Bản Thể là Chân Không, là Pháp Tánh, là Pháp thân thì không hình không tướng, không kích thước nặng nhẹ, không sinh không diệt, không dơ không sạch, vô ngôn vô thuyết thì đâu có ngôn ngữ nào diễn tả cho được mà đặt pháp danh.

Một hôm Lục Tổ ra giữa đại chúng mà hỏi:

- Ta có một vật không đầu, không đuôi, không tên, không họ, không lưng, không mặt. Vậy các ông biết là vật gì chăng?

Ngài Thần Hội lúc đó khoảng mười hai mười ba tuổi bèn lanh lẹ bước ra nói:

- Dạ đó là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội.

Tổ quở:

- Đã nói là không tên, không họ mà ông lại kêu là bản nguyên, là Phật tánh thì cũng như lấy tranh che đầu mà thôi.

Có nhiều người hiểu lầm cho rằng Kinh Bát Nhã nói cái gì cũng không. Không Phật, không Niết Bàn vậy tu để làm gì? Kinh Kim Cang có câu:”Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” tức là Phật dạy chúng sinh dùng trí tuệ Bát nhã phá trừ tất cả là cốt cho chúng ta không có chỗ bám. Vì nếu chúng sinh còn bám vào một giả danh hay giả tướng nào là còn kẹt trong vòng sanh diệt đối đãi và sẽ không thấy cái chơn thật nơi mình.

Một hôm có quan Đại phu họ Mã đến hỏi ngài Triệu Châu, một cao Tăng đời nhà Đường:

- Hòa thượng gần đây có tu hành gì không?

- Nếu nói tu hành là họa.

- Nếu ngài nói tu hành là họa, tại sao ngài dạy đại chúng tu?

Ngài cười.

Đây là đứng về mặt bất biến tức là Bản Thể mà nói. Vì Thể Tánh vốn nhất như nên không còn tu bởi vì nếu khởi tu tức là động. Mà động là còn sanh diệt tức là tai họa chớ là gì? Nhưng nếu đứng về mặt tùy duyên tức là Sự Tướng thì còn phải tu vì có tu mới có giải thoát. Phật pháp là tùy duyên cho nên nếu duyên phàm thì thành phàm còn duyên Thánh thì trở thành Thánh vì thế mà nói có tu, không tu là vậy. Do đó nếu không thông suốt sự khác biệt giữa Bản Thể và Sự Tướng mà chỉ hiểu một chiều thì vô cùng tai hại.

Nhất Thể Tam Bảo gồm có Phật tánh, Pháp tánh và Tăng tánh.

1)Phật tánh: Trong tất cả chúng ta không phân biệt là người Việt, người Tàu, người Tây hay người Mỹ đều có sẳn cái Phật tánh thanh tịnh bản nhiên. Cái Phật tánh nầy chính là Pháp thân mà ở Phật cũng không tăng và ở chúng sinh cũng không giảm. Phật tánh hay Pháp thân thì lúc nào cũng thanh tịnh, nhưng vô minh vọng chấp che lấp Phật tánh khiến con người sống trong điên đảo, khổ đau. Thí dụ như sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thì tự nó luôn luôn thanh tịnh. Nhưng khi tiếp xúc với ngoại trần liền bị đắm nhiễm. Cũng như con mắt thì tự nó thanh tịnh, không ô nhiễm nhưng khi mắt nhìn thấy cái nhà đẹp, cành hoa xinh, chiếc xe tốt thì tâm liền phân biệt tạo thành ý niệm ham muốn. Ham muốn là tham tức là ô nhiễm. Ngay cả lục trần tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tự nó cũng có bản nhiên thanh tịnh, không ô nhiễm. Thí dụ như cành hoa đâu có mê hoặc ai đâu? Mê sắc là tại người chớ đâu phải tại hoa. Ngay cả rượu có làm ai say đâu? Thế mà con người chết lên chết xuống cũng vì rượu. Do đó nếu con người biết lìa vọng chấp, sáu căn thường sáng tỏ, không dính mắc nơi sáu trần thì tâm được thanh tịnh tức là thấy được Pháp thân hay Phật tánh hiện bày.

Ngày xưa ngài Huệ Tịch tới chỗ Thiền sư Trung Ấp thưa rằng:

- Bạch Hòa thượng! Thế nào là Phật tánh?

Ngài Trung Ấp nói:

- Ta không nói thẳng được nhưng dùng thí dụ nầy cho ông tạm hiểu: Như có con khỉ nhốt trong lồng có sáu cánh cửa. Bên ngoài một con khỉ khác tới kêu “Chéo! Chéo” thì con khỉ trong cũng đáp lại:”Chéo! Chéo” . Cứ như vậy con khỉ bên ngoài tới cửa nào cũng kêu thì con khỉ bên trong đều đáp lại hết.

Ngài Huệ Tịch liền hỏi lại:

- Bạch Hòa thượng! Nếu con khỉ bên trong ngủ thì sao?

Thiền sư Trung Ấp từ trên tòa bước xuống nắm lấy vai Huệ Tịch mà nói:

- Chúng ta thấy nhau rồi.

Khi lục căn tiếp xúc với lúc trần thì sanh vọng thức mê lầm. Còn lục căn yên lặng không bị lục trần quyến rủ thì có tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là chơn tâm, là Phật tánh vậy.

Trong Kinh A Di Đà, Phật dạy rằng:

- Hoặc một ngày cho đến bảy ngày niệm mà không niệm đến chỗ nhất tâm bất loạn thì Phật hiện tiền. Cũng như đi, đứng, nằm, ngồi mà tâm hằng thanh tịnh, không một chút vọng niệm khởi thì Phật tánh hiện tiền.

Phật tánh tức là tự tánh A Di Đà. Bởi vì Phật A Di Đà là Phật có vô lượng thọ và vô lượng quang. Mà tuổi thọ vô lượng là chỉ cho cái bất sinh bất diệt và vô lượng quang là ánh sáng trùm khắp vô cùng vô tận mà Kinh Lăng Nghiêm gọi là Chơn Tâm, Kinh Pháp Hoa gọi là Tri Kiến Phật, Kinh Niết Bàn gọi là Phật Tánh, Kinh Hoa Nghiêm gọi là Trí Huệ Phật, Kinh Viên Giác gọi là Như Lai Viên Giác Diệu Tâm. Đây chính là tự tánh thanh tịnh sẳn có nơi mỗi chúng ta mà lâu nay con người cứ lầm lẫn cho nó ở ngoài mình nên mãi rong ruỗi tìm cầu. Tu Thiền hay tu Tịnh độ thì cứu cánh không khác chỉ vì chúng sinh mắc kẹt trên hình thức nên thấy có sự sai khác. Ở Ấn Độ tuy cũng có nhiều tông phái khác nhau mà các Luận sư tuy nói khác nhau nhưng bản ý là cùng nhau hướng về giải thoát giác ngộ. Trong khi ở Trung Hoa, Việt Nam thì môn đồ của hai tông bài xích nhau chẳng khác cừu thù. Học Phật, tu Phật như thế không thể chứng ngộ vì con người còn mắc phải quá nhiều bệnh cố chấp.

Thật vậy con người có sự phân biệt tông nầy, phái nọ nhưng chân lý Phật pháp vốn không sai biệt. Phải biết rằng một câu niệm Phật hay câu trì chú chỉ là phương tiện chớ không phải là cứu cánh. Người mới học Phật pháp lại phát sinh ra nhiều ý kiến, phân chia tông nầy phái nọ, rồi khen mình chê người làm tổn hại giá trị giáo hóa vi diệu của Phật pháp.

Có người hỏi rằng Thiền chú trọng về tự lực trong khi tịnh độ thì chú trọng vào tha lực. Mà tự lực và tha lực thì làm sao giống nhau?

Thật ra tâm Phật và tâm của chúng sinh không hề khác nhau. Tâm Phật là Phật tánh thì từ vô thủy đến nay vốn không sinh diệt, không hình tướng, không thuộc Có Không. Cái linh tri ấy có đủ bốn đức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Bởi vì cái linh tri nầy không sanh không diệt nên nói là Thường, lúc nào cũng an nhiên tự tại nên gọi là Lạc, là chủ sinh ra muôn pháp nên gọi là Ngã và không bị cấu nhiễm nên gọi là Tịnh. Chỉ vì chúng sinh cứ chấp vào tướng nên đi tìm tâm ở bên ngoài nên Phật và chúng sinh mới xa cách muôn trùng vì ta và tha nhân là hai thực thể khác nhau.

Nên biết rằng Tịnh độ không những chú trọng đến tha lực mà đòi hỏi cả công phu về tự lực nữa. Nguyên tắc căn bản của Tịnh độ là phải biết nghiêm trì sáu căn: mắt, tai, mũi. lưỡi, thân, ý và ba nghiệp tức là thân, khẩu, ý cho thật thanh tịnh để lúc niệm Phật được nhất tâm. Đó là phần tự lực. Do đó khi niệm hồng danh chư Phật thì tâm không hề có vọng tưởng thì con người sẽ cảm thông được với chơn tâm hay Phật tánh của chư Phật trong mười phương pháp giới. Thật ra tâm Phật và chúng sinh vốn nào có khác đều cùng một Bản Thể nhưng vì chúng sinh bị vô minh che lấp nên chưa ý thức được điều nầy vì thế mới có sự phân biệt, xa cách. Chúng sinh từ vô thỉ đến nay đã gây ra biết bao tội nghiệp. Cho dù công phu tu tập đến đâu cũng khó trong một đời mà giải trừ được hết nghiệp chướng nên phải nương nhờ oai lực ở câu niệm Phật để tiêu trừ bớt nghiệp ngỏ hầu giúp cho tín căn và tín lực gia tăng mà được vãng sanh. Đó là phần tha lực.

Tóm lại, Tịnh độ bao gồm cả tha lực và tự lực, tuy giản dị nhưng công năng vô cùng huyền diệu. Chúng sinh phải nắm vững những quy tắc căn bản của Tịnh độ vì nếu không ý thức việc nghiêm trì sáu căn và ba nghiệp mà chỉ trông nhờ vào tha lực tiếp dẫn mà thôi là một thiếu sót rất lớn. Thiếu tự lực thì không có nhất tâm mà không nhất tâm thì làm sao thông cảm được với chơn tâm của chư Phật. Có một số người niệm Phật để cầu phước hay để xin xỏ việc nầy việc nọ thì cũng là đi ngược lại vời tông chỉ của Tịnh độ. Khi thiếu tâm thành mà chỉ mong cầu nầy nọ là tham lam mà đã là tham lam thì làm sao có kết quả được. Đối với người tu Tịnh độ thì không cần xin gì ngoài việc vãng sanh về cõi Tây phương với Phật A Di Đà.

Chúng ta bây giờ tự hỏi Tổ Bồ-đề Đạt Ma ngồi quay mặt vô tường suốt chín năm để suy gẫm điều gì?

Phải chăng ngài gẫm thấy tâm tức là Phật, Phật tức là chúng sinh. Khi mê thì có chúng sinh, có Phật nhưng khi ngộ thì Phật và chúng sinh vốn nào có khác. Phật tánh, chơn tâm thì không nhơ, không sạch, không sinh không diệt. Ở chúng sinh nó không tăng mà ở Phật nó cũng không giảm cho nên Ngài vượt thoát ra khỏi mọi phiền não khổ đau, ra khỏi sinh tử luân hồi mà đạt đến Niết bàn giải thoát.

Có người lại thắc mắc rằng Tổ Bồ-đề không hề nói đến Phật A Di Đà hay cõi Tây phương Cực lạc?

Thật vậy. Nhưng nghĩ lại là nếu có người dân quê hiền lành chất phác đến nghe pháp mà Tổ lại giảng về lý Không, pháp Tánh, pháp Tướng hay nguyên lý Bất nhị thì những điều nầy đâu có ý nghĩa gì đối với họ. Phải chăng đó là những danh từ trừu tượng trống rỗng, không thể hiểu và không có lợi ích gì? Nhưng nếu giảng cho họ về Đức Phật A Di Đà và những hạnh nguyện tiếp dẫn của Ngài để được về cõi Tây phương Cực lạc thì họ sẽ hiểu, sẽ tin và phát tâm muốn được sanh về cõi đó. Nếu suốt ngày họ trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà, biết chú tâm vào hồng danh nầy khi làm ruộng, lúc nghĩ ngơi, khi gặt lúa cho đến lúc nhất tâm bất loạn thì cái ảo ảnh nhị nguyên của vô minh, cái tâm phân biệt, có chúng sinh có Phật sẽ chấm dứt và họ sẽ chứng ngộ được thực tại mầu nhiệm ngay. Dù chúng ta gọi nó là tha lực tiếp dẫn của Đức A Di Đà, gọi là thiền, gọi là mật, gọi là giáo thì đâu có khác biệt gì đâu? Cái khả năng giải thoát mà con người cho rằng vốn ở bên ngoài tức là tha lực thật ra vẫn ở bên trong tức là tự lực thì lúc nào vẫn sẳn có trong ta. Đó chính là cái tự tánh thanh tịnh bản nhiên vĩnh hằng trong tất cả mọi chúng sinh. Như thế khi hiểu rõ những chân lý nầy thì tùy theo ý thích của mỗi người mà bàn về thiền hay tịnh độ. Thiền cũng tốt mà Tịnh cũng hay. Người học Phật nếu đọc qua cuốn “Tông Cảnh Lục” và “Muôn Thiện đồng quy” của Tổ Vĩnh Minh hay trong”Bồ-tát Đại Thế Chí niệm Phật viên thông” thì Tịnh độ cũng phát xuất từ tự tánh, xả bỏ vọng tưởng, quay về nguồn chân nên chớ hướng ngoại tìm cầu. Nếu chúng sinh niệm danh hiệu Phật A Di Đà để dẹp trừ vọng tưởng, chấp trước thì mỗi câu niệm sẽ quét sạch vọng tưởng làm tâm thanh tịnh. Vì thế kinh mới có câu:”Duy tâm tịnh độ, tự tánh Di Đà” là vậy. Như thế thì cái mà Tổ Bồ-đề Đạt Ma chứng trong lúc ngồi thiền và người nông phu chất phác chứng ngộ trong khi niệm hồng danh Phật A Di Đà có khác gì nhau. Thiền gọi nó là Minh Tâm Kiến Tánh trong khi Tịnh gọi là Nhất Tâm Bất Loạn thì cùng một ý nghĩa tức là họ đã thấy được Phật tánh, chơn tâm hay tự tánh thanh tịnh bản nhiên của mình vậy thôi.

Phải biết rằng Thiền, Tịnh, Mật đều là những con đường khác nhau, phương tiện khác nhau nhưng đều dẫn đến một mục đích là giải thoát giác ngộ. Cũng như nếu nhìn từ đỉnh núi xuống thì có vô số con đường dẫn lên núi nhưng nếu từ chân núi nhìn lên thì chỉ có một đỉnh núi cao mà thôi. Tịnh độ tông hay niệm Phật A Di Đà là phương pháp tập trung tư tưởng để trì niệm hồng danh chư Phật cho đến chỗ nhất tâm bất loạn. Khi tâm không còn loạn động, không còn phiền não và không còn điên đảo thì sẽ có trí tuệ sáng suốt. Mật tông thì cũng thế, thay vì niệm hồng danh chư Phật thì người tu trì thần chú, mật ngữ của chư Phật để đạt đến nhất tâm. Khi biết phối hợp âm thanh (chú) với cử chỉ (ấn quyết) và tâm ý (Tam Ma Địa) thì đạt được tam mật tương ưng tức Thân, Khẩu, Ý được thanh tịnh.

Khi không còn vọng niệm, đạt đến trạng thái như như bất động thì làm gì còn phiền não. Sau cùng Thiền là phương pháp sử dụng trí tuệ bằng cách nhìn thẳng vào thực tánh của vạn pháp. Vì vạn pháp giai không duyên sanh như huyễn nên trên đời nầy đâu có cái gì thật đâu mà phải quan tâm, bận lòng. Khi tâm không loạn động thì sẽ có Định. Mà có Định thì phiền não không còn, khổ đau tan biến. Tóm lại về mặt hình thức tuy có khác nhưng tựu trung ba phương pháp cũng đều quay về để diệt trừ vọng niệm, dứt sạch mọi phiền não để chấm dứt khổ đau và giải thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Đây chính là một là tất cả và tất cả là một vậy.

2)Pháp tánh: là cái nhận biết cho phù hợp với chân lý, đúng với chân lý tức là có chánh tri chánh kiến để đưa con người đến chỗ thanh tịnh, an vui và tự tại.

3)Tăng tánh: Phật tánh là tánh thanh tịnh bản nhiên ở trong ta và Pháp tánh là cái trí tuệ của ta như thế Tăng tánh là tánh hòa hợp của tánh thanh tịnh bản nhiên và trí tuệ sáng tỏ trong ta để tránh xa mọi ô nhiễm bên ngoài.

Quy y Nhất Thể Tam Bảo mới chính thật là quay về để sống với con người chân thật mà bấy lâu đã bị vô minh che lấp làm cho chúng ta sống trong điên đảo khổ đau. Con người chân thật nầy không ai khác hơn là Bản Lai Diện Mục, là Chơn tâm, là Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, là Phật tánh có sẳn trong tất cả mọi người.

Phần Tóm lược Phẩm Đệ Tử

Trong phẩm đệ tử nầy chúng ta có cơ hội học hỏi sự trao đổi kiến thức của mười vị đại đệ tử của Phật với ông Duy Ma Cật, một vị đại Bồ tát có trí tuệ vô song và biện tài vô ngại. Tuy hoàn cảnh có khác, nhưng tựu trung cũng nhắm vào một đối tượng duy nhất là viên thành Phật đạo. Mà con đường để đạt đến cứu cánh tột đỉnh nầy là phải thấu suốt thật tướng của vạn pháp. Mà thật tướng chính là Bản Thể, là Chơn Như, là Phật tánh, là tính thanh tịnh bản nhiên có sẳn trong tất cả mọi người. Vì thế Kinh Kim Cang mới có câu:”Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai” nghĩa là tất cả những gì trong thế gian vủ trụ nầy mà có hình tướng thì là giả huyễn, không thật. Còn nếu thấy được thật tướng của vạn pháp thì thấy được Chân Lý.

Tuy mười vị đại đệ tử của Phật đã phá được chấp ngã nên họ lìa xa được phiền não khổ đau, nhưng chấp pháp vẫn còn. Đó là họ thấy con người là thật, thế gian vủ trụ là thật nên muốn xa lánh cuộc đời để không còn bị ô nhiễm và tinh tấn tu hành để được an vui tịch diệt Niết bàn. Trưởng giả Duy Ma Cật là người đại diện cho Phật giới thiệu cho họ con đường Đại thừa rộng lớn để phá luôn chấp tướng thì mới viên thành Phật quả. Khi nói “vạn pháp giai Không” thì ông Duy Ma Cật đã đưa họ vào một thế giới vô cùng vô tận. Thế giới của Chân Không Diệu Tánh, không hình không tướng, không phiền não khổ đau, không cầu không đắc, hoàn toàn thanh tịnh. Chính ông Duy Ma Cật đã nắm tay đưa họ từ thế giới vật chất hữu hình hữu hoại sang một thế giới vô vi thanh tịnh. Khi đã biết và sống trong thế giới của Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì con người sẽ không còn lo sợ, mộng tưởng điên đảo mà lúc nào cũng an vui tự tại. Tâm Kinh dạy rằng:”Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” thì con người sẽ không còn phân biệt Tiểu thừa hay Đại thừa, hữu vi hay vô vi mà tất cả đều quy về Nhất thừa Phật đạo, lìa bỏ hai bên để nhập vào pháp môn Bất Nhị. Vì sự huyền diệu của kinh nên chúng ta cần phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, diệt trừ lòng mê mờ chấp ngã chấp pháp ngỏ hầu phát huy trí tuệ sẳn có trong chúng ta mà trực nhận Chân lý để được tự giác rồi giác tha và đạt đến cứu cánh giải thoát hoàn toàn.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn