Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

32-Ứng Hoá Phi Chân

24/10/201009:08(Xem: 4120)
32-Ứng Hoá Phi Chân

KINH KIM CANG
GIẢNG GIẢI

Hòa Thượng Thích Thanh Từ

ĐOẠN 32

ÂM:

ỨNGHÓA PHI CHÂN.

Tu-bồ-đề! Nhược hữu nhândĩ mãn vô lượng a-tăng-kỳ thế giới thất bảo, trì dụng bố thí; nhược hữu thiệnnam tử, thiện nữ nhân, phát bồ-đề tâm giả, trì ư thử kinh, nãi chí tứ cú kệđẳng, thọ trì độc tụng, vị nhân diễn thuyết, kỳ phước thắng bỉ. Vân hà vị nhândiễn thuyết? Bất thủ ư tướng, như như bất động. Hà dĩ cố?

Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.

Phậtthuyết thị kinh dĩ, trưởng lão Tu-bồ-đề cập chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc,Ưu-bà-di, nhất thiết thế gian thiên, nhân, a-tu-la văn Phật sở thuyết, giai đạihoan hỷ, tín thọ phụng hành.

DỊCH:

ỨNGHÓA KHÔNG PHẢI THẬT.

Này Tu-bồ-đề, nếu cóngười đem bảy báu bằng thế giới trải qua số kiếp vô lượng a-tăng-kỳ để bố thí.Nếu có người thiện nam, người thiện nữ phát tâm bồ-đề đem kinh này cho đến bốncâu kệ v.v. thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói thì phước của người này cònhơn phước của người kia. Thế nào là vì người diễn nói? Chẳng thủ nơi tướng, nhưnhư bất động. Vì cớ sao?

Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng, huyễn, bọt, bóng,
Như sương cũng như điện,
Nên khởi quán như thế.

Phật nói kinh này rồi,trưởng lão Tu-bồ-đề và chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cảthế gian trời, người, a-tu-la nghe Phật nói đều rất vui mừng, tin thọ và vânglàm.

GIẢNG:

Trong đoạn trước, đứcPhật bảo: Giả sử có người đem của báu đầy cả số thế giới bằng số cát sông Hằngra bố thí, công đức không bằng người dùng trí biết tất cả các pháp là vô ngã vàứng dụng để tu hạnh nhẫn nhục. Ở đây đức Phật lại bảo: Đem bảy báu đầy cả thếgiới trải qua thời gian vô số vô biên kiếp ra bố thí. Đoạn trước là đứngvề mặt không gian mà nói (thế giới nhiều bằng cát sông Hằng), còn đoạn này làđứng về mặt thời gian là vô lượng a-tăng-kỳ. A-tăng-kỳ là vô số, nghĩa là trảiqua thời gian vô lượng vô số, mà mỗi thời gian đều đem bảy báu đầy cả thế giớira bố thí. Lại một người khác, hoặc nam, hoặc nữ phát tâm bồ-đề đem kinh nàycho đến chỉ bốn câu kệ v.v. thọ trì, đọc tụng vì người diễn nói thì phước củangười này hơn phước của người kia. Nghe như thế ai mà không thích. Nhưng tiếptheo đức Phật liền đặt câu hỏi: Thế nào là vì người diễn nói? Đoạn này nêu rõba trường hợp: Thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói, nhưng đức Phật chỉ hỏitrường hợp thứ ba thôi, tuy trường hợp thứ ba nhưng gồm cả hai trường hợp trướcrồi. Ngài dạy tiếp: Chẳng thủ nơi tướng, như như bất động, thì thọ trì cũngchẳng thủ nơi tướng, như như bất động, đọc tụng cũng chẳng thủ nơi tướng, nhưnhư bất động, vì người diễn nói cũng chẳng thủ nơi tướng, như như bất động, đólà công đức hơn người bố thí bảy báu trải qua số kiếp vô lượng vô biên. Như thếđâu phải là đơn giản. Người nay cứ nghe nói thọ trì, đọc tụng bèn đem ra đọcmãi, cho đó là tôi thọ trì kinh Kim Cang rồi tính được một phẩm hai phẩm.(một phẩm là sáu mươi quyển), một đời tôi thọ trì được ba phẩm kinh KimCang và cho đó là hay. Như thế người này đã căn cứ trên chữ nghĩa để thọ trì,lại thêm tính phẩm, tính số lượng nữa thì đối với tướng là thủ tướng. Hiểu nhưthế mới thấy rõ lời Phật dạy chớ nhiều khi chúng ta bị lầm, chỉ nhớ mấy chữ thọtrì đọc tụng chớ không nhớ phần sau, mà chủ yếu là phần sau. Chúng tathấy Phật thật là khéo, nếu là chúng ta, đến khi hỏi, thế nào cũng hỏi luôn chođủ ba phần, còn Phật chỉ hỏi có phần sau, chỉ hỏi thế nào là vì người diễn nóivà dạy rằng: “Chẳng thủ tướng, như như bất động” và bỏ lửng phần thọ trì đọctụng. Như thế để thấy rằng Ngài biết đi đến chỗ “Chẳng thủ tướng, như nhưbất động” rất khó, chúng sanh ít ai làm nổi. Nếu giải nghĩa trùm luôn e thấy khókhông ai làm, nên Ngài chỉ nói vì người diễn nói là chẳng thủ tướng, như nhưbất động, mà không đề cập đến hai phần trên, nhưng văn thể là như thế. Ngườikhông hiểu cho rằng thọ trì đọc tụng là thường, còn vì người diễn nói mới làchẳng thủ tướng, như như bất động, thôi rán thọ trì đọc tụng để được phước. Thếnên nhiều khi chúng ta học kinh mà không nắm vững ý kinh, cứ chấp từng đoạn vàlấy đó làm sở đắc, đó là điều nguy hiểm. Hiểu như thế chúng ta mới hiểu rõ tạisao đức Phật bảo công đức trì kinh Kim Cang là vô lượng vô biên, hơn tấtcả công đức. Vì dùng trí tuệ Bát-nhã thấy tất cả pháp tướng không thật, do đókhông chấp vào một tướng nào nên mới không thủ tướng. Không chấp tướng mà hằngsống với tâm đưa tất cả chúng sanh vào vô dư Niết-bàn, đó là như như bất động.Như thế chỗ như như bất động là cái không sanh, không diệt. Chúng ta sống đượcvới nó, vì người diễn nói, thử hỏi công đức không hơn công đức của người đembảy báu đầy khắp cả không gian hoặc là suốt cả thời gian mà bố thí sao? Của báulà cái hữu tướng, là vô thường, còn như như bất động là không có tướng, khôngvô thường nên không sanh diệt. Sống được với cái không sanh diệt, và đem cáikhông sanh diệt chỉ cho người nhận, thì phước đức không lớn là gì?
Đến đây đức Phật dạy thê

Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng huyễn, bào ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.

Những gì có hình tướng,có động tác bị vô thường sanh diệt đều gọi là pháp hữu vi. Có nhiều người nói:Ở chùa thờ tượng Phật, đánh chuông, đánh trống, đó là tướng hữu vi, chúng tôikhông như vậy, chúng tôi chỉ thờ một tấm vải, hay chúng tôi chỉ thắp một câyhương trên bàn không, hay chúng tôi dùng tấm vải vẽ chữ Phật thôi, đó là vô vi.Tuy nhiên còn có cây hương, có tấm vải, có cái bàn cũng là hữu vi mất rồi. Thếmà người ta cứ lầm, không hiểu được ý nghĩa chính của đạo Phật. Hữu vi nghĩa làtất cả những gì có tướng mạo, có tướng mạo đều bị vô thường, sanh diệt. Như tượng Phật bằng gỗ, bằng xi măng có tướng mạo thì vô thường, tấm vải cótướng mạo thì cũng vô thường, cây nhang có tướng mạo thì cũng vô thường. Cả đếnnhững niệm tưởng cũng là tác động sanh diệt thì cũng là hữu vi. Tất cả pháp hữuvi đều như giấc mộng, đều huyễn hóa, đều như bong bóng khi hạt mưa rơi, đều nhưbóng của người, của cây, của vật không thật, cũng như sương mù, điện chớp,chúng ta phải khởi quán như thế mới không thủ tướng, mới như như bất động. Nếuthấy có cái thật, tức là thủ tướng mà thủ tướng thì tâm động. Tôi nói một ví dụgần nhất như chúng ta mặc chiếc áo thật sạch, bất thần có người tay dính đầy lọchụp vào vai chúng ta thì thế nào? Mình động không? Vì mình chấp cái tướng sạchnên thấy chiếc áo dơ là nổi sân liền. Thế nên thủ tướng thì động, trái lại nếukhông chấp tướng thì như như bất động, rõ ràng như vậy, đó là tôi nói nhữngviệc hết sức nhỏ. Đến những việc lớn hơn như thân mạng thì động liên miên. Giảsử có người nào nghe nói ngày mai bị tử hình thì đêm nay người đó ngồi thiềnyên lặng được không? Quí vị tưởng tượng xem đêm đó ngồi thiền yên lặng hay làtrằn trọc suốt đêm hay khóc thôi là khóc? Như thế để thấy còn chấp tướng làkhông bao giờ an ổn được.
Đến đây tôi kể cho quí vị câu chuyện như sau: Vuanước Kế Tân nghe lời sàm thần nói Tổ Sư Tử truyền bá tà pháp làm nhiễu loạnlòng dân. Vua tay cầm kiếm đi đến chỗ Tổ, hỏi: “Nghe nói Ngài thấy năm uẩn đềukhông phải chăng?” Tổ bảo: “Phải”. Vua nói: “Nếu thấy năm uẩn đều không, Ngàicho tôi cái đầu được không?” Tổ bảo: “Năm uẩn đã không, sá gì cái đầu”. Vualiền chặt đầu Tổ.(1)
Qua câu chuyện này, vua Trần Thái Tông có lời niêm:
Tương đầu lâm bạch nhẫn
Du như trảm xuân phong.
Dịch:
Đem đầu kề gươm bén
Dường như chém gió xuân.
Chúng ta thấy người xưa đạt đạo đến như thế, đó làngười tự tại khi sanh tử. Còn chúng ta vì thấy tất cả đều thật nên nghe độngđến tứ đại này thì tâm rối loạn, không bao giờ an ổn được. Vì thế nếu khôngdùng trí hằng quán, hằng thấy như lời Phật dạy thì không thể nào không chấptướng, không thể nào như như bất động được. Quí vị thấy Phật dạy có hệ thống rõràng, muốn được như như thì trước phải đừng chấp tướng, còn chấp tướng thì đừngnói như như. Bài kệ trên dạy ta phải dùng trí hằng thấy, hằng quán tất cả pháphữu vi, từ thân đến cảnh, những gì có hình tướng, có tác động, đều là vô thườngsanh diệt nên như huyễn, như hoá, như bào, như ảnh.
Phật nói kinh này rồi trưởng lão Tu-bồ-đề và cácTỳ-kheo v.v. đều hoan hỷ, tín thọ phụng hành. Vậy quí vị có hoan hỷ, tín thọphụng hành không? Hoan hỷ thì có thể có, còn tín thọ phụng hành thì xem ra cóvẻ khó phải không?

Tôitóm tắt lại xem bộ kinh Kim Cang dạy chúng ta những gì?

Toànbộ kinh Kim Cang chia làm ba mươi hai phần, trong ba mươi hai phần này, chủ yếucó hai điểm chánh, điểm thứ nhất là ngài Tu-bồ-đề hỏi làm sao hàng phục tâm,điểm thứ hai là hỏi làm sao an trụ tâm. Khi ngài Tu-bồ-đề hỏi hàng phục tâm, antrụ tâm là hỏi cho ai? Cho người cầu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cóngười thiện nam, thiện nữ phát tâm tu hành, cầu giác ngộ làm sao hàng phục tâm,làm sao an trụ tâm? Hàng phục tâm, an trụ tâm là hai điểm chủ yếu của bộ kinh. ĐứcPhật dạy như thế nào? Lý đáng thì câu hỏi đầu là an trụ tâm, câu hỏi kế là hàngphục tâm, nhưng khi trả lời, Phật dạy hàng phục tâm trước rồi an trụ tâm sau.Đức Phật dạy:

Muốnhàng phục tâm thì phải phát tâm độ tất cả chúng sanh, thai sanh, thấp sanh v.v.vào Vô dư y Niết-bàn mà không có chúng sanh được diệt độ. Nói tóm lại muốn hàngphục được tâm thì phải độ tất cả những niệm tưởng về có sắc, niệm tưởng vềkhông sắc, về có tưởng, về không tưởng v.v. vào chỗ vô sanh, đưa chúng vào chỗvô sanh không còn tăm dạng. Muốn an trụ tâm phải làm sao? Đức Phật dạy: Muốntâm an trụ thì đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tức là đối vớisáu trần Bồ-tát bố thí không nên trụ sắc sanh tâm, không nên trụ thanh, hương,vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, tức là không để cho tâmkẹt vào sáu trần. Tâm không dính với sáu trần thì đó là trụ tâm. Như thế sáutrần là cái cớ để tâm mình động, nghĩa là mắt thấy sắc, tâm chạy theo sắc, làtâm động. Trái lại mắt thấy sắc mà tâm không chạy theo sắc, là tâm trụ, tainghe tiếng mà tâm không chạy theo tiếng, là tâm trụ, trụ mà không trụ, trụ chỗkhông trụ. Còn thấy sắc mà chạy theo sắc là không phải trụ, trụ nơi sắc tức làkẹt nơi sắc thì tâm mình động chớ không phải trụ, không trụ nơi sắc thì tâm mớithật an trụ.

Như thế muốn trụ tâm, thìđừng dính với sáu trần, muốn hàng phục tâm thì buông xả mọi vọng tưởng. Vọngtưởng hết, đó là hàng phục được tâm, không theo sáu trần, đó là an trụ tâm. Tuynói hai mà dường như không phải hai, vì an trụ tức là hàng phục, hàng phục tứclà an trụ, nhưng tại sao lại nói thành hai? Hàng phục với an trụ, quí vị thấycái nào sâu hơn? Nếu chữ hàng phục có công năng là phải dùng sức để đàn áp thìchữ trụ là chỉ buông xả rồi thôi. Thế nên hàng phục là giai đoạn đầu, giai đoạnsơ cơ, khi tâm còn chạy theo cảnh, theo người tức là theo sáu trần một cáchmạnh mẽ. Nếu mình không có phương tiện, không khéo dùng sức mạnh để trị nó thìdừng không được. Vì thế mỗi một niệm tưởng nào dấy lên thì trong giai đoạn đầumình phải nhìn, phải phá nó bằng mọi phương tiện, hoặc biết nó là vọng rầy lanó, hoặc thấy nó giả dối buông bỏ nó, đó gọi là hàng phục. Vì lúc đó tâm cònhung hăng, cho nên phải tận dụng khả năng đập đánh nó, nó mới dừng. Cònnói đến an trụ là đối với sáu trần không dính mắc, thấy sắc mà không theo sắc,đó là lúc tâm hơi thuần rồi, nghe tiếng mà không theo tiếng, đó là thuần rồi.Thế nên giai đoạn an trụ là giai đoạn thứ hai khi nó thuần thục. Vì thế Phậttrả lời từ hàng phục đến an trụ, vì giai đoạn hàng phục là giai đoạn dụng công nhiều,còn giai đoạn an trụ là thấy nghe đều buông nên nhẹ nhàng hơn. Tỉ dụ như chúngta vừa thấy cảnh, tâm liền duyên theo cảnh tức thì mình phải nói đây là vọng,là giả dối, theo cái vọng này là sai, dụng công la rầy, quở phạt nó, đó là hàngphục, còn an trụ thì chỉ là buông xả. Thế là hai giai đoạn khác nhau rõ ràng,từ hàng phục chúng ta đi đến chỗ an trụ, một bên dụng công mạnh, một bên dụngcông nhẹ, nhẹ là vì nó hơi thuần rồi. Cả hai phần này đều nhắm vào nộitâm.
Tuy nhiên nếu chỉ có hai phần trên thì quyển kinh KimCang chưa ứng dụng được, cần phải có phần thứ ba, tức là phải dùng trí tuệBát-nhã thấy tất cả pháp là tướng duyên hợp không có tự tánh, chỉ có giả danh.Bởi chỉ có giả danh nên không một pháp nào thật, do đó không chấp vào pháp vàkhông chấp pháp thì mới có thể hàng phục, an trụ được tâm. Thế nên điều thứ balà phải dùng trí tuệ thấy tất cả pháp không thật, chỉ có giả danh. Thế giớikhông phải thế giới, ấy gọi là thế giới, chúng sanh không phải chúng sanh, ấygọi là chúng sanh. Phật lặp đi lặp lại ý nghĩa đó để chúng ta hằng dùng trí tuệBát-nhã quán chiếu tất cả pháp là hư giả, rồi sau đó mới hàng phục được tâm,mới an trụ được tâm. Như thế phần thứ ba dường như là sau mà lại ở trước. Bàikệ cuối cùng đức Phật dạy:

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.

Phậtbảo phải thấy, phải khởi quán như vậy thì mới hàng phục, mới an trụ được tâm,còn nếu không thấy như thế thì không thể nào làm được hai việc trên. Vì vậyphần này ở sau mà thành ra trước, bởi vì đức Phật phải trả lời hai câu hỏi củangài Tu-bồ-đề trước, rồi Ngài mới chỉ cách tu dùng lối quán chiếu để việc hàngphục được dễ, việc an trụ thực hiện được. Nếu thiếu phần quán chiếu không thểnào hàng phục tâm và cũng không thể nào an trụ tâm. Vì thế học Bát-nhã chúng taphải dùng trí tuệ quán chiếu các pháp do duyên hợp, không có thật thể, chỉ cógiả danh. Đó là triết lý “Tánh không duy danh”, thể tánh các pháp làkhông thật, chỉ có giả danh, vì giả danh nên nó không phải thật có, cũng khôngphải thật không; không kẹt hai bên, đó là tinh thần trung đạo của đạo Phật.Trái lại nếu kẹt một bên nào hoặc có, hoặc không đều là chưa giải thoát. Nhưvậy Kim Cang là trung đạo, chớ không phải chấp không. Hiểu lý Kim Cang là hiểulý trung đạo, không kẹt vào có và không. Thế nên đúng ra chúng ta tu thìtrước phải dùng trí tuệ thấy các pháp tự tánh là không, duyên hợp giả có, kế đómới hàng phục tâm rồi sau mới an trụ tâm. Thứ tự là như thế, nếu chúng ta khôngứng dụng thì không thế nào có kết quả. Nhiều khi học một bộ kinh rồi muốn ứngdụng tu, ta không biết ứng dụng thế nào, không biết chỗ nào là then chốt của sựtu hành. Nay chúng ta phải thấy rõ đầu tiên là ta dùng bốn câu kệ cuối: Quántất cả pháp hữu vi như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ, như điện, hằng quán nhưthế là chúng ta đã có trí tuệ Bát-nhã rồi mới không chấp tướng. Khôngchấp tướng rồi mới hàng phục tâm, hàng phục tâm rồi mới an trụ tâm, như thế mớinhư như bất động và như như bất động là thọ trì kinh Kim Cang, là đọc tụng kinhKim Cang, là diễn nói kinh Kim Cang. Được như vậy thì phước đức như thế nào? Ởđây tôi nói phước đức sau cùng phải không?

Tôinhắc lại đứng về không gian, người đem của báu bằng tam thiên đại thiên thếgiới bố thí cũng không bằng trì bốn câu kinh Kim Cang. Đứng về thời gian, dùđem của báu bằng quả địa cầu bố thí trong muôn ngàn kiếp cũng không bằng trìbốn câu kinh Kim Cang. Ngay nơi thân mạng, giả sử buổi sáng đem số thân bằng sốcát sông Hằng, buổi trưa đem số thân bằng số cát sông Hằng, buổi chiều đem số thânbằng số cát sông Hằng bố thí cũng không bằng trì bốn câu kinh Kim Cang. Nói tómlại là bố thí nội tài, ngoại tài, dù bao nhiêu đi nữa cũng không bằng ứng dụngtrì kinh Kim Cang. Như thế là đức Phật so sánh tất cả pháp hữu vi không bì đượcvới pháp vô vi bất sanh bất diệt. Không thủ tướng như như bất động, đó là vôvi, còn chấp tướng là hữu vi. Do đó, quí vị thấy từ giai đoạn thứ nhất là hàngphục tâm đến giai đoạn thứ hai là an trụ tâm, giai đoạn thứ ba là quán các pháphuyễn hóa, giai đoạn thứ tư là so sánh công đức trì kinh. Giờ đây chúngta đổi lại, đầu tiên là phải quán tất cả pháp hữu vi là hư giả huyễn hóa, kếđến mới hàng phục tâm, kế là an trụ tâm và sau hết mới nói đến công đức vôlượng vô biên, sánh với tất cả công đức hữu vi không công đức nào bì kịp. Đó làtrọn vẹn tinh thần quyển kinh Kim Cang. Bốn điều này nếu quí vị nhớ ứngdụng tu được mới biết khả năng, diệu dụng, kết quả sau khi mình tu như thế nào.

Tómlại người ứng dụng thọ trì bốn câu kinh Kim Cang là chẳng chấp tướng, như nhưbất động, hay vì người diễn nói cũng đều là chẳng chấp tướng, như như bất động.Đó là chỗ then chốt. Như như bất động là gì? Tức là Như Lai. Thế nên nói chưpháp như nghĩa hay Như Lai giả vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ. Như như bất độngnên mới không từ đâu đến và không đi đâu, chư pháp như nghĩa, đó là như. Quí vịthấy có hệ thống rõ ràng, chúng ta tu bắt đầu từ quán chiếu các tướng duyên hợphư huyễn chỉ có giả danh rồi dần dần hàng phục tâm, rồi an trụ được tâm, kếtquả là Như Lai, không còn nghi ngờ gì cả. Như Lai tức là Phật. Bao nhiêu đó đủtu thành Phật chớ không còn gì khác, thỉ chung rõ ràng như vậy. Nếu hiểu nhưthế thì việc ứng dụng tu có đầu đuôi, gốc ngọn; nếu biết ứng dụng để tu thì đólà xứng đáng học kinh Kim Cang, tu theo kinh Kim Cang và gọi là thọ trìđọc tụng kinh Kim Cang, chớ đừng có nhớ bốn câu kệ rồi nói bốn câu kệ dễ thuộcquá. Đi đâu cũng lẩm nhẩm nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh,như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán và nói tôi trì kinh Kim Cang, hoặcđi đâu cũng đọc nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tàđạo, bất năng kiến Như Lai, hoặc đọc câu phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng,nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai, rồi nói đó là tôi trì kinh KimCang. Nếu cứ đọc như thế mãi, đó là động chớ chưa phải “Như”, mà động thì chưaphải là chỗ “Như như bất động” như Phật nói ở đây. Đã thế còn tính phẩm nữa thìlà thủ tướng, mà thủ tướng cũng không phải như như. Như vậy quí vị đã hiểu rõtrì kinh Kim Cang là như thế nào rồi phải không?
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn